Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến pháp lý nhằm khắc phục”. - Pdf 27

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được
chính thức ban hành ở nước ta từ năm 1990, sau đó trải qua nhiều lần sửa đổi bổ
sung để phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội, đất nước, đã giúp chúng ta
nhận thấy nhiều ưu điểm và hạn chế trong việc ban hành pháp luật và sự áp dụng
các quy định vào thực tiễn cuộc sống. Nhóm E2-2 xin nghiên cứu “Thực tiễn áp
dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến pháp lý nhằm khắc phục”. Để thấy
được bức tranh toàn cảnh về thuế tiêu thụ đặc biệt dưới góc độ thực tiễn.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÊ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT.
1. Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt:
Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu được áp dụng khá phổ biến ở các
nước trên thế giới. Đây là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc
biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng
nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trên thế giới, loại thuế này có lịch sử lâu
đời, xuất hiện từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại.
Ở Việt Nam, thuế tiêu thụ đặc biệt được đưa vào áp dụng từ năm 1990. Các
mặt hàng thuộc đối tượng chịu thuế là thuốc hút, rượu, bia, pháo, bài lá, vàng
mã. Trước năm 1990, loại thuế đánh vào những hàng hóa không thiết yếu gọi là
thuế hàng hóa quy định trong Điều lệ thuế hàng hóa, ban hành kèm theo Quyết
nghị số 487-NQ/QHK4 ngày 26 tháng 09/1974. So với đối tượng chịu thuế tiêu
thụ đặt biệt theo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 và Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt hiện hành, đối tượng chịu thuế hàng hóa theo Điều lệ thuế hàng hóa rộng
hơn nhiều.
Năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã thu hẹp diện
các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuống còn 4 loại hàng hóa chịu thuế là:
thuốc lá điếu, rượu, bia và pháo. Năm 1995, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được bổ
sung, mở rộng diện các mặt hàng chịu thuế, trong đó có 2 mặt hàng đáng chú ý
nhất là xăng và ô tô từ 24 chỗ ngồi trở xuống. Ngày 20 tháng 05 năm 1998,
Quốc hội thông qua Luật thuế tiêu thụ đặc biệt mới thay thế cho Luật thuế tiêu
thụ đặc biệt năm 1990 (sửa đổi năm 1993, 1995). Bối cảnh ra đời của Luật thuế
tiêu thụ đặc biệt năm 1990 là việc Luật thuế giá trị gia tăng áp dụng trong thực
tiễn và sự kiện Việt Nam tham gia quá trình hội nhập Quốc tế.

và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác. Thuế suất
tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ, tùy theo quan
điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia. Ở Mỹ, Nhật, một số nước Châu Âu,
biểu thuế suất tiêu thụ đặc biệt là thuế suất cố định. Mức thuế tuyệt đối là mức
thuế được quy định bằng số tiền tính trên một đơn vị hàng hóa chịu thuế. Còn tại
Việt Nam, áp dụng biểu thuế suất tỉ lệ cho thuế tiêu dùng đặc biệt. Ví dụ như :
thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá có thuế suất là 65%
(Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008).
+/ Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa
chịu thuế một cách gián tiếp thông qua giá cả. Người sản xuất và kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là người nộp thuế cho nhà nước, từ
đó thấy đây là một loại thuế gián thu.
+/ Thuế tiêu thụ đặc biệt thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản
xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phần thu
nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ này.
+/ Thuế tiêu thụ đặc biệt được đánh giá một lần vào khâu sản xuất kinh
2
doanh hàng hóa, dịch vụ. Đây là loại thuế tiêu dùng một giai đoạn nên không
gây sự trùng lặp qua các khâu của quá trình luân chuyển hàng hóa.
Khi hàng hoá và dịch vụ này chuyển qua khâu lưu thông thì không phải
chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Cơ sở được khấu trừ số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp
đối với nguyên liệu đã nộp thuế tiêu thụ đặc biệt nếu có chứng từ hợp pháp.
Vì vậy, việc quản lý thuế tiêu thụ đặc biệt đòi hỏi phải kiểm tra, giám sát
chặt chẽ, đảm bảo hạn chế đến mức tối đa sự thất thu thuế tiêu thụ đặc biệt tại
khâu sản xuất, cung ứng dịch vụ hoặc nhập khẩu.
3. Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt.
Việc ban hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm đảm bảo các mục tiêu sau:
- Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng
của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng cho ngân sách Nhà nước một

luật thuế tiêu thụ đặc biệt, trong đó đối tượng nộp thuế là tổ chưc, cá nhân nhập
khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
1.2 Chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Theo Điều 4 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 (LTTTĐB.2008) chủ thể
có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là các tổ chức, cá nhân có sản xuất, nhập
khẩu hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt. Trường hợp tổ chức cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng
hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng
không xuất khẩu mà tiêu dùng trong nước, thì tổ chức, cá nhân có hoạt động
kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Phạm vi chủ thể có
nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt vì vậy hoàn toàn phụ thuộc vào phạm vi đối
tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Những hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được quy định tại Điều 2
LTTTĐB 2008 và Điều 2 của nghị định số 26/2009 Quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Điều 2 Thông tư số 64/2009/TT-
BTC về thuế Tiêu thụ đặc biệt.
2. Căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt.
Căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt là các sự kiên
pháp lý xảy ra trong thực tiễn đươc dự liệu cụ thể trong các quy phạm pháp luật
thuế tiêu thụ đặc biệt, cần xem xét những quy định pháp luật xác định nghĩa vụ
của các chủ thể thuộc diện nộp thuế tiêu thụ đặc biệt vào ngân sách nhà nước
ngay từ khâu đăng kí thuế của chủ thể nộp thuế.
Đăng kí thuế là hàng vi bắt buộc với chủ thể nộp thuế tại cơ quan thuế
sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc khi bắt đầu hoạt
động kinh doanh (đối với chủ thể không thuộc diện đăng kí kinh doanh). Điều
21 Luật quản lý thuế quy định: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh... đều
thuộc diện phải đăng kí thuế. Điều 22 luật quản lý thuế quy định: đối tượng đăng
kí thuế phải đăng kí thếu trong vong 10 ngày làm việc, kể từ ngày được cấp giấy
chứng nhận đăng kí kinh doanh (giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giầy
chứng nhận đầu tư) hoặc từ ngày bắt đầu hoạt động kinh doanh đối với tổ chức

Theo quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 và luật sửa đổi thì giá
tính thuế đối với hàng hóa sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra tại
nơi sản xuất chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt; đối với hàng hóa nhập khẩu là giá
tính thuế nhập khẩu cộng thuế nhập khẩu. Giá tính thuế đối với mặt hàng bia lon
hiện hành được trừ giá trị vỏ lon. Đối với bia chai giá tính thuế là giá bán của cơ
sở sản xuất và trên thực tế đại bộ phận các cơ sở sản xuất bia áp dụng chính sách
đổi vỏ chai, từ đó giá tính thuế thực chất đối với bia chai không bao gồm giá trị
vỏ chai.
Để thực hiện được mục tiêu hướng dẫn tiêu dùng đối với mặt hàng bia,
đồng thời đảm bảo thực hiện cam kết khi gia nhập WTO áp dụng một mức thuế
suất đối với mặt hàng bia, đồng thời không làm giảm lớn tới số thu ngân sách,
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 đã quy định rõ giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status