A – LỜI MỞ ĐẦU
Thuế luôn là một vấn đề quan trọng trong các hoạt động của WTO và có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc đàm phán của các quốc gia trong quá trình hội nhập cũng như
khi đã trở thành viên chính thức của tổ chức này. Trước tình hình mới khi Việt Nam
hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới đã đặt ra yêu cầu phải thực
hiện cải cách chính sách thuế. Một trong những vấn đề rất quan tâm của Chính phủ là
cải cách thuế xuất nhập khẩu, vì thuế xuất nhập khẩu là loại thuế chịu tác động mạnh
nhất trong quá trình hội nhập. Chính sách thuế quan tốt sẽ tạo điều kiện cho hoạt động
thương mại và đầu tư phát triển, góp phần bảo hộ có hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế cũng như giảm thiểu các tác động bất lợi đối với nền kinh tế
trước sự biến động của thị trường thế giới. Vì thế, nhóm em mạnh dạn chọn đề tài
“Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế xuất khẩu”
B – NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU
1. Khái niệm:
TNK là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có
nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Khi phương tiện vận tải đến cửa
khẩu biên giới thì các công chức hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai
báo trong tờ khai hải quan đồng thời tính số TNK phải thu theo các công thức tính
TNK đã quy định trước.
2. Đặc điểm thuế nhập khẩu:
- Đối tượng chịu TNK là các hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới.
- TNK không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu.
- TNK có chức năng đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước và điều tiết hoạt
động xuất nhập khẩu.
3. Mục đích của thuế nhập khẩu
TNK được đưa ra chủ yếu để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tuy nhiên
nó cũng có thể để:
- Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt
hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường.
1
Theo quy định tại Điều 2 Luật TXK, TNK 2005 thì đối tượng chịu TNK gồm:
2
- Hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu, Biên giới Việt Nam;
- Hàng hóa được đưa từ thị trường trong các nước vào khu phi thuế quan và từ
khu phi thuế quan vào thị trường trong nước. Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế
xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế
thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được
thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi
hàng hoá giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu;
- Hàng hoá mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hoá nhập khẩu.
Để xác định đúng đối tượng chịu TNK, luật TNK, TXK 2005 đã quy định
những hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế, cụ thể là:
- Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biên giới
viện nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định cảu chính phủ:
- Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại;
- Hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nươc ngoài, hàng hóa nhập khẩu
từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hóa
đươa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác.
- Hàng hóa là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khi xuất khẩu.
4.2. Các quy định về căn cứ tính thuế nhập khẩu
Những tiêu chí được sử dụng làm căn cứ tính thuế là: Số lượng đơn vị hàng hóa
nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan; Giá tính thuế đơn vị từng mặt hàng nhập khẩu
và thuế suất nhập khẩu.
Thứ nhất, số lượng hàng hóa nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan
Trên nguyên tắc, mọi hàng hóa khi được nhập khẩu vào một lãnh thổ hải quan
đều phải được chủ thể nhập khẩu tiến hành khai báo hải quan. Theo quy định của pháp
luật Hải quan khi làm thủ tục hải quan, người khai báo hải quan phải kê khai và nộp tờ
khai hải quan, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan. Với hệ thống quản lý điện tử
thì việc khai báo Hải quan phải kê khai và gửi hồ sơ Hải quan thông qua hệ thống xử
lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan. Số lượng hàng hóa nhập khẩu là số lượng
thanh toán mà người mua đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho người bán về
hàng hóa nhập khẩu. Việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu theo
hợp đồng trong trường hợp này về cơ bản là phù hợp với nguyên tắc xác định trị giá
tính thuế theo Điều 7 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) bởi
4
đảm bảo tôn trọng trị giá giao dịch thực tế của hàng hóa xuất, nhập khẩu giữa các bên
như đã được thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
+) Đối với trường hợp hàng hóa nhập khẩu không theo hợp đồng hoặc không
phù hợp với quy định của Luật thương mại thì giá tính thuế đối với đơn vị hàng hóa
nhập khẩu sẽ do Cục Hải quan địa phương xác định theo phương pháp phù hợp với giá
giao dịch thực tế của hàng hóa trên thị trường tại cửa khẩu nhập nhằm chống gian lận
thương mại qua giá.
Thứ ba, thuế suất nhập khẩu:
Cùng với yếu tố giá trị hải quan, thuế suất cũng là một căn cứ để xác định nghĩa
vụ nhập khẩu đối với người nộp thuế. Để đảm bảo khả năng điều tiết các hoạt động
kinh tế trong nước một cách hiệu quả, các mức thuế suất cụ thể trong biểu TNK sẽ do
Chính phủ quy định phù hợp với khung thuế suất do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định. Biểu thuế này có thể thay đổi và điều chỉnh theo đề nghị của Bộ tài chính và Bộ
công thương cho phù hợp với yêu cầu điều tiết kinh tế thực hiện các cam kết hội nhập
qua từng thời kỳ.
Theo quy định hiện hành, thuế suất đối với hàng nhập khẩu đã được quy định
theo hướng có sự phân biệt giữa thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất
ưu đãi đặc biệt.. Theo quy định này, thuế suất thông thường được áp dụng cho các
hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc hoặc
thỏa thuận về ưu đãi đặc biệt trong quan hệ thương mại với Việt Nam (loại thuế suất
này được quy định cao hơn 50% so với thuế suất ưu đãi của hàng hóa nhập khẩu cùng
loại hoặc tương ứng); thuế suất ưu đãi được áp dụng cho các hàng hóa nhập khẩu có
xuất xứ từ nước có thỏa thuận tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam;
còn thuế suất ưu đãi đặc biệt được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ
nước mà Việt Nam với nước đó có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về TNK. Chính phủ sẽ
gọi là tờ hải quan). Trên nguyên tắc, việc kê khai TNK phải được tiến hành ngay tại
thời điểm và địa điểm làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa. Sau đó, tờ khai hàng hóa nhập
khẩu phải được nộp cho cơ quan hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu để cơ quan này
tiến hành kiểm hóa và tính thuế cho người nộp thuế.
Thứ hai, kiểm hóa; giám định hàng hóa; tính thuế và thông báo thuế. Sau khi
nhận được tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu do đương sự nộp, cơ quan hải quan phải
6