Bội chi ngân sách nhà nước và thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt nam hiện nay - Pdf 13



LUẬN VĂN:

Bội chi ngân sách nhà nước và thực
trạng bội chi ngân sách nhà nước ở
Việt Nam hiện nay MỞ ĐẦU

Một nhà nước để hoàn thành tốt các nhiệm vụ thì nhà nước đó cần có các công cụ
riêng của mình. Một trong những công cụ đắc lực nhất đó chính là ngân sách nhà nước.


1. Những vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước
1.1. Vai trò của ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
Trong tiến trình lịch sử, vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân ngày
càng quan trọng. Nhà nước đã tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia để thực
hiện các mục tiêu của mình. Từ đó khái niệm Ngân sách Nhà nước (NSNN) đã xuất hiện.
Với tư cách là công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước, NSNN ra đời, tồn tại và phát
triển trên cơ sở hai tiền đề khách quan là tiền đề nhà nước và tiền đề kinh tế hàng hóa -
tiền tệ.
Về khái niệm, Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được Quốc hội quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ở Việt Nam, năm ngân sách trùng với năm dương
lịch bắt đầu từ 1/1 và kết thúc vào 31/12.
Về mặt bản chất Ngân sách nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà
nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài
chính nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước. Các quan hệ kinh tế bao
gồm:
 Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ
 Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các tổ chức tài chính trung gian
 Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các tổ chức xã hội
 Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các hộ gia đình
 Quan hệ kinh tế giữa NSNN và thị trường tài chính
 Quan hệ kinh tế giữa NSNN với hoạt động tài chính đối ngoại
Trong giai đoạn hiện nay, cơ chế quản lý ngân sách rất được Nhà nước quan tâm,
từng bước được đổi mới , khái niệm NSNN được xem là mắt xích quan trọng, giữ vai trò
chủ đạo trong tài chính Nhà nước. Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 và các quy định
không vì mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, trong việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất
toàn xã hội, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, hàng năm
chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp nhất. Chúng ta
có thể nhận thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp cho dân cư có thu nhập thấp, có hoàn
cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội; các loại trợ giúp gián tiếp dưới hình thức trợ giá
cho các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện nước …), các khoản chi phí thực hiện các
chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình chống dịch bệnh, mù chữ …
1.1.2.3. Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực
thị trường)
Trong điều kiện kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu
hàng hóa trên thị trường. Do đó để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung
hoặc cầu hàng hóa trên thị trường. Sự tác động này không chỉ được thực hiện thông qua
thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu ngân sách nhà nước. Bằng
nguồn vốn cấp phát của chi tiêu ngân sách nhà nước hàng năm, các quỹ dự trữ nhà nước
về hàng hóa và tài chính được hình thành. Trong trường hợp thị trường có nhiều biến
động, giá cả lên cao hoặc xuống thấp, nhờ lực lượng dự trữ hàng hóa, vật tư bình ổn giá
cả trên thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và ổn định sản xuất. Chính phủ cũng
có thể sử dụng ngân sách nhà nước nhằm khống chế và đẩy lùi lạm phát một cách có hiệu
quả thông qua việc thực hiện chính sách thắt chặt ngân sách, cắt giảm các khoản chi tiêu,
đồng thời có thể tăng thuế tiêu dùng để hạn chế cầu, mặt khác giảm thuế đầu tư, kích
thích sản xuất phát triển để tăng cung. Ngoài ra, Chính phủ phát hành các công cụ nợ để
vay nhân dân nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước cũng góp phần to lớn trong việc
làm giảm tốc độ lạm phát trong nền kinh tế quốc dân.
1.2. Nội dung hoạt động của ngân sách nhà nước
1.2.1. Thu ngân sách nhà nước
Thu Ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính
những để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của
nhà nước.

 Thu từ bán sản phẩm các đơn vị sự nghiệp. Các đơn vị sự nghiệp có cơ chế tài
chính là dự toán NSNN nên toàn bộ các khoản thu phải nộp vào NSNN
 Các khoản chênh lệch thu – chi cả các đơn vị hoạt động sự nghiệp có thu.
Ngoài ra thu NSNN bao gồm các khoản tiền bán cho thuê tài sản Nhà nước, các khoản
huy động đóng góp, viện trợ, thu kết dư ngân sách và các khoản thu khác theo quy định
của pháp luật.
1.2.2. Chi ngân sách nhà nước
Chi Ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước phân bố và sử dụng các quỹ tiền tệ
đã được tập trung vào ngân sách để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực
hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản
chi đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, các khoản chi thường xuyên bảo đảm quốc phòng,
an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ
và các khoản chi khác.
Chi đầu tư phát triển về :
 Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
 Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính
của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp.
 Chi bổ sung dự trữ nhà nước.
 Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước;
Chi thường xuyên về:
 Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học
nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác.
 Các hoạt động sự nghiệp kinh tế.
 Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
 Hoạt động của các cơ quan nhà nước.
 Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt và hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội.
 Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;

tương ứng với số thu hoặc kinh tế phát triển thịnh vượng làm tăng thu ngân sách ngoài dự
toán và nhà nước có thể chủ động sắp xếp phân bổ thặng dư cho những năm tiếp theo.
NSNN bội chi (thâm hụt): nghĩa là chi NSNN lớn hơn thu NSNN. Trong trường
hợp này, thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi. Nguyên nhân có thể là do nhà nước
không sắp xếp được nhu cầu chi cho phù hợp với khả năng; cơ cấu chi tiêu dùng và đầu tư
không hợp lý gây lãng phí; do tình trạng thất thu ngân sách; nhưng cũng có thể là do nền
kinh tế suy thoái theo chu kỳ hoặc ảnh hưởng bởi thiên tai hay chiến tranh, thu NSNN
giảm sút tương đối so với nhu cầu chi để phục hồi nền kinh tế.
2.3. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Cân đối NSNN phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi NSNN nhằm đạt
được các mục tiêu của chính sách tài khóa. NSNN vừa là công cụ thực hiện chính sách
phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Việc thay đổi trạng thái cân đối thu chi ngân
sách tác động nhất định đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, sự tính toán
thu - chi cân đối NSNN không phản ảnh một cách thụ động các chỉ tiêu kinh tế – xã hội,
mà ngược lại về phần mình, cân đối NSNN có tác động làm thay đổi hoặc điều chỉnh một
cách hợp lý các chỉ tiêu kinh tế xã hội bằng khả năng quản lý các nguồn lực và phân bổ
các nguồn lực có hiệu quả. Như vậy, vấn đề cốt lõi của cân đối NSNN là đánh giá và khai
thác nguồn thu một cách hợp lý; phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả; phần thiếu hụt
sẽ bù đắp bằng vay nợ được đặt trong một chiến lược quản lý nợ công tối ưu.
Về nội dung, cân đối NSNN bao gồm cân đối giữa tổng thu và tổng chi, cân đối
giữa các khoản thu và các khoản chi NSNN, cân đối về phân bổ chuyển giao nguồn lực
giữa các cấp trong hệ thống NSNN, đồng thời phải kiểm soát được tình trạng NSNN để
qua đó thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ở tầm vĩ mô và trong từng
lĩnh vực, địa bàn
Cân đối NSNN mang tính định lượng và tính tiên liệu. Cân đối ngân sách phải
được định lượng cụ thể tổng thu, tổng chi, quy mô so với GPD; chi tiết các khoản mục
thu, chi và phân bổ ngân sách trung ương với ngân sách các cấp địa phương. Cân đối

sách toàn diện bao gồm mức bội chi được xác định cho toàn bộ khu vực công. Đây là
thước đo rộng nhất để xác định mức bội chi.
- Bội chi ngân sách chính phủ
Khác với WB, IMF lại cho rằng để phân biệt chính sách tài khóa với chính sách
tiền tệ, đồng thời làm cơ sở đối chiếu giữa thống kê tài chính tiền tệ với thống kê tài chính
chính phủ thì phạm vi xác định bội chi chỉ nên giới hạn trong khu vực chính phủ. Theo
sổ tay Thống kê Tài chính Chính phủ của IMF, khái niệm chính phủ gồm tất cả các cấp
chính quyền mà không bao gồm hoạt động ngân hàng trung ương, cho dù nó có trực thuộc
chính phủ hay không. Tại mỗi cấp chính quyền, bên cạnh quỹ NSNN còn có các quỹ tài
chính nhà nước ngoài ngân sách và quỹ hoạt động bảo hiểm xã hội. Các quỹ này được trợ
cấp một phần lớn từ NSNN.
Do vậy, bội chi ngân sách chính phủ theo nghĩa rộng là số bội chi của các cấp
chính quyền với các hoạt động với sự hỗ trợ hoặc bao cấp của NSNN CHO tất cả các quỹ
nói trên. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa hẹp, bội chi ngân sách chính phủ chỉ bao gồm bội chi
của các cấp chính quyền liên quan đến hoạt động của quỹ ngân sách nhà nước mà thôi.
- Bội chi ngân sách trung ương
Một số quốc gia khi tính bội chi NSNN chỉ tính bội chi liên quan đến hoạt động
NSNN do chính quyền trung ương trực tiếp thực hiện. Đi đôi với quan điểm này là việc
không cho phép ngân sách địa phương bội chi. Cách xác định phạm vi tính bội chi ngân
sách hẹp như vậy là nhằm thiết lập kỷ luật tài chính tổng thể trong điều kiện năng lực
quản lý có nhiều hạn chế. Luật Ngân sách nhà nước Việt Nam năm 2002 hiểu theo nghĩa
này (xem khoản 3 điều 8 Luật NSNN 2002).
(2) Xác định các khoản thu, chi trong cân đối ngân sách nhà nước
- Trên thực tế, tùy thuộc vào mục đích chính trị, mục tiêu của chính sách tài
khóa… mỗi nền kinh tế sẽ có những quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Chẳng hạn, khoản vay nợ qua phát hành trái phiếu và viện trợ (nếu có) có nên ghi
vào cân đối NSNN hay không thì câu trả lời đôi khi là khác nhau giữa các quốc gia. Nhật

nhau thì tác động hoàn toàn khác nhau.
IMF khuyến cáo rằng khi phân tích ngân sách để lập dự toán thì chỉ nên coi các
nguồn viện trợ, kể cả viện trợ không hoàn lại, là nguồn bù đắp thâm hụt như các khoản
vay nợ. Vì các khoản viện trợ thường không có kế hoạch chắc chắn, không ổn định, nếu
lập dự toán chi ngân sách có tính đến các khoản viện trợ có thể sẽ phải điều chỉnh chi
NSNN trong quá trình thực hiện, gây những tác động tiêu cực đến hoạt động ngân sách.
Nếu báo cáo được sử dụng cho mục đích đánh giá tính bền vững tài khóa thì bội
chi ngân sách căn bản sẽ thích hợp.
Bội chi ngân sách căn bản = Bội chi ngân sách qui ước – Chi trả lãi
Với các tính này, nếu chính phủ có các quyết định thu – chi làm giảm bội chi ngân sách
căn bản, thì số chi cho hoạt động của chính phủ trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công sẽ
ít đi. Nếu chính phủ mở rộng các nhu cầu tài chính của mình và làm tăng chi trả lãi thì có
nghĩa là chính phủ phải giảm các cơ hội chi thường xuyên không bắt buộc cũng như chi
đầu tư để có thể cải thiện hệ thống giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng
Trong trường hợp muốn so sánh với quốc gia khác trong bối cảnh mức độ lạm phát
của hai quốc gia là khác nhau, hoặc khắc phục tình trạng bội chi bị đánh giá quá cao do
lạm phát (đặc biệt là đối với những nước có mức lạm phát và nợ công cao) thì bội chi
NSNN là bội chi ngân sách nghiệp vụ. Bởi vì, lạm phát sẽ làm giảm giá trị thực số dư nợ
danh nghĩa của khu vực công, khi chính phủ trả lãi tiền vay thì một phần trong đó mang
tính chất hoàn lại tiền gốc đã bị trượt giá theo năm tháng cho chủ thể cho vay. Khi tính
bội chi NSNN nếu phần này không được loại ra thì mức bội chi thực chất đã bị đánh giá
cao hơn mức bội chi thực sự.
Bội chi ngân sách nghiệp vụ = Bội chi ngân sách qui ước – trả lãi do lạm phát =
Bội chi ngân sách căn bản + trả lãi thực
(trả lãi danh nghĩa = trả lãi do lạm phát+ trả lãi thực)
Theo thông lệ quốc tế, thu trong cân đối NSNN bao gồm các khoản thu vào quỹ
NSNN mà khoản thu đó không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp.

 Mục đích chính trị và mục đích sử dụng báo cáo;
 Mục tiêu của chính sách tài khóa;
 Năng lực quản lý của các cấp chính quyền;
 Bối cảnh kinh tế – xã hội.
3.3. Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước
3.3.1. Các nguyên nhân khách quan:
Do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ. Kinh tế suy thoái thì sẽ làm cho nguồn thu
NSNN sút giảm, nhu cầu chi tiêu gia tăng (trợ cấp xã hội, những khoản chi để phục hồi
nền kinh tế), kết quả NSNN có thể bị bội chi.
Thiên tai, tình hình bất ổn của an ninh thế giới. Tình hình bất ổn của an ninh thế
giới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng và an
ninh trật tự xã hội, gia tăng nhu cầu chi NSNN để khắc phục hậu quả của thiên tai.
3.3.2. Các nguyên nhân chủ quan:
Do quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý. Quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý
được thể hiện qua việc đánh giá và khai thác nguồn thu chưa tốt; phân bổ và sử dụng
NSNN còn nhiều bất cập, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực tài chính nhà nước; phân cấp
quản lý NSNN chưa khuyến khích địa phương nỗ lực trong khai thác nguồn thu và phân
bổ chi tiêu hiệu quả. Kết quả là thu NSNN không đủ để trang trải nhu cầu chi tiêu.
Do nhà nước chủ động sử dụng bội chi như một công cụ của chính sách tài khóa để
kích cầu, khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế.
Do cách đo lường bội chi.
3.4. Tác động của bội chi ngân sách đến nền kinh tế vĩ mô
3.4.1. Ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế
Xuất phát từ đẳng thức kinh tế xác định tổng sản phẩm quốc nội
GDP = C + I + G + NX
Trong đó GDP là tổng sản phẩm quốc nội, C là tiêu dùng tư nhân, I là tổng đầu tư,
G là chi tiêu chính phủ, NX là xuất khẩu ròng

mức tiềm năng, ảnh hưởng lạm phát là tối thiếu. Tuy nhiên duy trì bội chi kéo dài trong
thời kỳ kinh tế tăng trường phát hành tiền sẽ gây ra lạm phát cao, rất nguy hại.
3.4.3. Nợ quốc gia và những bất ổn trong nền kinh tế
Quy mô nợ công của Chính phủ tùy thuộc vào số nợ vay là để tài trợ cho tiêu dùng
hay đầu tư và hiệu quả của việc đầu tư đó đến đâu. Nếu chính phủ chấp nhận bội chi để
tài trọ cho các dự án có hiệu quả, có khả năng sinh lời trong dài hạn, thì chính lợi tức từ
dự án lại tạo ra và làm tăng nguồn thu trong dài hạn cho ngân sách nhà nước, giúp NSNN
trả được gốc và lãi cho các khoản vay tài trợ bội chi trong quá khứ. Trường hợp bội chi
NSNN được sử dụng cho mục đích tiêu dùng tức thời thì phần lớn ảnh hưởng của nó chỉ
tác động đến tổng cầu trong ngắn hạn (tại thời điểm bội chi xảy ra), và trong dài hạn nó
không tai ra một nguồn thu tiềm năng cho ngân sách mà chính nó làm nặng nề hơn khoản
nợ công trong tương lai.
3.4.4. Thâm hụt cán cân thương mại
Bù đắp bội chi NSNN bằng các tăng vay nợ góp phần làm tăng lãi suât, sẽ ảnh
hưởng bất lợi đến cán cân thanh toán thương mại quốc tế. Lãi suất thị trường của nước
này tăng lên cao so với các đồng tiền các nước khác trên thế giới thì người nước ngoài sẽ
tìm kiếm đồng nội tệ của nước có bội chi để mua các chứng khoán chính phủ và các tài
sản tài chính khác. Dẫn đến tình trạng nhập siêu ở nước có ngân sách bội chi lớn.
7% của Chính phủ. Đây là một cố gắng vượt bậc của Việt Nam trong điều hành kinh tế vĩ
mô theo hướng tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, trong năm 2010, kiềm chế lạm phát sẽ
khó khăn hơn nhiều bởi nhiều yếu tố như sự tăng giá của các mặt hàng nguyên liệu, nhiên
liệu trên thế giới, độ trễ của chính sách tiền tệ nới lỏng trong năm 2009, cùng với đó là
nhu cầu chi tiêu của Chính Phủ và nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh hậu khủng
hoảng. Do đó, lạm phát đã trở thành một trong những mối quan ngại lớn nhất đối với kinh
tế Việt Nam trong năm 2010. Thông điệp đầu năm 2010 của Thủ tướng chính phủ đã
khẳng định mục tiêu ổn định vĩ mô, phát triển bền vững được ưu tiên hàng đầu. Với quyết
sách đó, lạm phát sẽ được kiềm chế ở mức chấp nhận được để đảm bảo tăng trưởng bền
vững. Nhiều khả năng, lạm phát trong năm 2010 sẽ được giữ ở mức dưới 10%.
Thị trường tài chính Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện và phát triển, đã có
đóng góp nhất định trong việc điều tiết cung cầu vốn và cung cấp các phương tiện thanh
toán cho nền kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay thị trường trài chính vẫn còn nhỏ bé, hoạt động
yếu kém, thông tin chưa minh bạch, vẫn chưa tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ
phân thị trường. Điều đó phần nào làm giảm đi tính hiệu quả trong việc thực thi chính
sách tài chính – tiền tệ, hạn chế khả năng giúp Chính phủ có thể linh hoạt trong thực thi
kế hoạch NSNN.
1.2. Về xã hội
GDP đầu người được cải thiện qua các năm: 639 USD/người năm 2005, 724
USD/người năm 2006, 835 USD/người năm 2007 và đến năm 2009 ước tính đạt 1066
USD/người. Mặc dù những con số trên còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực,
song đã cho thấy quá trình chuyển biến tích cực trong việc gia tăng thu nhập của người
dân. Bên cạnh đó, số hộ giàu tăng lên đồng thời tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm xuống đáng kể.
Việt Nam được quốc tế đánh giá cao thành công trong việc xóa đói giảm nghèo. Nhiều
chương trình, chính sách đầu tư phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội từ NSNN được
thực hiện hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống vật chất của nhân dân.
Tuy nhiên, với quy mô dân số hiện tại, trong những năm tới, dân số Việt Nam mỗi
năm tăng khoảng hơn 1 triệu người, đòi hỏi Nhà nước cần quan tâm giải quyết những vấn

nghiệp nhà nước bằng 106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể
dầu thô) bằng 88,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng
95,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng 87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí, lệ phí
bằng 90,8%.
Công tác thu ngân sách trong những năm gần đây:

Biểu đồ 3

Tính ra, trong giai đoạn 2005-2009, tổng số thu NSNN tăng khá về con số tuyệt
đối, tốc độ tăng trung bình là 14,15% mỗi năm.
Tỷ lệ động viên GDP vào NSNN khá ổn định qua các năm, trung bình đạt 28,64%
GDP trong giai đoạn 2005 - 2008:

Biểu đồ 4
Tốc độ tăng thu nội địa tăng qua các năm với tốc độ khá lớn, trong giai đoạn 2004-
2007 trung bình đạt 23,66% thể hiện thu NSNN ngày càng tận dụng hơn nữa sức mạnh
nội tại của nền kinh tế.

Biểu đồ 5
2.1.2. Những bất cập trong khai thác nguồn thu
Trốn thuế và lậu thuế đang là vấn đề nan giải hiện nay ở Việt Nam. Bên cạnh đó,
thất thu thuế còn do có nhiều khoản thu chưa được khai thác tương ứng với tiềm năng.
tổng chi NSNN hàng năm tăng khoảng 22% , một mức tăng khá cao, đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc cơ cấu lại các khoản chi để có thể phân bổ hợp lý hơn giữa các loại
hình chi tiêu, giữa các ngành, các lĩnh vực. So sánh với mức gia tăng nguồn thu nội địa
23,66% trong giai đoạn 2004-2007, thì tốc độ gia tăng của chi NSNN hàng năm vẫn nhỏ
hơn. Như vậy, nguồn lực trong nước đã được tận dụng tốt hơn, thể hiện chất lượng công
tác điều hành NSNN ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây, chi NSNN tăng với tốc độ cao (năm 2006: 17,27%; năm 2007: 23,61%, năm 2008:
24,55%)

Chi NSNN qua các năm (đơn vị: nghìn tỷ)

2004

2005

2006

2007

ƯTH
2008
DT
2009
DT
2010
Chi NSNN

214176

262697

Bảng 1

Quy mô chi ngân sách của Việt Nam hiện nay vào hơn 30% GDP và gần gấp đôi
so với con số tương ứng của Thái Lan, Singapore và Philippines. Đây thực sự là một
thách thức lớn đối với cân bằng ngân sách trong những năm tới đối với Việt Nam. Chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên của NSNN

2005

2006

2007

ƯTH 2008

BQ

% T
ốc
đ
ộ t
ăng chi TX

22,55



53,77

57,06

53,44

% Chi ĐTPT/T
ổng chi

30,15

28,68

2
8,08

25,60

28,13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status