thực tiễn áp dụng pháp luật thuế GTGT hiện nay - Pdf 27

Trường Đại học Luật Hà Nội
MỤC LỤC
I. LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………….
II. NỘI DUNG………………………………………………………………….
I. Một số vấn đề cơ bản của Luật thuế GTGT…………………………………..
1. Khái niệm thuế GTGT:……………………………………………………....
2. Vai trò của Thuế GTGT:……………………………………………………..
II. Thực trạng áp dụng luật thuế giá trị gia tăng………………………………..
1.Những thành tựu cơ bản trong quá trình áp dụng thuế giá trị gia tăng………
2.Một số đánh giá cơ bản về những tồn tại của hệ thống pháp luật thuế GTGT ở
Việt
Nam………………………………………………………………………………
2.1:Những hạn chế của hệ thống pháp luật thuế GTGT hiện hành……………..
2.2: Một số đánh giá cụ thể về những tồn tại của pháp luật thuế GTGT
a. Về phạm vi áp dụng thuế GTGT………………………………………………
b. Về căn cứ tính thuế……………………………………………………………
c. Về phương pháp tính thuế GTGT…………………………………………….
d. Về quản lý hoàn thuế GTGT………………………………………………….
e. Quy định về địa điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ……………………………
g. Cơ chế quản lý và thực hiện công tác quản lý của các cơ quan thuế:………..
3.Nguyên nhân của thực trạng trên:……………………………………………..
II. Một số giải pháp hoàn thiện luật thuế GTGT ở nước ta……………………..
1. Bối cảnh quốc tế và định hướng kinh tế – xã hội tác động đến xu hướng hoàn
thiện thuế GTGT ở nước ta ……………………………………………………
2. Một số biện pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện Luật thuế GTGT ………
2.1: Sửa đổi Luật Thuế GTGT phải phù hợp với xu hướng cải cách hệ thống thuế
trên thế giới……………………………………………………………………….
2.2: Sửa đổi trên cơ sở các bất cập của pháp luật thuế hiện hành và phải phù hợp
với thông lệ quốc tế……………………………………………………………….
III. KẾT LUẬN
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 1

II. NỘI DUNG.
I. Một số vấn đề cơ bản của Luật thuế GTGT
1. Khái niệm thuế GTGT:
Luật thuế GTGT đầu tiên được thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 tại kỳ
họp thứ 11 Quốc hội khoá IX và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
1999. Việc ban hành Luật thuế GTGT để thay thế cho Luật thuế doanh thu theo
Chương trình cải cách thuế bước II đã được Bộ chính trị, Quốc hội và Chính phủ
thông qua. Trong quá trình triển khai thực hiện, Luật thuế GTGT được sửa đổi, bổ
sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với
điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế giá trị gia tăng năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng năm 2005). Luật thuế GTGT sau
9 năm thực hiện đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã
hội của đất nước và đã đạt được những mục tiêu đề ra của cải cách thuế bước II.
Tuy nhiên, trước bối cảnh nền kinh tế đang tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, hội nhập
ngày càng sâu hơn, rộng hơn, Luật thuế GTGT năm 1997 và các Luật sửa đổi, bổ
sung Luật thuế GTGT vẫn còn bộc lộ một số vấn đề cần phải xem xét để tiếp tục
hoàn thiện. Theo đó, tại kỳ họp khoá XII, kỳ họp thứ 3, ngày 03 tháng 6 năm 2008
Quốc hội đã thông qua Luật thuế GTGT 2008. Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhằm
động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa,
nhận dịch vụ.
Điều 2 Luật Thuế GTGT năm 2008 qui định: “Thuế GTGT là thuế thu trên
phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất,
lưu thông đến tiêu dùng”. Vì chỉ tính trên khoảng GTGT thêm của hàng hóa, dịch
vụ ở từng khâu bán hàng, không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước,
cho nên cách tính thuế GTGT là rất khoa học và cần thiết đối với phát triển sản
xuất theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phù hợp với yêu cầu hội nhập
quốc tế hiện nay ở nước ta.
2. Vai trò của Thuế GTGT:
Thuế GTGT không thu trùng lặp cho nên góp phần khuyến khích chuyên

Thứ nhất, Luật thuế GTGT đã thể hiện được thái độ của nhà nước đối với tính
trung lập của thuế. Điều này được thể hiện ở chỗ những quy định của pháp luật
thuế GTGT đã tạo ra sự công bằng và bình đẳng giữa các đối tượng chịu thuế và
đối tượng chịu thuế. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế đã được phân chia một
cách hợp lý và chịu mức thuế suất như nhau giữa các hàng hóa, dịch vụ có cùng
mục đích sử dụng. Cụ thể, mức thuế suất phổ biến là 10% áp dụng đối với hàng
hóa, dịch vụ thông thường, mức thuế suất 5% đối với các loại hàng hóa, dịch vụ ưu
đãi, khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, các sản phẩm thiết yếu, sản phẩm
công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ công cộng, thuế suất
0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
Thứ hai, Luật thuế GTGT đã đảm bảo ở mức độ nhất định nguyên tắc công
bằng và tính hiệu quả của hệ thống pháp luật. Tính công bằng có biểu hiện rất rõ
ràng thông qua nhưng quy định mang tính phổ biến về đối tượng nộp thuế, cơ sở
tính thuế. Việc quy định mức thuế suất thấp đối với các mặt hàng thiết yếu tạo cho
mọi đối tượng đều có khả năng tiêu dùng. Đối với những hàng hóa xa xỉ, Nhà nước
không khuyến khích tiêu dùng đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt lại vẫn tiếp tục phải
chịu thuế GTGT, đây đồng thời cũng là nhóm hàng hóa, dịch vụ có đối tượng tiêu
dùng là những người có thu nhập cao. Quy định như vậy là nhằm điều tiết thu nhập
của các tầng lớp trong xã hội theo nguyên tắc người có thu nhập thấp điều tiết thuế
thấp, người có thu nhập cao điều tiết thuế cao, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 4
Trường Đại học Luật Hà Nội
Với việc thực hiện tiêu chí công bằng, thực tiễn cho thấy sự chấp nhận ngày càng
rõ ràng của xã hội đối với loại thuế tiên tiến này.
Thứ ba, hệ thống pháp luật thuế GTGT đã tạo cơ sở pháp lý hình thành nguồn
thu ổn định, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí. Việc
triển khai thực hiện Luật thuế GTGT bảo đảm động viên số thu cho NSNN không
giảm hơn so với thuế doanh thu, không làm ảnh hưởng lớn đến kế hoạch thu
NSNN.
Thứ tư, pháp luật thuế GTGT hiện hành mở rộng lưu thông hàng hóa và đẩy

Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 5
Trường Đại học Luật Hà Nội
Thứ nhất, về diện hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT : Luật quy định
28 nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT . Quy định này là phù hợp với
điều kiện thực tiễn của nước ta thời gian qua, tuy nhiên trong quá trình thực hiện và
cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, một số hàng hoá, dịch
vụ nếu tiếp tục áp dụng không chịu thuế giá trị gia tăng sẽ không còn phù hợp, gây
bất lợi cho sản xuất kinh doanh, bởi vì doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các hàng
hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT sẽ không được tính thuế GTGT cho người
mua, như vậy, toàn bộ số thuế GTGT đã trả khi mua các yếu tố đầu vào phục vụ
cho sản xuất kinh doanh sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào giá thành sản
phẩm, từ đó làm tăng chi phí, giảm khả năng cạnh tranh của những hàng hoá, dịch
vụ này trên thị trường trong nước và quốc tế. Do đó, cần rà soát để chuyển sang đối
tượng chịu thuế nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế GTGT và tạo thuận lợi hơn
cho cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Để phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật thuế GTGT quy định một số dịch vụ
tài chính cụ thể thuộc diện không chịu thuế GTGT nên trong thực tiễn thi hành,
cùng với quá trình hội nhập và sự phát triển của thị trường tài chính đã xuất hiện
ngày càng nhiều các dịch vụ tài chính mới chưa được quy định trong Luật, như:
dịch vụ hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua,
bán ngoại tệ,...(gọi chung là các dịch vụ tài chính phái sinh) và các giao dịch
chuyển nhượng vốn. Vì vậy, các dịch vụ tài chính mới này cần được bổ sung vào
Luật để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình thực hiện và phù hợp với thông lệ
quốc tế.
Thứ hai, về thuế suất thuế GTGT: Năm 1997, khi ban hành Luật thuế GTGT
, mức thuế suất 5% là mức thuế suất ưu đãi, được áp dụng đối với hàng hoá, dịch
vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ nhu cầu thiết yếu của người
dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, trước những khó khăn của nền kinh tế,
Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần để đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn trong từng thời kỳ, theo đó, diện áp dụng mức thuế suất 5% cũng được mở

đoạt tiền thuế giá trị gia tăng của Nhà nước như một số đối tượng đã lợi dụng sự
thông thoáng của Luật doanh nghiệp và quy định về điều kiện được khấu trừ thuế,
được hoàn thuế nêu trên để thành lập doanh nghiệp nhằm mục đích mua, bán hoá
đơn kiếm lời bất chính (doanh nghiệp ma)....Để ngăn chặn tình trạng này, thời gian
qua các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan thuế đã phối
hợp để tăng cường các biện pháp quản lý, như: phối hợp trong việc cung cấp thông
tin, điều tra, xử lý các vụ vi phạm,…; riêng cơ quan thuế đã áp dụng nhiều biện
pháp quản lý hóa đơn, như yêu cầu doanh nghiệp đóng dấu, mã số thuế trên hoá
đơn, kiểm tra đối chiếu hoá đơn giữa doanh nghiệp bán với các doanh nghiệp mua
và ngược lại, gây tốn kém nhiều thời gian và chi phí, nhưng mới chỉ hạn chế được
phần nào mà chưa thể chặn đứng được tình trạng gian lận nêu trên.
Thứ tư, về hình thức văn bản. Thuế GTGT được thể hiện tại 3 văn bản Luật
khác nhau là Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng năm 2005. Mặt khác, năm
2006, Luật quản lý thuế (đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ 01 tháng 7
năm 2007) đã quy định các nội dung về quản lý thuế như đăng ký, kê khai, nộp
thuế, xử lý vi phạm để thay thế cho các quy định về quản lý thuế trong các luật,
pháp lệnh thuế đã được ban hành trước đây, trong đó có Luật thuế giá trị gia tăng.
Với nhiều văn bản Luật cùng quy định về thuế GTGT nên chưa tạo thuận lợi cho
việc tra cứu, áp dụng pháp luật.
Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc, quan
điểm chỉ đạo như sau:
1. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội
nhập của Việt Nam trong những năm tới;
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 7
Trường Đại học Luật Hà Nội
2. Đảm bảo cho chính sách thuế đơn giản, rõ ràng, minh bạch, khắc phục những
hạn chế của Luật hiện hành, nhất là trong việc kê khai khấu trừ, hoàn thuế GTGT

quy định của Luật Quản lý thuế và phù hợp với xu hướng của quản lý thuế hiện đại.
2.3. Về đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 3 của Luật là hàng hoá,
dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối
tượng không chịu thuế quy định tại Điều 5 của Luật.
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status