THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 11

1 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ
GTGT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Là một loại thuế độc lập nên thuế GTGT cũng có những đặc điểm riêng
biệt để phân biệt nó với các loại thuế khác như sau:
Một là thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất lớn. Đó là mọi đối tượng
tồn tại trong xã hội, kể cả cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của
mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội. Việc đánh
thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công bằng của
thuế, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng
trong xã hội. Đối với trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế
việc trả tiền thuế của người tiêu dùng, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc
đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất.
3
Hai là thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch
vụ. Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với
toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi
khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho
người tiêu dùng. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế GTGT với những
loại thuế gián thu khác. Nếu như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần ở
khâu sản xuất hay nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; thuế xuất - nhập khẩu chỉ
đánh ở khâu xuất hoặc nhập khẩu thì thuế GTGT lại đánh ở tất cả các khâu
của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa.
Ba là, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế
GTGT phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác
nhau. Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa
trong nước, nhập khẩu và lưu thông hàng hóa nhập khẩu nhưng cơ sở xác
định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với
khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ
hưởng hàng hóa dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi, các phần giá
trị hàng hóa, dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế GTGT phải
nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa,
dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu.

dàng hơn các loại thuế trực thu.
- Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế giá trị gia
tăng( vì thuế suất là 0%) mà còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế
giá trị gia tăng đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm,
đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh
thuận lợi trên thị trường quốc tế.
5
- Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối
với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng
nội địa.

II. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ GTGT Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Những thành tựu đạt được
Với đặc điểm là đánh thuế rộng khắp và thu ở từng giai đoạn của quá
trình sản xuất, kinh doanh nên thuế GTGT đóng góp một nguồn thu lớn cho
ngân sách Nhà nước.
Với mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu đồng nghĩa
doanh nghiệp được hoàn thuế đầu vào. Đây là động lực mạnh mẽ để thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu các sản phẩm của Việt nam ra thị trường quốc tế.
Mặt khác, thuế GTGT không nằm trong các yếu tố cấu thành giá nên tạo ra
sự cạnh tranh của hàng hóa nước ta so với các nước khác trên thị trường thế
giới
Phương pháp khấu trừ thuế trong thuế GTGT khuyến khích việc mở
rộng đầu tư sản xuất kinh doanh. Về nguyên tắc, toàn bộ thuế đánh vào chi
phí đầu vào của mỗi khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông sẽ được khấu
trừ, như vậy số tiền thuế thu được không phụ thuộc vào chu trình lưu thông
sản phẩm nên đã kích thích phát triển các loại dịch vụ trung gian giữa khâu
sản xuất đến khâu tiêu dùng, từ đó đáp ứng được mục tiêu đề ra khi xây
dựng luật thuế GTGT là thúc đẩy sản xuất và mở rộng lưu thông hàng hóa,

bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách Nhà nước thì thuế GTGT, thuế Tiêu
thụ đặc biệt và thuế Thu nhập doanh nghiệp sẽ đóng vai trò càng quan trọng.
7
Tuy nhiên ngoài những ưu điểm kể trên, sau hơn 10 năm đi vào áp dụng
trong thực tế, việc thực thi pháp luật thuế GTGT vẫn tồn tại nhiều vấn đề
cần giải quyết.

2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT
Những yếu tố chủ quan
Quy định của pháp luật
Việc thực hiện pháp luật trong thực tiễn có hiệu quả hay không trước
tiên đó là do bản thân quy định của pháp luật đã phù hợp hay chưa.
a) Hệ thống văn bản pháp luật
- Luật thuế GTGT năm 2008;
- Nghị định của Chính phủ số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế
GTGT;
- Quyết định số 96/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
24/4/2009 về sửa đổi một số điều của Quyết định số 65/2009/QĐ-
TTg, Quyết định 66/2009/QĐ-TTg và quyết định 67/2009/QĐ-
TTg;
- Thông tư của Bộ Tài chính số 94/2010/TT-BTC ngày 30/6/2010
Hướng dẫn thực hiện hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa xuất
khẩu;
Pháp luật về thuế GTGT đã được các nhà làm luật quan tâm đến thể
hiện ở hệ thống văn bản pháp luật quy định cụ thể. Tuy nhiên vẫn còn bộc lộ
những điểm chưa được như việc sửa đổi bổ sung liên tục các văn bản và hệ
thống những quy phạm pháp luật quy định rải rác trong các loại văn bản
khác đã gây khó khăn cho việc tra cứu và áp dụng. Đôi khi các nội dung quy
8

hàng tháng), nhưng trên tờ khai chưa có chỉ tiêu thể hiện số thuế GTGT nộp
thừa, thiếu trong các kì trước, đặc biệt chưa thể hiện rõ số thuế GTGT các cơ
sở phụ thuộc doanh nghiệp hoạt động tại các địa phương khác trụ sở chính
tạm nộp (theo quy định là tỷ lệ trên doanh thu thực hiện) chuyển số thuế này
về trụ sở chính để doanh nghiệp thực hiện quyết toán, kê khai thuế một cách
thuận lợi, chính xác hơn.
Thứ hai, về nguyên tắc chung, đến kỳ nào đấy của năm tài chính hiện
tại doanh nghiệp mới phát hiện ra sai sót thì có thể điều chỉnh các chỉ tiêu
liên quan như hàng hoá, dịch vụ, thuế GTGT bán ra, mua vào của các kỳ
thuộc năm tài chính trước đây. Trong trường hợp này, việc xử lý tờ khai theo
mẫu hiện hành để đảm bảo nắm bắt chính xác số liệu về thuế GTGT phải
nộp của từng năm tài chính trước đây và năm hiện tại là rất khó khăn và
chưa đồng bộ, nhất là thực hiện trên hệ thống máy tính của chương trình
quản lý thuế hiện hành. Nên chăng cần nghiên cứu điều chỉnh quy định kê
khai trong các trường hợp này kể cả về mẫu biểu thể hiện và chương trình
xử lý để hoàn chỉnh hơn.
- Chứng từ hóa đơn
Chứng từ hóa đơn trong thuế GTGT có thể nói là vấn đề phức tạp và
tồn tại nhiều bất cập nhất. Thuế GTGT gắn với nghiệp vụ kinh doanh của
chủ thể nộp thuế và Nhà nước thực hiện thu thuế theo kết quả kinh doanh đó.
Chứng từ hóa đơn chính là cơ sở, là chứng cứ xác định nghĩa vụ thực tế mà
chủ thể nộp thuế phải thực hiện đối với Nhà nước. Vì vậy trên thực tế các
chủ thể nộp thuế thường có nhiều hành vi làm giả hóa đơn, chứng từ, thực
hiện các hành vi “đạo giá” ghi trên các hóa đơn chứng từ để được khấu trừ,
hoàn thuế. Trong quá trình công tác, cục thuế phát hiện nhiều doanh nghiệp
10
được thành lập chỉ để mua, bán hóa đơn GTGT. Giám đốc các doanh nghiệp
này thường là những người có lý lịch tư pháp xấu, trình độ học vấn, nghề
nghiệp không phù hợp với ngành nghề kinh doanh,… Và nghiệp vụ duy nhất
của các công ty này chỉ là mua bán hóa đơn. Lợi dụng chính sách thông

dụng sự thông thoáng đó để trục lợi trong việc hoàn thuế GTGT;
4. Thiếu vắng một cơ chế giám sát kiểm tra thật hữu hiệu quy trình
đăng ký nộp thuế, kê khai, khấu trừ hoàn thuế, với chủ trương “tiền thoái
hậu kiểm” tạo không ít thuận lợi cho các doanh nghiệp song không phải tất
cả các đối tượng được hoàn thuế đều có thể áp dụng cơ chế này

Hoạt động của các chủ thể liên quan
a) Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Cơ quan thuế
Cơ quan thuế là cơ quan có vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý
Nhà nước về thuế GTGT, giúp Nhà nước thu và truy thu thuế GTGT một
cách triệt để. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều sai sót khó hiểu
của cơ quan này ví dụ như những vụ việc sau:
Nhiều người dân ở thành phố Cần Thơ nhận được thông báo nộp thuế
nhà đất năm 2008 của Chi cục Thuế sở tại và đã phải nộp với số tiền tính
theo giá thóc 2.000 đ/Kg. Các thông báo này căn cứ Quyết định số 3004
ngày 28/12/2008 của UBND thành phố Cần Thơ về giá thóc thu thuế sử
dụng đất nông nghiệp có hiệu lực từ ngày 1/1/2008.
Tuy nhiên, việc căn cứ này ko hợp lý với quy định hiện hành . Bởi theo
khoản 5 phần 2 Thông tư 83 ngày 7/10/1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi
hành Nghị định 94 của Chính phủ thì “Thuế đất thu bằng tiền tính theo giá
12
thóc thuế sử dụng đất nông nghiệp của vụ cuối năm lền trước năm thu
thuế”. Theo quy định này, thuế nhà đất năm 2008 thu bằng giá thóc cuối
năm 2007 ở Cần Thơ là 1.800 đ/Kg (theo )
Ví dụ trên cho thấy cán bộ thuế đã mắc phải sai sót cơ bản khi không
nắm vững các quy định của luật. Điều này đặt ra câu hỏi về trình độ chuyên
môn, trình độ quản lý của cơ quan này.
- Các cơ quan khác có liên quan
Để đảm bảo sự thực thi pháp luật về thuế nói chung, thuế GTGT nói

nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước, vì lợi ích trước mắt của cá nhân mà
xâm phạm lợi ích chung của xã hội. Do đó, mỗi khi pháp luật có những quy
định mới, các chủ thể này trong những chừng mực nhất định đều cố tìm ra
những kẽ hở để luồn lách, khiến cho những quy định ấy rất khó phát huy
trong thực tiễn.

Những yếu tố khách quan
Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thời
hạn để chúng ta thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO cũng như trong
các thỏa thuận quốc tế khác đang đến rất gần. Đến năm 2015, chúng ta phải
hoàn thành việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng của các
nước tham gia hiệp định CEPT/AFTA xuống mức thuế suất 0%; hay theo
hiệp định thương mại Việt - Mỹ thì 224 dòng thuế nhập khẩu cũng sẽ giảm
bình quân 30%. Điều này sẽ khiến cho nguồn thu ngân sách giảm đáng kể.
Trước tình hình đó, chúng ta phải hoàn thiện hệ thống thuế sao cho vừa bảo
hộ được nên kinh tế trong nước, vừa bảo đảm tuân thủ những thỏa thuận đã
cam kết. Đồng thời, cơ hội tiếp xúc với nền pháp luật thế giới cũng cho
14
chúng ta nhiều cơ hội học tập kinh nghiệm xây dựng hệ thống pháp luật thuế
nói chung, pháp luật thuế GTGT nói riêng của các nước.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHO VIỆC THỰC THI
PHÁP LUẬT THUẾ GTGT HIỆN NAY
1. Hoàn thiện pháp luật về thuế
- Sửa đổi các quy định về hoàn thuế GTGT
Trước hết, để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế hoàn thuế nhằm chiếm
đoạt tiền của ngân sách nhà nước, cần phải quy định cụ thể, chính xác các
trường hợp được hoàn thuế GTGT trong luật thuế GTGT, hạn chế tình trạng
có đối tượng được quy định trong luật, có đối tượng lại được quy định trong
các văn bản dưới luật.

khó hiểu và phân bố rải rác như hiện nay.
- Một thực tế tồn tại hiện nay là, bản thân người tiêu dùng cũng
không quan tâm tới việc ghi hóa đơn khi mua hàng, thậm chí còn tiếp tay
cho các chủ thể kinh doanh ghi khống hóa đơn, bởi lẽ, theo cách nghĩ đơn
giản của họ, việc hóa đơn ghi cao hay thấp cũng chẳng ảnh hưởng đến giá cả
thực tế mà họ phải trả. Việc làm thiếu trách nhiệm này của họ đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh vừa có thể trốn thuế, lại vừa có thể
thu được một khoản lợi bất chính từ việc hoàn thuế của Nhà nước. Do đó
cần phải có biện pháp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, lực lượng
này với số lượng rộng lớn của mình sẽ giúp giảm bớt rất nhiều gánh nặng
cho các cơ quan Nhà nước trong việc phát hiện và tố giác những hành vi vi
phạm pháp luật thuế GTGT.

16
3. Các biện pháp kiểm tra, giám sát
- Tăng cường công tác quản lý kiểm tra việc in ấn, phát hành hóa
đơn của các cơ sở kinh doanh, đảm bảo việc quản lý các hóa đơn GTGT
đang lưu thông trên thị trường. Đảm bảo đối tượng mua hóa đơn là những cơ
sở có hoạt động sản xuất kinh doanh ra hàng hóa dịch vụ là đối tượng thuộc
diện chịu thuế GTGT. Cần có sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan
Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán tài chính để phát hiện ra những hành vi
gian lận thuế, các trường hợp mua bán hóa đơn bất hợp pháp và có các biện
pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh.
- Để hạn chế gian lận trong quá trình hoàn thuế GTGT, cơ quan thuế
cần đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra trước cũng như sau khi hoàn thuế
GTGT đặc biệt là với hàng hóa xuất khẩu. Cơ quan hải quan tăng cường
biện pháp quản lý cũng như giám sát chặt chẽ việc tra và xác nhận hàng hóa
thực tế đã xuất khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hóa xuất khẩu,
xuất khẩu khống. Một giải pháp khác cũng được nhắc nhiều trong thời gian
qua, đó là hoàn trả thuế được thanh toán qua ngân hàng, nhằm hạn chế tình

thông đồng, tiếp tay cho đối tượng nộp thuế để gian lận thuế của Nhà nước.
Cùng với đó là thực hiện chế độ khen thưởng, biểu dương các cán bộ có tinh
thần trách nhiệm cao trong công việc.
- Đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nghiệp vụ là hai mục
tiêu song song trong công tác đào tạo đội ngũ cán bộ thuế, cán bộ hải quan.
Đây là cơ sở để những quy định pháp luật về thuế GTGT trên văn bản đi vào
cuộc sống và đáp ứng được mục tiêu đề ra khi xây dựng luật thuế này.

18
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam,
Nxb. Công an nhân dân, HN, 2008.
2. Luật thuế GTGT 2008
3. Nguyễn Thị Thương Huyền, Những vấn đề pháp lý về việc áp
dụng thuế GTGT ở Việt Nam, luận án tiến sĩ luật học, HN,
2002
4. Trần Minh Hiền, Pháp luật về thuế GTGT - Thực trạng và
hướng hoàn thiện, luận văn thạc sĩ, HN, 2006
5. Ngô Thị Kim Dung, Lý luận và thực tiễn về hoàn thuế GTGT
theo quy định của pháp luật hiện hành, khóa luận tốt nghiệp,
HN, 2005
6. Các website: ; .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status