Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 1 MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 2
Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔ HÌNH CAMELS 3
1. Mô hình CAMELS là gì?: 3
2. Nội dung mô hình CAMELS: 4
2.1. Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy): 4
2.2. Chất lượng tài sản có (Asset Quality): 6
2.3 Quản lý (Management): 9
2.4 Lợi nhuận (Earnings): 12
2.5. Thanh khoản (Liquidity): 13
2.6. Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to Market Risk): 16
3. Những ưu, nhược điểm của mô hình CAMELS: 17
Chương II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH CAMELS TẠI HỆ THỐNG
CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY 19
1. Thực trạng áp dụng mô hình CAMELS tại hệ thống các NHTM Việt Nam
hiện nay: 19
1.2. Mức độ an toàn vốn: 19
1.2. Chất lượng tài sản có: 21
1.3. Quản Lý (Management): 24
1.4. Lợi nhuận: 25
1.5. Thanh khoản: 30
1.6. Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường: 32
2. Đánh giá thực trạng áp dụng mô hình CAMELS tại hệ thống các NHTM Việt
Nam: 33
Mục đích của bài tiểu luận nhằm tìm hiểu cụ thể hơn về nội dung mô hình CAMELS
và đặc biệt là thực trạng áp dụng tại các NHTM Việt Nam hiện nay; qua đó, đưa ra những đề
xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng mô hình cho các NHTM Việt Nam trong môi trường
kinh tế đầy biến động.
Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận này do thời gian và nguồn tư liệu không nhiều
nên chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế. Chúng em rất mong nhận được những góp
ý của cô giáo để bài tiểu luận hoàn thiện hơn!
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 3
Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔ HÌNH CAMELS
1. Mô hình CAMELS là gì?:
Mô hình CAMELS là mô hình đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài
chính với 6 tiêu chí là: C = Capital (Vốn); A = Asset Quality (Chất lượng tài sản có); M =
Management (Quản lý); E = Earnings (Lợi nhuận); L = Liquidity (Thanh khoản); S =
Sensitivity to Market Risk (Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường).
Mô hình này dựa trên báo cáo tài chính, nghĩa là thông qua thanh tra tại chỗ để đánh
giá xếp hạng theo bậc từ 1 (tốt nhất) tới 5 (kém nhất) và được tổng hợp lại để đưa ra xếp
hạng cuối cùng.
Trang 4 Kết quả phân loại không được công bố cho công chúng biết mà chỉ phục vụ riêng cho
các cơ quan quản lý, giám sát tổ chức tài chính nhằm đánh giá tình trạng yếu kém và đưa ra
biện pháp phòng ngừa phá sản.
2. Nội dung mô hình CAMELS:
2.1. Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy):
Trên thị trường tài chính luôn tồn tại nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ
chức tín dụng nói chung cũng như các ngân hàng nói riêng, có thể kể đến rủi ro tín dụng, rủi
ro tỉ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động hay rủi ro đạo đức. Chính vì vậy, các ngân hang cần
phải đánh giá một cách đúng đắn về các rủi ro mà họ đang phải đối mặt, cũng như duy trì
một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động của mình như: Bù đắp những tổn thất
không mong đợi; Đảm bảo sự an toàn cho người gửi tiền cũng như các chủ nợ; Đảm bảo
tuân thủ những quy định của cơ quan quản lý đặt ra nhằm bảo vệ người gửi tiền cũng như
ổn định toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự có
để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro
cao hơn.
Mức độ an toàn vốn được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR – Capital Adequacy Ratio):
Tỷ lệ an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng phản án năng lực tài chính của các ngân
hàng. Chỉ tiêu này được dùng để xác định khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các
khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành.
Hay nói cách khác khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là ngân hàng đã tự tạo ra một
tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi
tiền.
Công thức tính:
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 6 Trái phiếu /chứng khoán chính phủ là một trong những khoản đầu tư có tính thanh
khoản và an toàn nhất. Tỷ lệ này đánh giá trái phiếu/ chứng khoán chính phủ trên tổng tài
sản
2.2. Chất lượng tài sản có (Asset Quality):
Chất lượng tài sản của NHTM là 1 chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài
chính, năng lực quản lý của một tổ chức tín dụng. Hầu hết rủi ro trong kinh doanh tiền tệ
đều tập trung ở tài sản có. Chất lượng tài sản có là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ đổ
vỡ ngân hàng. Nếu thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém thì sẽ tạo áp lực lên trạng thái
nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng, và điều này có thể dẫn đến khủng hoảng thanh khoản,
hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng. Vì vậy cùng với việc đảm bảo có đủ
vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho ngân hàng
hoạt động an toàn.
Tài sản có bao gồm:
Dự trữ (Reserves):
Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải bảo đảm an
toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng. Muốn có được sự tin cậy về phía khách
hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách
hàng. Muốn vậy các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để sẵn
sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ. Ngân hàng TW được
phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiền gởi
dự trữ bắt buộc do chính phủ qui định. Dự trữ bao gồm:
+ Dự trữ sơ cấp (Primary Reserves): bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng TW, tại
các ngân hàng khác
dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện
vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ ngoài ra còn các khoản phải thu, các khoản khác…
Tài sản có của ngân hàng bao gồm các tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời, trong
đó tài sản sinh lời luôn chiếm phần chủ yếu. Tài sản có sinh lời là những tài sản đem lại
nguồn thu nhập chính cho ngân hàng đồng thời cũng là những tài sản chứa đựng nhiều rủi
ro. Những tài sản này bao gồm cấp tín dụng và đầu tư trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 8 các khoản cho vay. Nói đến chất lượng tài sản là nói đến chất lượng tài sản có sinh lời, mà
trước hết được phản ánh ở chất lượng của hoạt động tín dụng. Nếu một ngân hàng có chất
lượng hoạt động tín dụng cao, thể hiện qua việc thu nợ gốc và lãi đúng hạn, bảo toàn được
vốn cho vay, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, vòng quay vốn tín dụng nhanh, thì ngân hàng đó được
đánh giá về cơ bản là hoạt động an toàn và hiệu quả.
Thông thường, chất lượng tín dụng của ngân hàng được đánh giá qua các chỉ số: Tỷ lệ
giữa nợ quá hạn so với tổng dư nợ; tỷ lệ giữa tổn thất nợ ròng so với tổng dư nợ; tỷ lệ giữa
dự phòng phải thu khó đòi so với tổng số nợ tổn thất ròng và so với tổng dư nợ. Tỷ lệ và
tính chất nợ quá hạn, nợ khê đọng, mức độ tổn thất trong cho vay cũng như mức trích lập dự
phòng về tổn thất cho vay là chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng. Một ngân
hàng có mức độ tín dụng xấu, tỷ lệ nợ khê đọng cao sẽ gây ra những tổn thất về tài sản,
giảm khả năng sinh lời, trong khi mức dự phòng trích lập không đủ sẽ dẫn đến giảm sút vốn
tự có và cuối cùng sẽ mất khả năng thanh toán.
Bên cạnh chất lượng hoạt động tín dụng, chất lượng tài sản của ngân hàng còn thể hiện
ở các tài sản có khác như danh mục đầu tư chứng khoán, tài sản bằng ngoại tệ, vàng bạc, đá
quý. Chất lượng những tài sản này thường thể hiện ở cơ cấu và trạng thái ngoại hối, chất
lượng và trạng thái của danh mục đầu tư. Những khoản mục này cũng có ảnh hưởng rất lớn
đến khả năng sinh lời và tính thanh khoản của một ngân hàng. Do đó, để đánh giá chất
Hoạt động quản lý cần giải quyết các rủi ro: tín dụng, tỉ lệ lãi suất, thanh khoản, giao
dịch, tuân thủ, uy tín, chiến lược và một số rủi ro khác tùy thuộc vào tính chất và phạm vi
của các ngân hàng. Khả năng và hiệu quả của ban lãnh đạo được đánh giá dựa trên đánh giá
các yếu tố thẩm định sau:
Quản trị doanh nghiệp: Ban lãnh đạo có trách nhiệm ủy thác các thành viên duy trì
các tiêu chuẩn về hành vi chuyên nghiệp bao gồm, nhưng không giới hạn:
+ Sự phù hợp của các chính sách đền bù
+ Ngăn chặn xung đột lợi ích
+ Đạo đức và hành vi nghề nghiệp
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 10 Lập kế hoạch chiến lược: lập kế hoạch chiến lược bao gồm một quá trình có hệ
thống để phát triển tầm nhiền dài hạn cho các nghiệp đoàn tín dụng. Một kế hoạch chiến
lược sẽ nhận dạng các rủi ro và các nguy cơ đối với tổ chức và phác thảo các phương thức
để giải quyết chúng.
Trong quá trình lập kế hoạch chiến lược, các nghiệp đoàn tín dụng sẽ phát triển các kế
hoạch kinh doanh cho một hoặc hai năm tiếp theo. Ban lãnh đạo sẽ xem xét và phê duyệt kế
hoạch kinh doanh, bao gồm ngân sách, trong bối cảnh nhất quán của nó với kế hoạch chiến
lược của nghiệp đoàn tín dụng.Kế hoạch kinh doanh được đánh giá với kế hoạch chiến lược
để xác định xem chúng có nhất quán với nhau hay không. Ban lãnh đạo cũng đánh giá làm
thế nào kế hoạch được hiệu quả.Các kế hoạch là duy nhất với nghiệp đoàn tín dụng cụ thể.
Kiểm soát nội bộ: kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các
nguy cơ của nghiệp đoàn tín dụng. Kiểm soát nội bộ hiệu quả cung cấp các biện pháp bảo
vệ chống lại các trục trặc hệ thống. Nếu không có các kiểm soát nội bộ thích hợp, việc quản
lý sẽ không có khả năng nhận dạng và xác định các lỗ hổng dẫn tới rủi ro. Các kiểm soát
cũng cần thiết để đảm bảo các đơn vị hoạt động đang vận hành trong các thông số được thiết
+ Sự phù hợp với pháp luật và quy định
+ Sự thích hợp của các sản phẩm và dịch vụ được đưa ra liên quan tới cỡ và kịnh
nghiệm quản lý của ngân hàng.
Xếp hạng:
+ Xếp hạng 1: biểu thị hoạt động quản lý bền vững của ban lãnh đạo và thực tiễn quản
lý rủi ro phù hớp với cỡ, tính phức tạp của ngân hàng. Tất cả các rủi ro quan trọng được
nhận dạng, đo lường, giám sát và kiểm soát một cách hiệu quả và nhất quán. Giải quyết
thành công các nguy cơ tồn tại và các vấn đề tiềm tàng.
+ Xếp hạng 2: biểu thị quản lý đạt yêu cầu với cỡ và độ phức tạp của ngân hàng. Một
cách chung nhất, các rủi ro quan trọng được nhận dạng, đo lường, giám sát và điều khiển
một cách hiệu quả. Hầu hết các nguy cơ được giải quyết. Có thể tồn tại một số điểm yếu
nhưng không đang kể.
+ Xếp hạng 3: biểu thị thực hiện quản lý và quản trị cần được cải thiện hoặc các giải
pháp quản lý rủi ro chưa thỏa mãn tính chất các hoạt động của ngân hàng. Các vấn đề và rủi
ro nghiêm trọng có thể được nhận dạng, đo lường, giám sát và kiểm soát không đầy đủ.
+ Xếp hạng 4: biểu thị khiếm khuyết quản lý và giải pháp quản lý rủi ro chưa được
xem xét đầy đủ. Các vấn đề và rủi ro nghiêm trọng có thể được nhận dạng, đo lường, giám
sát và kiểm soát chưa đầy đủ, yêu cầu các nhà quản lý có hoạt động lập tức để giảm thiểu
nguy cơ. Thay thế ban lãnh đạo là cần thiết.
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 12 + Xếp hạng 5: biểu thị quản lý kém hiệu quả nghiêm trọng. Các rủi ro đang đe dọa
khả năng tồn tại tiếp tục của tổ chức. Thay thể ban quản lý là cần thiết.
2.4 Lợi nhuận (Earnings):
Khả năng sinh lời chính là chỉ tiêu quan trọng nhất khi đánh giá hoạt động của một
ngân hàng, bởi tối đa hóa lợi nhuận là mục đích sống còn và luôn là mục đích cao nhất của
+ Chất lượng và cơ cấu của tài sản.
+ Khả năng cung cấp vốn tương ứng với rủi ro hiện tại và tương lai thông qua lợi
nhuận được giữ lại.
+ Các yếu tố khác có khả năng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tổ chức tín dụng
như tài sản cố định và các loại bất động sản khác.
Các loại xếp hạng đối với khả năng sinh lời:
+ Xếp hạng 1: Ngân hàng có khả năng sinh lời bền vững trong dài hạn dưới nhiều
hoàn cảnh kinh tế khác nhau.
+ Xếp hạng 2: Khả năng sinh lời đạt yêu cầu. Ngân hàng có các biện pháp duy trì lợi
nhuận hiểu quả để đạt được các mức mốn và trợ cấp cần thiết sau khi xem xét tới các yếu tố
chất lượng tài sản, tăng trưởng và rủi ro đã cho.
+ Xếp hạng 3: Khả năng sinh lời cần được cải thiện. Lợi nhuận có thể không hỗ trợ
đầy đủ vốn, kinh phí và các trợ cấp tương ứng với các tác nhân điều kiện, sự phát triển và
rủi ro của ngân hàng.
+ Xếp hạng 4: Khả năng sinh lời thấp.
+ Xếp hạng 5: Các biện pháp đảm bảo lợi nhuận tỏ ra kém hiệu quả nghiêm trọng và
có biểu hiện đe dọa rõ rệt đến khả năng tồn tại của ngân hàng.
2.5. Thanh khoản (Liquidity):
Bên cạnh khả năng sinh lời, hiệu quả quản lý thanh khoản cũng là một yếu tố quan
trọng trong việc đánh giá hoạt động của một tổ chức tín dụng. Tính thanh khoản được xem
như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã
cam kết. Ngân hàng cần dự trữ thanh khoản để chi trả những chi phí thường xuyên như lãi
tiền gửi, và những cú sốc thanh khoản không như mong đợi như một cuộc rút tiền hàng loạt
hay yêu cầu vay vốn lớn. Mặc dù khả năng dự trữ thanh khoản kém chưa hẳn sẽ dẫn đến sự
sụp đổ của môt ngân hàng, nhưng chắn chắc ngân hàng phải bỏ ra một khoản chi phí lớn để
ứng phó với những cú sốc về thanh khoản. Điều đó làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm
đáng kể và co thể dẫn đến khả năng sụp đổ hoàn toàn.
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay
và phá sản khi nhu cầu thanh khoản tăng cao đột biến.
+ Chính sách tiền tệ của NHTW: Việc thực thi chính sách tiền về của NHTW cũng
gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến thanh khoản của một NHTM. Khi NHTW công bố tỷ lệ dự
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 15 trữ bắt buộc cao hoặc một mức lãi suất tái chiết khấu thấp, NHTM sẽ có được một nguồn
cung tiền lớn hơn từ khoản dự trữ bắt buộc đó cũng như chi phí rẻ hơn khi tái chiết khấu các
chứng từ có giá nhằm đảm bảo thanh khoản. Ngược lại, với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp hoặc
lãi suất tài chiết khấu cao, ngân hàng dễ lâm vào tình trạng thiếu hụt tiền mặt do cung cấp
tín dụng quá nhiều cũng như khó tiếp cận nguồn tiền từ việc tái chiết khấu chứng từ có giá.
+ Biến động lãi suất: Lãi suất là một trong những yếu tố chính gây ảnh hưởng đến
cung và cầu tiền trên thị trường. Khi lãi suất trên thị trường biến đổi, khách hàng có xu
hướng rút tiền ở những NHTM có lãi suất thấp và đêm gửi vào những NHTM có lãi suất
huy động cao hơn. Trong khi đó, doanh nghiệp có nhu cầu đi vay sẽ tìm đến những ngân
hàng có lãi suất cho vay thấp hơn và tìm cách trì hoãn những khoản vay có lãi suất cao. Như
vậy, biến động lãi suât có thể ảnh hưởng tới cả dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh
nghiệp.
+ Chu kỳ kinh tế: Ngoài những nguyên nhân trên, chu kỳ kinh tế cũng là một yếu tố
cần được xem xét. Trên góc độ vi mô kỳ kinh doanh của doanh nghiệp thường được tập
trung vào những tháng cuối năm do lúc này doanh nghiệp phát sinh nhu cầu nguồn tiền lớn
để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán công nợ cho những doanh nghiệp khác, chi
trả lương thưởng cho cán bộ nhân biên, thực hiện cam kết giải ngân cho đối tác, thanh toán
các khoản nghĩa vụ như thuế, phí,… Bên cạnh đó cuối năm cũng là thời điểm nhu cầu tiêu
dùng của các hộ gia đình tăng cao khiến cho nhu cầu tiền mặt tăng đột biến. Xét trên góc độ
vĩ mô, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô ổn định, nguồn tiền của
ngân hàng sẽ được đảm bảo. Tuy nhiên khi nền kinh tế đi vào khủng hoảng, lạm phát tăng
động của hệ thống ngân hàng chính là rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá.
Rủi ro lãi suất:
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc
của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu
nhập của ngân hàng.
Rủi ro lãi suất xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản
nợ. Do các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và
cho vay: Ngân hàng thường huy động vốn với lãi suất cố định nhưng cho vay, đầu tư với lãi
suất biến đổi. Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi
thu được, làm giảm lợi nhuận. Ngược lại, khi ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 17 nhưng cho vay, đầu tư với lãi suất cố định. Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì
chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được. Sự không phù hợp về khối lượng, thời hạn giữa
nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay còn dẫn đến tình trạng
nguồn vốn được huy động với chi phí cao lại được đầu tư cho dự án thu lợi nhuận thấp còn
nguồn vốn được huy động với chi phí rẻ lại được sử dụng cho dự án thu lợi lớn. Ngoài ra,
khi lãi suất thị trường thay đổi, ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản.
Khi rủi ro lãi suất xuất hiện sẽ làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng, giảm thu
nhập từ tài sản của ngân hàng, làm giảm giá trị thị trường của TSC và vốn chủ sở hữu của
ngân hàng.
Rủi ro tỷ giá:
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá hối đoái lên hoạt động của hệ
thống ngân hàng. Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của ngân
hàng cũng như của doanh nghiệp, tuy nhiên nhìn chung bất cứ hoạt động nào mà dòng tiền
vào và dòng tiền ra được thể hiện bởi nhiều loại tiền tệ khác nhau thì đều phải chịu rủi ro tỷ
Nhược điểm:
Nhược điểm lớn nhất của mô hình CAMELS là nặng về thống kê số liệu và việc phân
tích phần lớn dựa vào các yếu tố định lượng ngay cả yếu tố M ( năng lực quản lý) cũng
được định lượng hóa khi phân tích. Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động như hiện
nay thì rủi ro đối với ngành ngân hàng là tất yếu và do vậy nếu quản trị ngân hàng mà dựa
hoàn toàn vào các phân tích mang tính định lượng thì sẽ không mang lại kết quả như mong
muốn thậm chí có thể làm sai lệch những đánh giá chân thực vào từng thời điểm.
Hơn nữa việc chỉ sử dụng các chỉ tiêu tài chính dựa trên phân tích BCTC của mô
hình để đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng có thể gặp một số rắc rối do sự khác
nhau, thủ thuật trong việc lựa chon chế độ kế toán, từ đó dẫn đến việc đánh giá không chính
xác, không phản ánh đúng bản chất thực tế, cái mà có thể ngân hàng đang cố tình che đậy.
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 19 Chương II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH CAMELS TẠI HỆ THỐNG
CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Thực trạng áp dụng mô hình CAMELS tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay:
1.2. Mức độ an toàn vốn:
Thông tư 13/2010/TT-NHNN và các điểm sửa đổi được ban hành trong Thông tư
19/2010/TT-NHNN năm 2010 của Thống đốc NHNN đã quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, trong đó tập trung về việc nâng tỷ lệ an toàn vốn
tối thiều và tỷ lệ dư nợ trên tổng huy động. Nhằm đảm bảo một nguồn vốn chất lượng tốt
hơn để chống đỡ lại các cú sốc tài chính trong tương lai, đồng thời nhằm phù hợp với tình
hình thực tế hiện nay nhiều NHTM hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con và
nhằm tiến thêm một bước trong việc tuân thủ 25 nguyên tắc thanh tra cơ bản của Uỷ ban
Basel, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) được nâng lên mức 9% từ mức cũ 8% (quy định tại
quyết định 457/2005/QĐ-NHNN). Các ngân hàng có thể tăng tỷ lệ CAR bằng cách tăng vốn
Bảng 3: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (thời điểm 31/12/2013) của một số ngân hàng
STT
Ngân hàng 2013
1 Vietcombank 13,13%
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 21 2 Vietinbank 13,17%
3 BIDV 10,23%
4 MBBank 11,00%
5 Sacombank 10,02%
6 ACB 14,70%
7 Techcombank 14,03%
8 VPBank 12,50%
9 VIBank 18,00%
10 MaritimeBank 10,56%
nhiên, lợi nhuận của các ngân hàng đã sụt giảm đáng kể. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu (ROE) trung bình đã giảm từ 15% năm 2009 xuống 5% vào năm 2013. Đây là kết quả
tất yếu của việc tăng trưởng tín dụng thấp, ứ đọng vốn, chi phí trích lập dự phòng cao, giảm
chênh lệch lãi suất cho vay và huy động. Xu hướng này được dự đoán sẽ còn tiếp diễn, ít
nhất là trong năm 2014.
NHNN đã ban hành Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN vào tháng 04/2005, quy định
phương pháp đánh giá rủi ro tín dụng. Điều 6 của Quyết định này (phương pháp định
lượng), nhất quán với các nguyên tắc của Basel I, đã hướng dẫn các ngân hàng phân loại các
khoản nợ thành năm nhóm, từ Thông thường đến Có khả năng mất vốn, dựa trên các chỉ tiêu
đánh giá định lượng như số ngày quá hạn hoặc có hay không việc gia hạn nợ. Theo điều 7
(phương pháp định tính), phù hợp với hiệp ước Basel II, rủi ro tín dụng cần được đánh giá
dựa trên tình hình tài chính của từng khách hàng. Việc phân loại nợ theo điều 7 dường như
chặt chẽ hơn điều 6, tuy nhiên việc áp dụng điều 7 vẫn chưa là bắt buộc đối với các ngân
hàng. Mặc dù tuân theo phương pháp chặt chẽ hơn, những ngân hàng này vẫn có cách để
che giấu mức độ nợ xấu thực sự. Theo một nghiên cứu của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc
gia, một phần lớn các khoản cho vay cần chú ý (nợ nhóm 2) thực chất là nợ xấu. Nếu phân
loại lại các khoản cho vay cần chú ý này thành nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng
sẽ còn cao hơn rất nhiều.
Bảng 4: Tỷ lệ nợ xấu và nợ nhóm 2 (thời điểm 30/06/2013) của một số ngân hàng
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 23
Nguồn: Báo cáo tài chính của các ngân hàng, VPBS tổng hợp.
Bảng 5: Tình hình nợ xấu của hệ thống ngân hàng từ 2009 đến 2013
Nguồn: Báo cáo tổng quan thị trường tài chính của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
thống có thể vận hành trơn tru, các thành viên trong ban quản trị đều là những người có kinh
nghiệm, kiến thức và khả năng trong ngành. Vì vậy bộ máy quản trị là tương đối tốt.
Mặc dù vậy những năm gần đây các ngân hàng ở Việt Nam có tình trạng sở hữu chéo.
Sở hữu chéo tạo điều kiện cho các ngân hàng cho vay thiếu thận trọng, đầu tư vốn vào
Mô hình CAMELS và thực trạng áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Trang 25 những dự án rủi ro và thiếu minh bạch mà chủ sở hữu của những dự án này chính là cổ đông
lớn của ngân hàng và các tổ chức sân sau của họ. Thêm vào đó, có một số cổ đông lớn đã
vay tiền từ ngân hàng để mua cổ phần của chính ngân hàng đó. Nói cách khác, những cổ
đông này đã dùng đòn bẩy tài chính để góp vốn ảo, che dấu mức vốn thực, phóng đại các
chỉ tiêu an toàn vốn của ngân hàng. Chính vì vậy có tình trạng quản lý mập mờ, đây là một
trong những nhược điểm quan trọng của hệ thống NHTM Việt Nam.
Phát triển nguồn lực:
NHNN đã xây dựng và triển khai Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn
2011-2015. Trong quá trình thực hiện các ngân hàng không chỉ tái cơ cấu về vốn mà nhân
sự trong ngành ngân hàng cũng có sự xáo trộn lớn. Song nếu nhìn từ góc độ khoa học thì
đây là động thái cần thiết để sàng lọc lại đội ngũ nhân sự ngành ngân hàng vốn được tuyển
dụng quá nhiều tại thời điểm “ra ngõ gặp ngân hàng” cách đây 6-7 năm. Hơn nữa, môi
trường kinh doanh càng khó khăn thì những yêu cầu, đòi hỏi đối với đội ngũ nhân sự sẽ
càng cao hơn, không chỉ về trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà cả về kỹ năng và đạo đức
nghề nghiệp, và chỉ qua sàng lọc, ngành ngân hàng sẽ có được đội ngũ lao động tinh hơn để
có thể phát triển một cách bền vững
Kiểm soát nội bộ:
Mặc dù các NHTM Việt Nam đều có ban kiểm soát, kiểm soát hoạt động minh bạch
của quản lý và nhân viên của ngân hàng. Qua thực tiễn về những rủi ro, tổn thất mà các
NHTM gặp phải trong những năm gần đây cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân