MỞ ĐẦU
Một nhà nước để hoàn thành tốt các nhiệm vụ thì nhà nước đó cần có các công
cụ riêng của mình. Một trong những công cụ đắc lực nhất đó chính là ngân sách nhà
nước. Trong những năm qua thì vai trò của ngân sách nhà nước ở nước ta đã thể hiện
rõ trong việc giúp nhà nước hình thành các quan hệ thị trường góp phần kiểm soát lạm
phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành mạnh nền tài chính quốc gia, đảm bảo sự
ổn định và phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên bên cạnh đó thì ngân sách nhà nước
vẫn còn các mặt còn tồn tại như việc sử dụng ngân sách chưa đúng lúc đúng cách, sự
yếu kém trong việc quản lý thu chi đã đặt ra cho ta thấy cần có cái nhìn sâu hơn về tình
trạng bội chi ngân sách nhà nước và ảnh hưởng của nó tới các hoạt động kinh tế là hết
sức rộng lớn.
Vậy thế nào là bội chi ngân sách nhà nước? Những nhân tố nào ảnh hưởng tới
bội chi? Thực trạng và cách xử lý bội chi của nhà nước ta như thế nào? Trong thời gian
tới để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế cao và ổn định thì liệu nước ta có chấp nhận
một mức bội chi ở mức cao hay không? Em xin đề cập đến một số vấn đề trên trong đề
án môn học với đề tài: “Bội chi ngân sách nhà nước và thực trạng bội chi ngân sách
nhà nước ở Việt Nam hiện nay”. Kết cấu đề án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về bội chi ngân sách nhà nước.
Chương 2: Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Các giải pháp kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước.
Chương 1
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Những vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước
1.1. Vai trò của ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
Trong tiến trình lịch sử, vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân ngày càng
quan trọng. Nhà nước đã tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia để thực hiện các mục
tiêu của mình. Từ đó khái niệm Ngân sách Nhà nước (NSNN) đã xuất hiện. Với tư cách là
công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước, NSNN ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở hai
tiền đề khách quan là tiền đề nhà nước và tiền đề kinh tế hàng hóa -tiền tệ.
Về khái niệm, Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
việc hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh.Điều đó
được thực hiện thông qua các chính sách thuế và chính sách chi tiêu của ngân sách
chính phủ kích thích sự tăng trưởng kinh tế.
1.1.2.2. Giải quyết các vấn đề xã hội ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội)
Trong thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tính chất bao cấp tràn lan cho mọi
lĩnh vực kinh tế - xã hội đã hạn chế đáng kể vai trò của ngân sách nhà nước trong việc
giải quyết các vấn đề xã hội. Những chế độ bao cấp về nhà ở, cung cấp lương thực,
thực phẩm, hàng tiêu dùng với giá thấp … đã gây tâm lý sùng bái biên chế nhà nước,
tâm lý trông chờ, ỷ lại nhà nước. Điều đó một mặt làm giảm hiệu quả công tác, hiệu
quả tiền vốn, mặt khác tác động ngược chiều tới việc đảm bảo công bằng xã hội.
Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của
bộ máy Nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoạt động xã hội,
y tế, văn hóa có ý nghĩa quyết định.Việc thực hiện các nhiệm vụ cở bản thuộc về Nhà
nước và không vì mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, trong việc thực hiện các nhiệm vụ có
tính chất toàn xã hội, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó,
hàng năm chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp
nhất. Chúng ta có thể nhận thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp cho dân cư có thu
nhập thấp, có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội; các loại trợ giúp gián tiếp
dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện nước …), các
khoản chi phí thực hiện các chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình
chống dịch bệnh, mù chữ …
1.1.2.3. Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực
thị trường)
Trong điều kiện kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ cung
cầu hàng hóa trên thị trường. Do đó để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào
cung hoặc cầu hàng hóa trên thị trường. Sự tác động này không chỉ được thực hiện
thông qua thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu ngân sách nhà
nước. Bằng nguồn vốn cấp phát của chi tiêu ngân sách nhà nước hàng năm, các quỹ dự
trữ nhà nước về hàng hóa và tài chính được hình thành. Trong trường hợp thị trường có
nhiều biến động, giá cả lên cao hoặc xuống thấp, nhờ lực lượng dự trữ hàng hóa, vật tư
tế.
• Thu tiền sử dụng vốn NSNN từ các doanh nghiệp nhà nước.
• Tiền thu hồi vốn nhà nước cấp tại các cơ sở kinh tế (tiền bán cổ phần tại các doanh
nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, bán doanh nghiệp nhà nước)
• Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi) từ các tổ chức, cá nhân trong nước
vay qua tổng cục đầu tư phát triển hoặc qua hệ thống ngân hàng và từ chính phủ nước
ngoài, các tổ chức quốc tế.
Thu từ hoạt động sự nghiệp
• Thu từ bán sản phẩm các đơn vị sự nghiệp. Các đơn vị sự nghiệp có cơ chế tài chính là
dự toán NSNN nên toàn bộ các khoản thu phải nộp vào NSNN
• Các khoản chênh lệch thu – chi cả các đơn vị hoạt động sự nghiệp có thu.
Ngoài ra thu NSNN bao gồm các khoản tiền bán cho thuê tài sản Nhà nước, các khoản huy
động đóng góp, viện trợ, thu kết dư ngân sách và các khoản thu khác theo quy định của pháp
luật.
1.2.2. Chi ngân sách nhà nước
Chi Ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước phân bố và sử dụng các quỹ tiền tệ đã
được tập trung vào ngân sách để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các
chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội, các khoản chi thường xuyên bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm
hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác.
Chi đầu tư phát triển về :
• Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
• Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của
Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp.
• Chi bổ sung dự trữ nhà nước.
• Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước;
Chi thường xuyên về:
• Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học
nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác.
• Các hoạt động sự nghiệp kinh tế.
lực quá mức cần thiết hoặc không xây dựng được chương trình chi tiêu hợp lý tương ứng với
số thu hoặc kinh tế phát triển thịnh vượng làm tăng thu ngân sách ngoài dự toán và nhà nước
có thể chủ động sắp xếp phân bổ thặng dư cho những năm tiếp theo.
NSNN bội chi (thâm hụt): nghĩa là chi NSNN lớn hơn thu NSNN. Trong trường hợp
này, thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi. Nguyên nhân có thể là do nhà nước không
sắp xếp được nhu cầu chi cho phù hợp với khả năng; cơ cấu chi tiêu dùng và đầu tư không hợp
lý gây lãng phí; do tình trạng thất thu ngân sách; nhưng cũng có thể là do nền kinh tế suy
thoái theo chu kỳ hoặc ảnh hưởng bởi thiên tai hay chiến tranh, thu NSNN giảm sút tương đối
so với nhu cầu chi để phục hồi nền kinh tế.
2.3. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Cân đối NSNN phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi NSNN nhằm đạt được
các mục tiêu của chính sách tài khóa. NSNN vừa là công cụ thực hiện chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của Nhà nước. Việc thay đổi trạng thái cân đối thu chi ngân sách tác động nhất
định đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, sự tính toán thu - chi cân đối NSNN
không phản ảnh một cách thụ động các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, mà ngược lại về phần mình,
cân đối NSNN có tác động làm thay đổi hoặc điều chỉnh một cách hợp lý các chỉ tiêu kinh tế
xã hội bằng khả năng quản lý các nguồn lực và phân bổ các nguồn lực có hiệu quả. Như vậy,
vấn đề cốt lõi của cân đối NSNN là đánh giá và khai thác nguồn thu một cách hợp lý; phân bổ
và sử dụng nguồn lực hiệu quả; phần thiếu hụt sẽ bù đắp bằng vay nợ được đặt trong một
chiến lược quản lý nợ công tối ưu.
Về nội dung, cân đối NSNN bao gồm cân đối giữa tổng thu và tổng chi, cân đối giữa
các khoản thu và các khoản chi NSNN, cân đối về phân bổ chuyển giao nguồn lực giữa các
cấp trong hệ thống NSNN, đồng thời phải kiểm soát được tình trạng NSNN để qua đó thực
hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ở tầm vĩ mô và trong từng lĩnh vực, địa bàn
Cân đối NSNN mang tính định lượng và tính tiên liệu. Cân đối ngân sách phải được
định lượng cụ thể tổng thu, tổng chi, quy mô so với GPD; chi tiết các khoản mục thu, chi và
phân bổ ngân sách trung ương với ngân sách các cấp địa phương. Cân đối NSNN phải tiên liệu
được khả năng thu, chi NSNN trong ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo tính ổn định của chính
sách tài khóa và việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội.
3. Bội chi ngân sách nhà nước
Tài chính Chính phủ của IMF, khái niệm chính phủ gồm tất cả các cấp chính quyền mà không
bao gồm hoạt động ngân hàng trung ương, cho dù nó có trực thuộc chính phủ hay không. Tại
mỗi cấp chính quyền, bên cạnh quỹ NSNN còn có các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách
và quỹ hoạt động bảo hiểm xã hội. Các quỹ này được trợ cấp một phần lớn từ NSNN.
Do vậy, bội chi ngân sách chính phủ theo nghĩa rộng là số bội chi của các cấp chính
quyền với các hoạt động với sự hỗ trợ hoặc bao cấp của NSNN CHO tất cả các quỹ nói trên.
Nhưng nếu hiểu theo nghĩa hẹp, bội chi ngân sách chính phủ chỉ bao gồm bội chi của các cấp
chính quyền liên quan đến hoạt động của quỹ ngân sách nhà nước mà thôi.
- Bội chi ngân sách trung ương
Một số quốc gia khi tính bội chi NSNN chỉ tính bội chi liên quan đến hoạt động NSNN
do chính quyền trung ương trực tiếp thực hiện. Đi đôi với quan điểm này là việc không cho
phép ngân sách địa phương bội chi. Cách xác định phạm vi tính bội chi ngân sách hẹp như vậy
là nhằm thiết lập kỷ luật tài chính tổng thể trong điều kiện năng lực quản lý có nhiều hạn chế.
Luật Ngân sách nhà nước Việt Nam năm 2002 hiểu theo nghĩa này (xem khoản 3 điều 8 Luật
NSNN 2002).
(2) Xác định các khoản thu, chi trong cân đối ngân sách nhà nước
- Trên thực tế, tùy thuộc vào mục đích chính trị, mục tiêu của chính sách tài khóa…
mỗi nền kinh tế sẽ có những quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Chẳng hạn, khoản vay nợ qua phát hành trái phiếu và viện trợ (nếu có) có nên ghi vào
cân đối NSNN hay không thì câu trả lời đôi khi là khác nhau giữa các quốc gia. Nhật Bản ghi
các khoản này vào số thu NSNN hàng năm, trong khi Mỹ thì đưa các khoản này để xử lý bội
chi NSNN. Ở Việt Nam, Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 quy định tính các khoản viện trợ
không hoàn lại vào thu ngân nhưng không tính các khoản vay nợ kể cả trong và ngoài nước.
Việc ghi các khoản này vào số thu NSNN hàng năm để cân đối NSNN nổi lên hai vấn
đề cần xem xét: (i) nếu đưa các khoản này vào cân đối NSNN, thì sẽ làm cho mức bội chi
NSNN trở nên nhỏ hơn. Ở mức độ nào đó, đây cũng là cách để các nhà chính trị vẽ lại bức
tranh cân đối NSNN tốt hơn, qua đó không làm mất đi tín nhiệm đối với cử tri về năng lực
quản lý chính phủ; (ii) tuy vậy, việc đưa khoản này vào cân đối NSNN sẽ làm gia tăng rủi ro
tiềm ẩn đối với cân đối NSNN, tính ổn định của NSNN không cao. Và gánh nặng nợ là mối đe
dọa lớn đến tính ổn định của nền tài chính quốc gia trong dài hạn.
Trong trường hợp muốn so sánh với quốc gia khác trong bối cảnh mức độ lạm phát của
hai quốc gia là khác nhau, hoặc khắc phục tình trạng bội chi bị đánh giá quá cao do lạm phát
(đặc biệt là đối với những nước có mức lạm phát và nợ công cao) thì bội chi NSNN là bội chi
ngân sách nghiệp vụ. Bởi vì, lạm phát sẽ làm giảm giá trị thực số dư nợ danh nghĩa của khu
vực công, khi chính phủ trả lãi tiền vay thì một phần trong đó mang tính chất hoàn lại tiền gốc
đã bị trượt giá theo năm tháng cho chủ thể cho vay. Khi tính bội chi NSNN nếu phần này
không được loại ra thì mức bội chi thực chất đã bị đánh giá cao hơn mức bội chi thực sự.
Bội chi ngân sách nghiệp vụ = Bội chi ngân sách qui ước – trả lãi do lạm phát = Bội
chi ngân sách căn bản + trả lãi thực
(trả lãi danh nghĩa = trả lãi do lạm phát+ trả lãi thực)
Theo thông lệ quốc tế, thu trong cân đối NSNN bao gồm các khoản thu vào quỹ NSNN
mà khoản thu đó không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp. Chi trong
cân đối NSNN là các khoản chi ra từ NSNN được đảm bảo bằng các nguồn thu NSNN trong
cân đối. Điều này cũng có nghĩa là những khoản chi của nhà nước nhưng do các nguồn khác
đảm nhiệm thì không tính vào chi trong cân đối NSNN. Như vậy, theo thông lệ quốc tế, thu
trong cân đối NSNN bao gồm: các khoản thu thuế, phí và các khoản thu khác (kể cả viện trợ
không hoàn lại) mà không bao gồm các khoản vay trong và ngoài nước. Chi trong cân đối
NSNN bao gồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, các khoản chi khác, chi trả lãi vay mà
không bao gồm chi trả nợ gốc tiền vay. Chi trả lãi tiền vay cần được xếp vào chi NSNN vì nó
là hệ quả của việc điều hành chính sách NSNN có bội chi và được chính nguồn thu trong cân
đối NSNN đảm bảo.
Ở Việt Nam hiện nay, cách tính bội chi khác với thông lệ quốc tế này ở điểm là Việt
Nam tính vào chi NSNN tất cả các khoản chi trả nợ cả gốc và lãi. Cách tính này cho kết quả
định lượng bội chi cao hơn so với cách tính không bao gồm trả nợ gốc nhưng thuận tiện khi
nhận thấy được số bội chi của một năm chính bằng các khoản vay bù đắp bội chi trong năm
đó.
(3) Xác định thời gian ghi nhận thu, chi ngân sách nhà nước
Việc phân định thời gian ghi nhận thu, chi NSNN trong cân đối hợp lý sẽ giúp cho
chính phủ tổng kết và đánh giá tình hình tài chính của quốc gia, qua đó có biện pháp điều
chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công. Trên thực tế,
3.4. Tác động của bội chi ngân sách đến nền kinh tế vĩ mô
3.4.1. Ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế
Xuất phát từ đẳng thức kinh tế xác định tổng sản phẩm quốc nội
GDP = C + I + G + NX
Trong đó GDP là tổng sản phẩm quốc nội, C là tiêu dùng tư nhân, I là tổng đầu tư, G là
chi tiêu chính phủ, NX là xuất khẩu ròng
Đưa thêm biến số thuế T vào đằng thức ta có:
(GDP – C – T) + (T – G) = I
S = (GDP – C – T)
S + (T – G) = I
Với S là tiết kiệm tư nhân, (T – G) là tiết kiệm chính phủ, cũng chính là chênh lệch
giữa thu ngân sách và chi ngân sách. Trường hợp (T – G) = 0 tức NSNN cân bằng, trường hợp
(T – G) > 0 NSNN có thặng dư, trường hợp (T – G) < 0 NSNN bội chi. Trong bối cảnh NSNN
bội chi, chính phủ phải tìm cách bù đắp bội chi bằng cách vay trong nước hoặc nước ngoài.
Vay trong nước làm cho tiết kiệm tư nhân giảm, tổng đầu tư giảm; để duy tri được mức tổng
đầu tư chính phủ phải lựa chọn phương án đi vay nước ngoài. Mỗi khi chính phủ chi tiêu quá
một đồng vượt số thu ngân sách, buộc phải tài trợ bằng cách tăng nợ công một đồng.
3.4.2. Ảnh hưởng lạm phát
Về cơ bản, hầu hết chính phủ các nước đều dùng các biện pháp sau để khắc phục bội
chi NSNN: vay trong nước, vay nước ngoài hoặc phát hành tiền. Tùy từng điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể mà các nguồn bù đắp bội chi được sử dụng riêng rẽ hay kết hợp. Từ đó cũng gây
ra tác động lên nền kinh tế khác nhau.
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng cách phát hành trái phiếu
(kể cả phát hành trong nước và phát hành ra nước ngoài), thi tất yếu chính phủ phải trả tiền nợ
gốc và lãi trái phiếu trong tương lai đồng thời gây áp lực lên xã hội bằng việc tăng thuế. Tuy
nhiên bằng cách này, bội chi NSNN sẽ không gây lạm phát và đặc biệt trong trường hợp bội
chi được tài trợ cho các dự án đầu tư sinh lợi thì nó lại là động lực cho sự phát triển của nên
kinh tế trong dài hạn.
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng việc phát hành tiền, hành
động này ngay lập tức làm cho lương tiền cung ứng trong lưu thông tăng. Cung tiền tăng là
Vể cơ cấu kinh tế, từ năm 2000 đến nay, tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng đã
tăng từ 35,4% lên 41,7%, tỷ trọng khu vực nông, lâm thủy sản giảm từ 23,3% xuống 17%.
Điều này phù hợp với định hướng phát triển Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp
vào năm 2020.
Biểu đồ 2
Về kiểm soát lạm phát, lạm phát được giữ ở mức thấp trong năm 2009. Tính
chung cả năm, lạm phát trung bình ở mức 6.88%, hoàn thành mục tiêu kiềm chế lạm
phát dưới 7% của Chính phủ. Đây là một cố gắng vượt bậc của Việt Nam trong điều
hành kinh tế vĩ mô theo hướng tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, trong năm 2010, kiềm
chế lạm phát sẽ khó khăn hơn nhiều bởi nhiều yếu tố như sự tăng giá của các mặt hàng
nguyên liệu, nhiên liệu trên thế giới, độ trễ của chính sách tiền tệ nới lỏng trong năm
2009, cùng với đó là nhu cầu chi tiêu của Chính Phủ và nhu cầu mở rộng sản xuất kinh
doanh hậu khủng hoảng. Do đó, lạm phát đã trở thành một trong những mối quan ngại
lớn nhất đối với kinh tế Việt Nam trong năm 2010. Thông điệp đầu năm 2010 của Thủ
tướng chính phủ đã khẳng định mục tiêu ổn định vĩ mô, phát triển bền vững được ưu
tiên hàng đầu. Với quyết sách đó, lạm phát sẽ được kiềm chế ở mức chấp nhận được để
đảm bảo tăng trưởng bền vững. Nhiều khả năng, lạm phát trong năm 2010 sẽ được giữ
ở mức dưới 10%.
Thị trường tài chính Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện và phát triển, đã có
đóng góp nhất định trong việc điều tiết cung cầu vốn và cung cấp các phương tiện thanh toán
cho nền kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay thị trường trài chính vẫn còn nhỏ bé, hoạt động yếu kém,
thông tin chưa minh bạch, vẫn chưa tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phân thị
trường. Điều đó phần nào làm giảm đi tính hiệu quả trong việc thực thi chính sách tài chính –
tiền tệ, hạn chế khả năng giúp Chính phủ có thể linh hoạt trong thực thi kế hoạch NSNN.
1.2. Về xã hội
GDP đầu người được cải thiện qua các năm: 639 USD/người năm 2005, 724
USD/người năm 2006, 835 USD/người năm 2007 và đến năm 2009 ước tính đạt 1066
USD/người. Mặc dù những con số trên còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực, song đã
cho thấy quá trình chuyển biến tích cực trong việc gia tăng thu nhập của người dân. Bên cạnh
đó, số hộ giàu tăng lên đồng thời tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm xuống đáng kể. Việt Nam được
hoạt động XNK bằng 101,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước bằng
106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 88,8%; thu
thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng 95,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng
87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí, lệ phí bằng 90,8%.
Công tác thu ngân sách trong những năm gần đây:
Biểu đồ 3
Tính ra, trong giai đoạn 2005-2009, tổng số thu NSNN tăng khá về con số tuyệt đối,
tốc độ tăng trung bình là 14,15% mỗi năm.
Tỷ lệ động viên GDP vào NSNN khá ổn định qua các năm, trung bình đạt 28,64%
GDP trong giai đoạn 2005 - 2008:
Biểu đồ 4
Tốc độ tăng thu nội địa tăng qua các năm với tốc độ khá lớn, trong giai đoạn 2004-
2007 trung bình đạt 23,66% thể hiện thu NSNN ngày càng tận dụng hơn nữa sức mạnh nội tại
của nền kinh tế.
Biểu đồ 5
2.1.2. Những bất cập trong khai thác nguồn thu
Trốn thuế và lậu thuế đang là vấn đề nan giải hiện nay ở Việt Nam. Bên cạnh đó, thất
thu thuế còn do có nhiều khoản thu chưa được khai thác tương ứng với tiềm năng. Chẳng hạn,
thuế thu nhập đối với cá nhân có thu nhập cao tuy tăng dần nhưng chỉ đóng góp một tỷ trọng
nhỏ trong thu nội địa (năm 2005: 3,5%, năm 2006: 3,6% và năm 2007: 4,05%, ƯTH năm
2008: 4,86%, DT năm 2009: 6,24%) trong khi GDP và thu nhập bình quân đầu người trong
giai đoạn này tăng trưởng khá. Rõ ràng vai trò điều tiết thu nhập mà Nhà nước hướng tới khi
xây dựng sắc thuế này là chưa thực hiện được. Đối với các khoản thuế GTGT và thuế TNDN
thực tế sự “ăn chia” tiền thuế của Nhà nước giữa cán bộ quản lý thuế với doanh nghiệp là rất
phổ biến.
Việc quản lý công sản, đặc biệt là tài nguyên đất thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập,
điều này đã làm hạn chế việc khai thác nguồn lực tài chính phục vụ đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng, phục vụ chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo, tạo áp lực cho cân đối NSNN.
2.2. Thực trạng chi ngân sách
2.2.1. Kết quả chi trong những năm gần đây
với con số tương ứng của Thái Lan, Singapore và Philippines. Đây thực sự là một thách thức
lớn đối với cân bằng ngân sách trong những năm tới đối với Việt Nam.
Chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên của NSNN
2005 2006 2007 ƯTH 2008 BQ
% Tốc độ tăng chi TX 22,55 22,31 26,50 28,25 24,90
% Tốc độ tăng ĐTPT 19,79 11,54 18,07 12,94 15,59
% Chi TX/Tổng chi 50,37 52,54 53,77 57,06 53,44
% Chi ĐTPT/Tổng chi 30,15 28,68 28,08 25,60 28,13
% Chi ĐTPT/GDP 9,63 9,23 9,40 8,24 9,13
(Nguồn: Bộ Tài Chính)
Bảng 2
Chi thường xuyên tăng với tốc độ lớn trong những năm gần đây (từ mức 22,31% năm
2006 lên mức 26,5% và 28,25 các năm 2007 và 2008). Tốc độ tăng chi đầu tư phát triển khá
khác nhau giữa các năm (năm 2005 là 19,79% trong khi năm 2006 chỉ ở mức 11,54%). Có thể
thấy, tốc độ tăng chi thường xuyên lớn hơn tốc độ tăng chi đầu tư phát triển.
Vể cơ cấu chi NSNN, chi thường xuyên chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng chi
NSNN, từ 50,37% năm 2005 lên mức 53,77% năm 2007. Theo dự toán năm 2010, tỷ lệ này
lên mức 57,64%, một mức khá cao. Do đó, trong thời gian tới, chi thường xuyên đòi hỏi phải
được điều hành ở mức chi ổn định và vừa phải. Trong khi đó, tỷ lệ chi ĐTPT/Tổng chi có xu
hướng giảm dần do những năm gần đây, nhu cầu chi thường xuyên của NSNN gia tăng, cùng
với đó sự tham gia tốt hơn của nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước và dân cư trong tổng
vốn đầu tư toàn xã hội. Tỷ lệ ĐTPT/GDP tương đối ổn định, trung bình đạt 9,13%, ước tính
năm 2008 đạt 8,24%. Qua các năm, tỷ lệ này lớn hơn tỷ lệ bội chi NSNN/GDP. Điều này
chứng tỏ nguyên tắc cân đối NSNN được quy định trong điều 8 Luật NSNN được tôn trọng
triệt để: “trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới
cân bằng thu, chi ngân sách”.
2.2.3. Những thành tựu đạt được
Kỷ luật tài khóa tổng thể được tôn trọng, phân bổ và sử dụng nguồn lực đã hợp lý hơn.
NSNN tập trung vào những khoản chi cơ bản làm nền tảng phát triển kinh tế – xã hội, bố trí
cho các các công trình dự án trọng điểm quốc gia, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển sự
thống nhất giữa nhiều ngành nhiều cấp. Chú trọng cho chi đầu tư phát triển là cần thiết, song,
do cơ chế quản lý ngân sách theo đầu vào nên chưa tạo được sự phối hợp cân đối giữa chi đầu
tư phát triển và chi thường xuyên, dẫn đến tình trạng thiếu linh hoạt trong sự điều phối nguồn
lực trong nội bộ các ngành: có ngành chi đầu tư phát triển quá cao so với những khoản chi
thường xuyên cần thiết; ngược lại đối với một số ngành khác. Chính sự thiếu phối hợp này đưa
đến hiệu quả chi thấp. Chẳng hạn như, sự bất cập và chậm trễ trong hoạt động bảo dưỡng, cải
tạo hệ thống thủy lợi và thoát nước đã làm xói mòn hiệu quả của nguồn vốn phân bổ trong lĩnh
vực nông nghiệp. Xu hướng phổ biến hiện nay là chú trọng quá mức tới việc xây mới trong
khi không quan tâm đúng mức tới việc bảo dưỡng và duy trì hệ thống tưới tiêu hiện có; trong
khi đó, hoạt động bảo dưỡng và quản lý hệ thống thủy lợi và tưới tiêu không chỉ tạo ra nhiều
việc làm mà còn giúp nâng cao năng suất nông nghiệp.
Về chi lương, hiện nay quỹ lương của ta chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng chi thường
xuyên nhưng mức lương của cán bộ, công nhân viên rất thấp, đó là một bất hợp lý. Việc cải
cách tiền lương chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là cải cách về tổ chức các cơ quan công
quyền, cải cách về quy chế công chức, tinh giản biên chế nhằm trả lương đúng với yêu cầu của
công vụ, cho những người đủ khả năng đáp ứng yêu cầu công vụ của nhà nước.
Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng khi đánh giá tình hình phân bổ và sử dụng
nguồn lực tài chính Nhà nước, đó là: chi NSNN vẫn chưa dứt bỏ hoàn toàn cơ chế bao cấp,
không tính đến hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực tài chính Nhà nước. Tình trạng cấp vốn lưu
động, gia hạn nợ đọng thuế hoặc khoanh nợ, đảo nợ, giảm nợ… cho các DNNN làm ăn thua lỗ
vẫn tiếp tục diễn ra. Điều này, về lâu dài không những có hại cho chính doanh nghiệp mà còn
tạo nên gánh nặng cho NSNN, vì những doanh nghiệp yếu kém thường thiếu sức cạnh tranh,
không giải quyết được nợ nần dây dưa gây hại đến cả hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, các
hoạt động đầu tư bằng vốn NSNN không thật sự được công khai hóa, sự phân định trách
nhiệm thiếu minh bạch, thiếu sự giám sát toàn diện từ công chúng, năng lực quản lý của các
bộ ngành yếu kém không theo kịp xu hướng phát triển của nền kinh tế. Kết quả là tình trạng
thất thoát, lãng phí vốn đầu tư XDCB của NSNN diễn ra rất phổ biến. Và, một khi khoản chi
không được sử dụng hiệu quả thì mục đích của việc vay nợ và khía cạnh tích cực của bội chi
ngân sách sẽ không được phát huy. Tác động của việc này là làm gia tăng các nghĩa vụ nợ
tương 23ang23ho chính phủ, và do đó, gia tăng cả bội chi NSNN trong tương lai.
100% thì địa phương sẽ được hưởng toàn bộ số thu phân chia theo tỷ lệ, phần còn thiếu sẽ
được cấp bổ sung. Trường hợp tỷ lệ này là 100% nghĩa là tỉnh tự cân đối. Trường hợp tỷ lệ
này nhỏ hơn 100% thì NSTW sẽ điều tiết bớt nguồn thu phát sinh trên địa bàn địa phương này.
Như vậy, ngân sách trung ương phải thực hiện nhiệm vụ cân đối cho các ngân sách cấp
tỉnh, hay thực tế là phải bao cấp cho các tỉnh không thể tự đảm bảo được chi ngân sách với số
chi NSĐP lớn hơn tổng số thu địa phương được hưởng 100% và số thu phân chia. Theo số liệu
thống kê, trong giai đoạn 1996 - 2003 cả nước có trên 60 tỉnh – thành nhưng chỉ có 5 tỉnh –
thành tự cân đối được ngân sách, trên 55 tỉnh thành còn lại trung ương phải cấp bổ sung. Sang
giai đoạn từ năm 2004 đến nay, cùng với chính sách đẩy mạnh phi tập trung hóa trong quản lý
NSNN, địa phương được mở rộng quyền tự chủ hơn, một số loại thuế trước đây thuộc khoản
thu 100% của NSTW, nay được chuyển thành khoản thu phân chia theo tỷ lệ giữa NSTW và
NSĐP, như: toàn bộ thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa, dịch vụ trong nước. Hiện nay chỉ có 11
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có tỉ lệ phân chia nhỏ hơn 100%, tức là không phải nhận
trợ cấp từ NSTW, bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh
Hòa, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Cần Thơ.
2.4. Bội chi ngân sách nhà nước
2.4.1. Mức độ bội chi ngân sách trong thời gian qua
Năm 2009, nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp
lý, bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ đã sử dụng gói kích cầu khoảng 145.000 tỷ đồng (tương
đương 8 tỷ USD). Quốc hội đã đồng ý tăng bội chi từ 4,82% GDP lên dưới 6,9%. Ước bội chi
ngân sách Nhà nước năm 2009 bằng 6,9% GDP, từ mức 87.300 tỷ đồng lên 115.900 tỷ đồng,
tăng 28.600 tỷ đồng so với dự toán. Số tăng bội chi ngân sách Nhà nước được sử dụng toàn bộ
cho đầu tư phát triển theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, tập trung để thu hồi
ứng chi của ngân sách Trung ương cho các công trình, dự án kích thích kinh tế đã được Quốc
hội cho phép thực hiện.
Biểu đồ 8