BẢN QUYỀN
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
LỚP TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 45 C
www.TCDN45C.net.tf
www.TCDN45C.vze.com
[email protected]
[email protected]
Tài liệu chỉ được sử dụng vì mục đích nghiên cứu khoa học.
Nghiêm cấm sử dụng với mục đích thương mại.
Xin liên hệ trực tiếp tác giả để biết thêm chi tiết.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở
các NHTM Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thị Thanh Tú
Sinh viên thực hiện : Phạm Quang Hải
Lớp : Tài Chính Doanh Nghiệp 45C
Hà Nội - 2006
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1.................................................................................................................................................. 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN.....................................................................................................................................4
1. Khái quát chung về nguồn tiền gửi trong NHTM............................................................................ 4
1.1. Khái niệm và đặc điểm tiền gửi trong các NHTM................................................................... 4
1.2. Vai trò của tiền gửi trong NHTM.............................................................................................8
2. Phân loại tiền gửi trong các NHTM................................................................................................. 9
2.1. Tiền gửi không kỳ hạn..............................................................................................................9
2.2. Tiền gửi có kỳ hạn..................................................................................................................13
ở nước ta, thị trường tài chính chưa phải là kênh phân bổ vốn một cách có
hiệu quả, do đó vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh
tế vẫn phải dựa vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng. Với vai
trò là một trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế, các Ngân
hàng thương mại (NHTM) đã trở thành kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho
nền kinh tế. Sự thịnh vượng và phát triển của một NHTM căn cứ vào đâu?
Cũng như để hoàn thành tốt vai trò là cầu nối, là “người” cung cấp vốn cho
các doanh nghiệp, cho nền kinh tế, các NHTM phải dựa trên cơ sở nào.
Câu trả lời đó chính là Tiền gửi. Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho
vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của
Ngân hàng (NH).
Xuất phát từ vai trò quan trọng của Tiền gửi đối với mỗi NH nói riêng,
cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, nên em chọn đề tài “Lý
luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM Việt Nam” để có điều kiện
củng cố lại những kiến thức đã học và tiếp xúc với thực tế để biết thêm về
hoạt động của các NHTM hiện nay.
Trên cơ sở kiến thức đã học ở trường, các tài liệu tham khảo, một số
kiến thức có được từ thực tế và qua sách báo em đã thực hiện đề án này.
Kết cấu của đề án gồm hai phần chính:
SVTH: Phạm Quang Hải
2
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
Chương 1: Cơ sở lý luận về tiên gửi và quản lý nguồn tiền gửi
Chương 2: Liên hệ thực tiễn hoạt động huy động và quản lý tiền gửi tại
các NHTM Việt Nam.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của NH là rất đa dạng và
phong phú. Nhưng vì thời gian và khả năng tiếp cận của bản thân có hạn, vì
thế em chưa thể phân tích một cách sâu sắc các hoạt động của NH, nên
phạm vi đề tài của em chỉ tập trung nghiên cứu quá trình huy động và quản
lý tiền gửi của NH. Và cũng do còn thiếu kinh nghiệm nghiên cứu nên đề
SVTH: Phạm Quang Hải
4
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
hàng gửi tiền xin mở tài khoản để hưởng các lợi ích của các phương tiện
mà ngân hàng cung cấp cho họ. Tiền gửi ở đây là số tiền được gửi vào để
sử dụng cho các nghiệp vụ trong tương lai hoặc do các nghiệp vụ phát sinh
từ trước còn lại. (2) Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi suất như
các số tiền gửi vào sổ tiết kiệm hay các tài khoản định kỳ. Khi đó khách
hàng không còn quyền sử dụng các dịch vụ của ngân hàng như dùng séc để
thanh toán chẳng hạn.
+ Đối với Ngân hàng, các loại tiền gửi tạo thành nguồn vốn cung cấp
cho các nghiệp vụ sinh lợi trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Đối với NHTM, có nhiều loại tiền gửi khác nhau, nhưng nó chú trọng
nhiều hơn đến hai nguồn chủ yếu: Tiền gửi của doanh nhân & Tiền gửi của
dân cư.
Qua những điều trình bày ở trên, người ta nhận thấy có khó khăn trong
việc định nghĩa “tiền gửi”. ở các nước phát triển, người ta định nghĩa “tiền
gửi” trong một bản luật: “Được coi là tiền gửi, tiền mà ngân hàng nhận
được của khách hàng bất luận dưới danh từ nào, dù phải trả lãi hay không
trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh của mình và
với bổn phận làm nghiệp vụ ngân quỹ cho người ký gửi, nhất là phải trả
trong giới hạn số tiền nhận được, tất cả những lệnh phải trả tiền của người
tiền gửi bằng séc, lệnh chuyển khoản, thư tín dụng… hay bất cứ bằng cách
nào khác; cũng thâu nhập vào khoản tiền tiền gửi mọi số tiền mà ngân hàng
thu hộ cho người gửi”.
“Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các
hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải
được hoàn trả cho người gửi tiền”
1
thờm tho thun NH cú th s dng chớnh s tin ny u t nhm mc
ớch sinh li, vi iu kin l phi hon tr cho ngi s dng tũan b s
vn ó s dng kốm theo mt khon tin lói nht nh tu thuc vo thi
gian m NH gi khon tin ú. Giao dịch nhận tiền gửi đã đợc nhìn nhận là
hành vi vay tiền từ công chúng với cam kết đảm bảo an toàn cho số tiền gửi
đó cùng với nghĩa vụ hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Vic NH gi cỏc khon tin
gi ny cho khỏch hng khụng n thun l mt nghip v gi h ti sn
SVTH: Phm Quang Hi
6
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
hay quản lý tài sản cho khách hàng để nhận thù lao (như giai đoạn khởi
thuỷ) mà quan trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn - nghiệp vụ đi vay
của NHTM từ nền kinh tế. Do đó khi người gửi tiền yêu cầu thanh toán thì
NH buộc phải thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng.
Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường
chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của
ngân hàng. “Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của
Ngân hàng. Đây là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp
phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi là cơ sở
chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi
nhuận và sự phát triển trong ngân hàng”
2
.
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc nên chi phí tiền gửi cao hơn
trả lãi cho tiền gửi. Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ
bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh
toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Hiện nay, hầu hết các
nhà quản lý ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng
nan trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi - nguồn vốn quan
trọng nhất của ngân hàng. Một mặt, ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ
thuận tiện chi trả, còn được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng
về tài chính có sinh lời. Trong nền kinh tế thị trường, một công dân muốn
tích luỹ vốn trước hết có hai khả năng lựa chọn: hoặc giữ đồng tiền tích luỹ
được của mình trong két sắt, hoặc mua cổ phần (của các công ty cổ phần)
hay mua trái phiếu (của nhà nước và của công ty). Cả hai khả năng này đều
có rủi ro hoặc ít khả năng thanh toán. Do đó, họ phải có cách lựa chọn thứ
ba: gửi tiền vào ngân hàng để vừa gữ được vốn tích lũy của mình tương đối
an toàn, vừa thu được một khoản lợi tức nhất định.
Đối với các NHTM, tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát
triển của Ngân hàng, là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp
phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi là cơ sở
chính cho các khoản cho vay của NHTM, là nguồn gốc xâu xa của lợi
nhuận và sự phát triển của Ngân hàng. Khi huy động tiền gửi, ngân hàng
SVTH: Phạm Quang Hải
8
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
phải duy trì sự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo
khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Khả
năng huy động tiền gửi với mức lãi suất hợp lý còn là những chỉ số quan
trọng đánh giá tính hiệu quả trong quản lý ngân hàng. Ngoài ra Ngân hàng
còn thu được một khoản lệ phí nhất định.
2. Phân loại tiền gửi trong các NHTM.
2.1. Tiền gửi không kỳ hạn.
Là các loại tiền gửi hoàn toàn theo quy tắc khả dụng, nghĩa là người gửi
có quyền rút tiền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Ngân hàng sẽ sắp xếp loại
tiền gửi này vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với
thời gian không xác định. Người vừa mới gửi tiền vào sáng nay, nếu cần
anh ta có thể rút ra ngay vào buổi chiều cùng ngày. Nếu không có nhu cầu
sử dụng, anh ta có thể một thời gian sau mới rút ra. Tính bất định về thời
gian gửi, cùng với địa điểm có thể rút ra bất cư lúc nào đã làm cho loại tiền
khách hàng hàng tháng mặc dù rất thấp. Do đó, đối với ngân hàng nó là
một khoản nợ, khoản nợ này sẽ được trả theo nhu cầu của người gửi.
Xã hội càng phát triển càng có tính đa dạng. Và vì thế, ở các nước phát
triển, sự tồn tại nhiều loại tiền gửi không kỳ hạn để thỏa mãn tất cả những
nhu cầu đa dạng của xã hội, của cá nhân là điều tất nhiên. ở các nước này,
tiền gửi không kỳ hạn bao gồm:
a) Tiền gửi dùng séc (đã được trình bày ở trên) (checking deposits).
b) Tiền gửi rút tiền tự động hay tiền gửi thông dụng (ordinary deposits)
thực hiện qua máy rút tiền (canh dispensers) máy nhận rút và chuyển tiền
tự động (automated teller machine... máy ATM).
c) Tài khoản ATS (automatic transfer service account) tài khoản phối
hợp tài khoản tiết kiệm và tài khoản séc ở Mỹ.
d) Tiền gửi có thông tri (deposits at notice), tiền gửi hẹn rút (deposits at
call) hay tiền gửi có báo trước (dépôts à préavis): là loại tiền gửi không có
SVTH: Phạm Quang Hải
10
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
qui định một kỳ hạn nào, nhưng các bên có thỏa thuận việc thông báo trước
(từ 8 đến 5 ngày). Xuất hiện câu hỏi là việc thông báo trước, có làm biến
mất tính chất khả dụng, nghĩa là làm cho khoản tiền gửi mất tính chất pháp
lý cơ bản của nó chăng ?
- Xét về khía cạnh kinh tế, thông tri báo trước một vài ngày nhằm mục
đích giúp cho ngân hàng có thời gian gom đủ số tiền cần thiết cho việc
thanh toán, thì tiền gửi có báo trước đúng là một loại tiền gửi.
- Xét về phương diện pháp lý, tiền gửi có báo trước không cho phép
khách hàng sử dụng sec để rút tiền trong các tài khoản có báo trước. Do đó
tiền gửi có báo trước phụ thuộc quy tắc cho vay. Những loại tiền gửi có báo
trước thường cũng được trả lãi; nhưng thấp hơn so với các tiền gửi có kỳ
hạn.
Có nhiều ngân hàng đã dung hợp hai lối tiền gửi có kỳ hạn và báo trước.
tiền gửi trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản Super NOW”
3
. Hai
loại tài khoản này trả lãi theo lãi suất trên thị trường tiền tệ và khách hàng
có thể thực hiện thanh toán cho các giao dịch mua hàng hoá và dịch vụ
thông qua việc phát séc hay hối phiếu uỷ quyền trước (preauthorised draft).
MMDA là tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần
hay vài tháng và Ngân hàng có thể trả lãi suất ở mức đủ lớn để thu hút và
nắm giữ tiền gửi của khách hàng. Có tới sáu hối phiếu uỷ quyền trước được
phép thực hiện trong một tháng nhưng số lượng séc phát hành chỉ được
giới hạn là 3 lần. Đối với lệnh rút tiền cá nhân thì không có hạn chế (mặc
dù ngân hàng có quyền đặt mức tối đa cho quy mô tiền rút và cho số lượng
lệnh rút tiền cá nhân). Không như NOW, MMDA có thể được nắm giữ bởi
cả doanh nghiệp và cá nhân.
g) Tài khoản Super NOW (SNOW) ra đời gần như cùng thời gian với
MMDA. nhưng tài khoản này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và các
tổ chức phi lợi nhuận. Không có quy định nào hạn chế số lượng séc người
gửi tiền có thể phát hành. Tuy nhiên, Ngân hàng áp dụng một mức lãi đối
3
Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 461, NXB Tài chính.
SVTH: Phạm Quang Hải
12
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
với SNOW thấp hơn cả với MMDA bởi vì SNOW có thể được phát séc
thường xuyên hơn. Do dó, các nhà quản lý trung ương xếp MMDA vào
nhóm tiền gửi tiết kiệm. Tuy vậy, chúng ta xếp lài khoản loại này vào phần
tài khoản giao dịch vì chúng có đặc quyền phát séc.
đ) Tiền gửi đặc biệt.
Nhằm phát triển tiền gửi, một số ngân hàng áp dụng loại tiền gửi đặc
biệt với các nội dung sau:
trước hạn kỳ, NHTM có một trong ba cách xử lý: 1) Từ chối. Họ đã từng
có quyền làm như vậy trước đây, bởi vì việc gửi tiền của khách hàng là một
hợp đồng cho vay với thời hạn đã thống nhất. Khi khách hàng đòi lại trước
thời hạn, điều đó sẽ gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tuy nhiên, thông thường ngân hàng áp dụng hai cách mềm dẻo hơn, là 2)
yêu cầu khách hàng phải báo trước, ít nhất một khoảng thời gian nào đó về
ý định rút tiền và 3) với những yêu cầu rút tiền đột xuất như vậy, khoản lãi
suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi của khách hàng sẽ rất thấp, do khách
hàng phải chịu lãi suất phạt vì đã lâm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh
của ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay do áp lực của cạnh tranh, ngân
hàng thường cho phép khách hàng rút ra trước hạn với điều kiện hàng lãi
suất tiền gửi không kỳ hạn, hoặc ngân hàng có thể cho vay bằng cách mở
một tài khoản đặc biệt cho việc này trong giới hạn số dư tài khoản tiền gửi
định kỳ của khách hàng.
+ Xuất phát từ loại hình tiền gửi có kỳ hạn, một khái niệm được hình
thành đó là "thời gian đáo hạn" hay "đến hạn (maturity) thanh toán" của các
loại chứng thư tiền gửi. Khi khách hàng gửi tiền vào một ngân hàng tại tài
khoản có kỳ hạn 3 tháng rồi nhận một cuốn passbook (quyển sổ) do ngân
hàng cấp, hoặc dùng tiền, mua một trái phiếu tiết kiệm (savings bong) cũng
của chính ngân hàng đó phát ra với thời hạn thanh toán sau ba tháng. Hai
việc làm này tính chất không khác nhau, ngoại trừ một điểm là trái phiếu
SVTH: Phạm Quang Hải
14
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
không được đổi lại thành tiền mặt nửa chừng như passbook: Vấn đề cơ bản
ở đây là cả hai loại chứng thư này đều có thời hạn thanh toán tiền mặt về
nguyên tắc là đến ngày cuối cùng của tháng thứ ba. Đúng hơn, khách hàng
chỉ có thể và chỉ có quyền (theo hợp đồng) dùng các loại chứng thư nói trên
để đổi trở lại thành tiền mặt vào ngày cuối cùng của tháng thứ ba. Ngày nói
trên là ngày đáo hạn. Khoảng thời gian hay kỳ hạn ba tháng của chứng thư
Tiền gửi có kỳ hạn thường dưới các dạng:
a) các chứng chỉ tiền gửi (Certificate of depoits – CD).
b) Chứng thư tiết kiệm (savings certificates).
c)Trái phiếu tiết kiệm.
2.3. Tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm (savings deposits) hay tài khoản dùng sổ (passbook
account). Một khoản ký thác dưới hình thức tiết kiệm rất đa dạng và phổ
biến trong nền kinh tế được NHTM huy động là các khoản tiền tiết kiệm
trong xã hội, Loại ký thác này có dặc điểm: người gửi tham gia gửi tiền vào
ngân hàng rất dông, nhưng số tiền gửi từng lần thường ít, về số lượng tuyệt
đối lại rất lớn, chiếm tỷ trọng rất quan trọng trong cơ cấu vốn ký thác huy
động được. Thông thường có hai loại tiền gửi tiết kiệm sau:
a) Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
b) Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Nguồn vốn từ loại tiết kiệm không kỳ hạn có lãi suất thấp, làm cho lãi
suất đầu vào của ngân hàng rất thấp và rất có lợi khi cho vay.
Việc điều hành các tài khoản này, tại phần lớn các nước được qui định
như sau: Các sổ tiết kiệm chỉ được mở cho các thể nhân và chỉ mở một sổ
cho mỗi người. Người gửi tiền, khi mở sổ tiết kiệm, phải cam đoan chưa
mở một tài khoản tiết kiệm nào ở một ngân hàng khác.
- Số dư tối đa của sổ tiết kiệm cũng được qui định cụ thể cho từng thời
kỳ.
SVTH: Phạm Quang Hải
16
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
Các nghiệp vụ cho phép thực hiện được hạn chế tối đa: chỉ có thể gửi
tiền mặt và chỉ có chủ tài khoản mới được rút tiền, không cấp tập sec.
- Các nghiệp vụ thực hiện phải chẵn số, nghĩa là phải là bội số của l00đ
hay l000đ chẳng hạn.
3. Chi phí đối với các loại tiền gửi.
cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng nào quyết định chọn mục tiêu là
cạnh tranh giành tiền gửi sẽ luôn luôn đặt ra mức lãi suất cao hơn để kéo
khách hàng khỏi các đối thủ cạnh tranh. Ngược lại khi ngân hàng muốn hạn
chế quy mô của một loại hình tiền gửi nào đó, ngân hàng sẽ hạ lãi suất
công bố thấp hơn mức lãi suất của các đối thủ cạnh tranh đưa ra.
3.2. Các phương pháp định giá tiền gửi.
3.2.1. Định giá tiền gửi theo phương pháp tổng hợp chi phí - thu nhập
Trong hoạt động ngân hàng ngày nay, các nhà quản lý nhìn chung
không chấp nhận quan điểm cho rằng khách hàng là người phải chịu toàn
bộ chi phí dịch vụ liên quan đến tiền gửi. Cho đến vài năm gần đây, luận
điểm "khách hàng nên được sử dụng miễn phí các dịch vụ về tiền gửi"
được xem như một đường lối khôn ngoan nhằm đối phó với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt phía các trung gian tài chính khác trên thị trường truyền
thống của ngân hàng. Tuy nhiên, rất nhiều ngân hàng đã sớm nghi ngờ tính
hiệu quả của chiến lược Marketing mới này bởi vì nó làm gia tăng số lượng
các tài khoản có số dư nhỏ với mức độ nhạy cảm cao và do đó buộc ngân
hàng phải đối mặt với tình trạng bùng nổ trong chi phí hoạt động.
Sự phát triển của tiền gửi thanh toán hưởng lãi, đặc biệt là tiền gửi trong
tài khoản NOW đã tạo cơ hội cho các ngân hàng xem xét lại phương pháp
định giá đối với các dịch vụ về tiền gửi. Thật không may, nhiều ngân hàng
mới tham gia thị trường đã liều lĩnh chấp nhận định giá dưới mức chi phí
nhằm mở rộng nguồn vốn tiền gửi. Khách hàng chỉ phải trả một khoản lệ
SVTH: Phạm Quang Hải
18
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
phí nhỏ, thấp hơn chi phí hoạt động và chi phí quản lý chung cho việc cung
cấp các khoản tiền gửi giao dịch và các khoản tiền gửi khác. Kết quả là tỷ
lệ thu nhập khách hàng được hưởng tăng lên đáng kể, người ta gọi đây là
lãi suất ẩn – chênh lệch giữa chi phí cho việc cung cấp dịch vụ tiền gửi và
số tiền thực tế khách hàng phải thanh toán.
khoản tiền gửi đã tăng lên. Điều này có nghĩa là ngân hàng tiến hành định
giá tiền gửi độc lập, tách biệt khỏi các khoản cho vay và các dịch vụ khác.
Đồng thời, mỗi dịch vụ liên quan tới tiền gửi thường được định giá sao cho
khoản thu đủ bù đắp tất cả hoặc phần lớn chi phi cho việc cung cấp dịch vụ
đó. Giá của các dịch vụ này được xác định theo công thức tổng hợp chi phí
- thu nhập như sau:
Giá khách
hàng phải trả
cho 1 đơn vị
dịch vụ tiền gửi
=
Chi phí
hoạt động cho
1 đơn vị dịch
vụ tiền gửi
+
Chi phí quản lý
cung dự tính phân
bổ cho bộ phận
nhận tiền gửi
+
Định
mức lợi
nhuận từ 1
đơn vị dịch
vụ tiền gửi
Phương pháp định giá theo chi phí như công thức trên khuyến khích các
ngân hàng đặt giá sát hơn với chi phí và loại bỏ nhiều dịch vụ trước đây
miễn phí. Ví dụ, ngày càng nhiều ngân hàng Mỹ áp đặt phí cho dịch vụ
chấp nhận thấu chi, tăng lệ phí đối với các tờ séc bị máy rút tiền tự động
nhiều nhất trong lịch sử - Vụ sụp đổ của Franklin National Banh of New
York năm 1974 - cũng một phần bắt nguồn từ chiến lược quản lý mà theo
dó nhà quản lý so sánh tỷ lệ thu nhập dự tính của các khoản tín dụng mới
với chi phí nguồn vốn trung bình. Nếu thu nhập dự tính của khoản tín dụng
lớn hơn chi phí nguồn vốn trung bình từ 1 % trở lên, cán bộ tín dụng của
Franklin được phép cho vay. Không may. khi lãi suất huy dộng vốn tăng
lên đáng kể thì 0,5% lợi nhuận biên của Franklin so với chi phí trung bình
trở lên quá nhỏ bé. Thu nhập thực tế từ một lượng lớn các khoản tín dụng
và đầu tư khổng lồ không đủ bù đắp chi phí nguồn vốn hiện tại. Điều này
đã làm suy giảm vốn tự có của Franklin”
5
.
“Nhà kinh tế học James E. Mc Nulty đã khuyên các ngân hàng nên sử
dụng phương pháp chi phí cận biên để xác định lãi suất cho các tài khoản
tiền gửi mới. Để hiểu rõ phương pháp xác định giá theo chi phí cận biên do
Mc Nulty đề xướng hãy giả định rằng một ngân hàng dự lính sẽ huy động
dược 25 triệu USD tiền gửi khi đặt lãi suất ở mức 7%. Nhà quản lý dự đoán
rằng nếu ngân hàng nâng lãi suất lên 7,5%, 8%, 8,5% và 9% thì lượng tiền
5
Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 499, NXB Tài chính.
SVTH: Phạm Quang Hải
21
Đề án LT TC-TT Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM_VN
gửi sẽ tăng lên tương ứng là 50 triệu USD, 75 triệu USD, 100 triệu USD và
125 triệu USD. Lượng tiền này bao gồm các khoản tiền gửi mới và các
khoản tiền gửi hiện có ở ngân hàng được khách hàng giữ lại để hưởng lãi
suất cao hơn. Giả định là nhà quản lý tin rằng việc đầu tư bằng các khoản
tiền gửi mới sẽ mang lại tỷ lệ thu nhập là 10%, đây chính là thu nhập cận
biên - thu nhập gia tăng từ việc cho vay hay đầu tư bằng nguồn vốn mới
huy dộng. Với giả định này, ngân hàng nên đặt lãi suất tiền gửi ở mức
Trên thực tế, sự thất bại của các ngân hàng trong chiến lược thu hút
thêm tiền gửi bằng cách giảm lệ phí hoặc nâng cao lãi suất bắt nguồn từ
tính ổn định tương đối của tiền gửi: khách hàng thường không thay đổi
ngân hàng ngay lập tức bởi vì chi phí và rủi ro cho sự thay đổi này là không
nhỏ. Các công ty và các hộ gia đình trước khi quyết định gửi tiền vào một
ngân hàng nào đều xem xét đến rất nhiều yếu tố, không chỉ có lãi suất.
3.2.4. Phương pháp Bảng tỷ lệ phí tiền gửi.
Khách hàng sẽ phải trả một khoản lệ phí rất nhỏ thậm chí là không phải
trả lệ phí nếu số dư tiền gửi bình quân của họ cao hơn một mức nhất định
hoặc khách hàng sẽ phải trả lệ phí cao hơn nếu số dư tài khoản trung bình
thấp hơn mức giới hạn. Do đó, mức giá dịch vụ mà khách hàng phải trả phụ
thuộc vào việc anh ta sử dụng tiền gửi như thế nào
Giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi thay đổi trên cơ sở một hoặc một
số những yếu tố sau:
+ Số lần giao dịch thực hiện qua tài khoản (số séc được viết, số tiền gửi
vào, số lần chuyển tiền, số lệnh ngừng trả hay số lần thấu chi).
+ Số dư tài khoản trung bình trong một thời kỳ nhất định (thường là một
tháng).
+ Kỳ hạn của tiền gửi theo ngày, tuần, hoặc tháng.
Khách hàng phải lựa chọn ngân hàng và xây dựng kế hoạch tiền gửi sao
cho mức lệ phí là thấp nhất và (hoặc) nhận được thu nhập cao nhất trên cơ
sở dự kiến về số séc viết, số tiền gửi vào và rút ra cũng như số dư trung
bình của tài khoản. Đương nhiên khách hàng cũng phải xem xét tới các
khía cạnh khác như mức độ an toàn và sự sẵn có của các dịch vụ.
SVTH: Phạm Quang Hải
23