Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu và giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật thuế nhập khẩu - Pdf 27

Bài tập nhóm tháng 2 Môn Luật tài chính
A- MỞ ĐẦU.
Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có
vai trò và ý nghĩa thiết thực. Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa
nhưng thuế nhập khẩu đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của
mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hoạt động nhập khẩu
hàng hóa với bên ngoài. Ngày nay cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng
bước ảnh hưởng đến tình trạng của loại thuế này theo hướng hạn chế vai trò của nó ở
mỗi quốc gia. Song về cơ bản đây vẫn là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền
kinh tế trong nước nhất là đối với những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ
chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường như Việt Nam.
Từ việc tìm hiểu về thuế nhập khẩu, nhóm xin chọn đề tài: “Thực tiễn áp dụng
pháp luật thuế nhập khẩu và giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của
pháp luật thuế nhập khẩu”.
B- NỘI DUNG.
I- Khái quát về thuế nhập khẩu.
1. Thuế nhập khẩu.
Là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thuế, là nguồn thu lớn cho ngân sách
nhà nước, thuế nhập khẩu có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển và ổn định nền kinh tế
nước ta. Theo quan niệm chung, thuế là khoản tiền do tổ chức, cá nhân nộp cho Nhà
nước để thực hiện chi tiêu cho những công việc cần thiết của Nhà nước.
Theo quy định của luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 và luật hải quan
sửa đổi bổ sung năm 2005 thì thuế nhập khẩu được định nghĩa là: loại thuế đánh vào
hàng hóa được nhập khẩu vào những khu vực trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt nam, nơi hải quan
được áp dụng.
Thuế nhập khẩu có những đặc điểm sau:
Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận chuyển
qua biên giới. Thuế nhập khẩu không tác động vào đối tượng nhập khẩu là các loại hình
dịch vụ.
Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc gián thu: nếu nhà nhập

giải quyết tranh chấp về thuế nhập khẩu. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay, pháp
luật về thuế nhập khẩu không chỉ giới hạn bởi các nội dung trên mà còn liên quan đến
nội dung các điều ước song phương hoặc đa phương mà Việt Nam ký kết như hiệp định
ưu đãi thuế quan, hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, hiệp định WTO….Trên cơ
sở đó, pháp luật Việt Nam phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với những nội dung trên.
Từ những phân tích trên, pháp luật về thuế nhập khẩu hiện nay khá đa dạng về
hình thức, nội dung được quy định khá chi tiết, không chỉ bao gồm các quy định trong
pháp luật quốc gia mà phải phù hợp với các quy định quốc tế mà nước ta ký kết.
II- Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.
1. Khái quát thực trạng pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta hiện nay.
Để phù hợp với các yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế và hội
nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sau khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được kí kết dựa
trên nguyên tắc và chuẩn mực của WTO và do sức ép của tiến trình đàm phán Việt Nam
với các nước để gia nhập WTO, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều
văn bản pháp luật về thuế nhập khẩu để đáp ứng yêu cầu đó. Hệ thống các văn bản pháp
luật hiện đang có hiệu lực thi hành gồm:
Luật hải quan số 29/ 2001/ QH10 ngày 29/ 6/ 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật hải quan só 42/ 2005/ QH 11 ngày 14/ 6/ 2005.
Luật quản lí thuế số 78/ 2006/ QH 11 ngày 29/ 11/ 2006.
Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu số 45/ 2005/ QH 11 ngày 14/ 6/ 2005.
Pháp lệnh số 41/ 2002/ PL- UBTVQH 10 ngày 25/ 5/ 2002 về đối xử tối huệ quốc
và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế.
Pháp lệnh số 42/ 2002/ PL- UBTVQH 10 ngày 25/ 5/ 2002 về tự vệ trong nhập
khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam.
Pháp lệnh số 20/ 2004/ PL- UBTVQH 11 ngày 29/ 4/ 2004 về chống bán phá giá
hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam.
Nghị định 154/ 2005/ NĐ- CP ngày 15/ 12/ 2005 quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan.
Nghị định số 40/ 2007/ NĐ- CP ngày 16/ 3/ 2007 quy định về việc xác định trị giá
hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu ( thay thế nghị định 155/ 2005).

khẩu khi chủ thể đó thoả mãn những điều kiện sau:
+ Là người trực tiếp đứng tên làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá với nước ngoài
+ Hàng hoá do chủ thể đó nhập khẩu với nước ngoài theo quy định của pháp luật về thuế
nhập khẩu.
Về đối tượng chịu thuế:
Theo Điều 2 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu, hàng hóa là đối tượng chịu thuế
nhập khẩu gồm: Hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam (hàng hóa nhập
khẩu qua cửa khẩu đường bộ, đường song, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt liên
vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác được thánh lập theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) ; hàng hóa được đưa từ khu phi thuế
quan vào thị trường trong nước.
Như vậy, so với các đạo luật cũ, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 có một số
thay đổi trong quy định về đối tượng chịu thuế. Theo đó, cụm từ “ khu phi thuế quan” đã
thay thế cho cụm từ “ khu chế xuất” trước đây. Theo đó, khu phi thuế quan bao gồm khu
chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, kho kinh
tế thương mại đặc biệt và các khu vực kinh tế khác được thánh lập theo quyết định của
Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài
là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.
Trong việc xác định đối tượng chịu thuế nhập khẩu, Luật thuế xuất, nhập khẩu
2005 đã sử dụng phương pháp loại trừ bằng cách quy định những hàng hóa không thuộc
đối tượng chịu thuế. Theo Điều 3 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu thì hàng hóa trong các
trường hợp sau đây là đối tượng không chịu thuế nhập khẩu:
Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu biên giới Việt
Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ;
Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại;
N02- TL4- nhóm 2
3
Bài tập nhóm tháng 2 Môn Luật tài chính
Hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và
chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu

hay biểu trị giá hải quan cố định áp dụng đối với hàng nhập khẩu thay cho giá trị giao
dịch.
Trước đây ở Việt Nam giá tính thuế được xác định theo 3 hướng : Giá tính thuế
nhập khẩu theo bảng giá tính thuế do Nhà nước ban hành; Giá tính thuế nhập khẩu theo
hợp đồng mua bán ngoại thương; Giá tính thuế nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định
thực hiện Điều VII của GATT 1994. Tuy nhiên, hiện nay cùng với hội nhập kinh tế quốc
tế, để phù hợp với Hiệp định thực hiện Điều VII của GATT 1994, luật thuế xuất, nhập
khẩu đã có những thay đổi so với trước đây về việc xác ddinghj trị giá hải quan đối với
hàng hóa nhập khẩu. Khoản 2 Điều 9 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 quy định :
“Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu
nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết quốc tế”. Bên cạnh đó, Nghị định
155/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định về xác định trị giá hải quan
đối với hàng nhập khẩu thì tất cả hàng hóa nhập khẩu đều có chung một văn bản hướng
dẫn xác định trị giá hải quan mà không có sự phân biệt như trước.
Thứ ba, thuế suất thuế nhập khẩu
N02- TL4- nhóm 2
4
Bài tập nhóm tháng 2 Môn Luật tài chính
Có thể phân loại thuế suất theo những tiêu chí sau:
Xét theo tiêu chí kỹ thuật thu thuế thì thuế suất có hai loại:
Thuế suất theo tỉ lệ : là loại thuế suất được quy định bằng một tỷ lệ % nhất định
đánh vào mỗi loại hàng hóa nhập khẩu nhất định. Cách tính thuế nhập khẩu phải nộp đối
với loại hàng hóa này như sau: Thuế phải nộp = (số lượng hàng hóa nhập khẩu ghi trong
tờ khai hải quan) x (giá tính thuế từng mặt hàng) x (thuế suất)
Thuế suất tuyệt đối: là loại thuế suất được ấn định bằng số tiền nhất định tính trên
mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu. Cách tính : Thuế phải nộp = (số lượng hàng hóa nhập
khẩu ghi trong tờ khai hải quan) x ( thuế suất).
Xét theo tiêu chí quan hệ thương mại giữa các quốc gia thì có ba loại :
Thuế suất ưu đãi : là thuế suất áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ nước, nhóm
nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc (MFN) trong quan hệ thương mại

người nộp thuế, từ đó xác định có hành vi khai man, trốn thuế không để ra uyết định xử
phạt. Theo quy định của Luật hải quan thì thời hạn nộp tờ khai hải quan đối với hàng
nhập khẩu là trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạ 30 ngày kể từ ngày
hàng hóa đến cửa khẩu. Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15
N02- TL4- nhóm 2
5
Bài tập nhóm tháng 2 Môn Luật tài chính
ngày, kể từ ngày đăng ký. Sau khi đăng ký, người nhập khẩu nộp tờ khai cho cơ quan hải
quan để làm thủ tục nhập khẩu.
Thứ hai, kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa nhập khẩu:
Sau khi nhận được tờ khai hàng hóa nhập khẩu, cơ quan hải quan tiến hành kiểm
tra hồ sơ đăng ký hải quan và kiểm tra hàng hóa trên thực tế. Việc kiểm tra hồ sơ đăng ký
hải quan được tiến hành như sau:
Đối với chủ hàng chấp hành tốt pháp luật về hải quan thì công chức hải quan kiểm
tra việc kê khai các tiêu chí trên tờ khai, kiểm tra sơ bộ nội dung khai, kiểm đếm số
lượng, chủng loại các chứng từ kèm theo tờ khai hải quan.
Đối với trường hợp phát hiện sai phạm hoặc đối với các chủ hàng khác thì kiểm
tra nội dung khai, số lượng, chủng loại, giấy tờ thuộc hồ sơ, tính đồng bộ giữa các chứng
từ. Nếu không chấp nhậ dăng ký thì báo cho người khai biết rõ lý do.
Sau quá trình kiểm tra hải quan đối với hàng hóa, cơ quan hải quan tiến hành tính thuế và
thông báo thuế cho ngườu kê khai hải quan trong thời hạn 8 giờ kể từ khi nhận được tờ
khai hải quan.
Đối với những hàng hóa có số lượng nhập khẩu mỗi lần lớn và những mặt hàng
bắt buộc phải có giám định tiêu chuẩn chất lượng của Chính phủ trước khi được phép lưu
thông trên thị trường Việt Nam thì thời hạn tính thuế và gửi thông báo có thể kéo dài hơn
8 giờ nhưng không quá 3 ngày làm việc. Đối với những mặt hàng bắt buộc phải có giám
địn tiêu chuẩn ky thuật mới xác định được mã số theo danh mục biểu thuế hoặc cần giám
định để sác định tình trạng cũ, mới của hàng hóa nhằm giúp cho việc tính thuế được
chính xác thì thời hạn tính thuế và gửi thông báo thuế có thể kéo dài quá 3 ngày nhưng
không quá 15 ngày làm việc. Về nguyên tắc, thuế nhập khẩu được tính tại thời điểm đăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status