MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
BẢNG BIỂU
ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của chuyên đề
Xăng dầu là sản phẩm có vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực sản xuất
và đời sống xã hội. Trên phương diện kinh tế, giá trị của mọi sản phẩm hàng hoá
dịch vụ ít nhiều đều chứa đựng giá trị của xăng dầu. Có thể nói: Kinh tế - xã hội
ngày càng phát triển thì nhu cầu xăng dầu ngày càng lớn và vai trò của xăng dầu
ngày càng trở nên quan trọng.
Thời gian qua, mặc dù trên thị trường xăng dầu thế giới có những biến động
rất lớn, đặc biệt là giả cả diễn biến rất khó lường, nhưng thị trường xăng dầu trong
nước vẫn ngày càng phát triển: Quy mô thị trường xăng dầu ngày càng tăng, đã có
nhiều chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường và le lói yếu tố cạnh tranh, giá cả
xăng dầu bị ảnh hưởng của thị trường nhưng có sự điều tiết của Nhà nước nên cơ
bản ổn định, không có xáo trộn lớn, hệ thống phân phối xăng dầu trên thị trường
Việt Nam không ngừng được mở rộng và phát triển.
Tuy nhiên, hiện nay thị trường xăng dầu nước ta chưa vận hành đúng với cơ
chế thị trường, yếu tố cạnh tranh trên thị trường hiện nay chưa thực sự được phát
huy, thị trường xăng dầu cơ bản vẫn do Nhà nước độc quyền, Chính phủ vẫn trực
tiếp kiểm soát toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu. Giá cả thị trường xăng
dầu còn chịu sự chi phối quá lớn của các chính sách của Nhà nước làm cho kết quả
kinh doanh không phản ánh đầy đủ và trung thực hoạt động kinh doanh xăng dầu.
Thị trường xăng dầu Việt Nam suốt từ năm ra đời đến nay cơ bản phụ thuộc vào
nguồn nhập khẩu, Xăng dầu sử dụng và tiêu dùng trong nước chủ yếu vẫn được
nhập từ nước ngoài, đây là mặt hàng có tỷ trọng lớn trong những mặt hàng nhập
khẩu ở nước ta.
Cho đến nay, mặc dù ở nước ta đã có 11 doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu và
tham gia phân phối xăng dầu, nhưng Tập đoàn xăng dầu Việt Nam - Petrolimex
luôn là doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường trong nước (chiếm khoảng 60% thị
- Luận giải cơ sở lý luận và nhận diện các nhân tố tác động đến thị trường
xăng dầu ở Việt Nam;
- Phân tích và đánh giá sự tác động của các nhân tố tác động tới sự phát triển
thị trường xăng dầu ở Việt Nam trong những năm qua;
2
- Dự báo các nhân tố tác động đến sự vận động của thị trường xăng dầu Việt
Nam đến năm 2020;
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp để tăng cường sự tác động của các nhân
tố nhằm chuyển thị trường xăng dầu hiện nay vận hành theo đúng quy luật thị
trường.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Những nhân tố cơ bản tác động tới sự vận động của thị
trường xăng dầu Việt Nam đối với những sản phẩm xăng dầu chính (Xăng động cơ,
Dầu Diesel, Dầu Mazut, Dầu hỏa) phục vụ cho nhu cầu giao thông vận tải (xe cơ
giới, tàu thuyền), cho các hoạt động công nghiệp (lò đốt, nhà máy nhiệt điện…),
hoặc nhu cầu tiêu dùng cá nhân (phương tiện đi lại, chạy máy phát điện gia đình,
bơm nước, đun nấu…). Do đối tượng và phạm vi nghiên cứu của thị trường xăng
dầu rất rộng, từ các khâu thuộc lĩnh vực thượng nguồn như: Tìm kiếm, thăm dò,
khai thác (cả ở trên bờ lẫn ngoài khơi), các khâu tồn trữ, chế biến (lọc, hóa dầu),
vận chuyển đến lĩnh vực hạ nguồn như: Bảo quản, phân phối, tiêu thụ (nhập khẩu,
bán buôn, bán lẻ). Ở trong mỗi khâu này lại bao gồm rất nhiều công đoạn yêu cầu
công nghệ, kỹ thuật, phương thức kinh doanh… khác nhau. Trong khuôn khổ nhất
định, Chuyên đề chỉ đi sâu phân tích lĩnh vực hạ nguồn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Các nhân tố tác động tới các yếu tố của thị trường xăng
dầu ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay với các số liệu thứ cấp về thị trường xăng dầu
Việt Nam và số liệu sơ cấp về các nhân tố tác động đến phát triển thị trường xăng
dầu ở Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu dự kiến
Tác giả dự kiến sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng các phương pháp phổ biến nghiên cứu
nghĩa đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn thực sự thúc đẩy sản xuất, góp phần ổn
định giá cả, kiềm chế lạm phát, tăng tích lũy cho Ngân sách Nhà nước.
Thời gian qua, giá cả xăng dầu trên thế giới đã liên tục diễn biến rất phức tạp,
Giá xăng dầu mang đầy màu sắc chính trị và rất nhạy cảm với tình hình chính trị - kinh
tế - quân sự của thế giới và được biểu hiện qua cung - cầu.
Giá cả biến động đã ảnh hưởng rất lớn dẫn đến nhiều nước rơi vào suy thoái
và lạm phát. Cuộc khủng hoảng toàn cầu từ năm 2008 đã làm chấn động đến đời sống
chính trị - kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới, kể một số nền kinh tế lớn như:
Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga… cũng bị đảo lộn, một trong những nguyên nhân
chủ yếu là do sự biến động của giá dầu trên thế giới.
Đứng trước khó khăn của nền kinh tế do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng,
Chính phủ Việt Nam sử dụng rất nhiểu cơ chế, biện pháp trong đó đã can thiệp vào
5
cơ chế giá xăng dầu bằng rất nhiều hình thức khác nhau, sử dụng các công cụ như:
Thuế, phí, quỹ hỗ trợ bình ổn giá xăng dầu…để điều tiết cơ chế giá nhằm ổn định
giá bán xăng dầu trong nước, giảm thiểu ảnh hưởng của biến động giá tới nền kinh
tế quốc dân.
1.1.2. Đặc điểm của thị trường xăng dầu
Thị trường xăng dầu ở Việt Nam được điều tiết bởi cơ chế quản lý của Nhà
nước, Nhà nước can thiệp rất sâu vào thị trường.
1.1.2.1. Nhà nước can thiệp vào thị trường xăng dầu bằng chính sách giá
Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để từng bước mở
rộng quyền chủ động điều chỉnh giá cho các doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp
không thực sự được quyết định giá bán xăng dầu.
Nguyên tắc quản lý giá bán xăng dầu
Điều 27, Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ quy
định nguyên tắc quản lý giá bán xăng dầu
a- Giá bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
Nhà nước;
b- Thương nhân đầu mối được quyền quyết định giá bán buôn; việc điều
sách thì Nhà nước lại tăng thuế để đảm bảo nguồn thu. Song khi tăng thuế thì lại
kéo theo rất bất lợi cho nền kinh tế - xã hội.
1.1.2.3. Nhà nước can thiệp vào thị trường xăng dầu bằng cách bù lỗ cho các
doanh nghiệp
Để ổn định thị trường, Nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp đầu mối phải
thực hiện nghĩa vụ nhập khẩu xăng dầu kể cả những thời điểm giá xăng dầu thế giới
có những biến động lớn. Các doanh nghiệp đồng thời phải đảm bảo có đủ nguồn
hàng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xăng dầu của xã hội nhưng chỉ được điều chỉnh
giá trong phạm vi cho phép để ổn định kinh tế vĩ mô. Các doanh nghiệp lớn như:
Petrolimex, PVOIL, PETEC…phải thực hiện nhập khẩu đúng tiến độ, bán đúng giá
7
mà còn phải thực hiện nhiệm vụ chính trị là đảm bảo có nguồn xăng dầu bán theo
giá quy định tại các vùng núi, hải đảo xa xôi dẫn đến việc các doanh nghiệp bị lỗ
lớn trong nhiều thời điểm. Để khắc phục tình trạng này những năm qua, Nhà nước
đã bù lỗ khoản tiền rất lớn cho doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu.
1.1.2.4. Nhà nước chỉ cho phép các doanh nghiệp có đủ điều kiện mới được
kinh doanh xăng dầu
- Xăng dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, theo quy định tại Nghị định
số Số: 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ thì các Thương nhân có đủ
các điều kiện quy định dưới đây được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập
khẩu xăng dầu:
+ Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký kinh doanh xăng dầu;
+ Có cầu cảng chuyên dụng nằm trong hệ thống cảng quốc tế của Việt Nam,
bảo đảm tiếp nhận được tầu chở xăng dầu nhập khẩu hoặc phương tiện vận tải xăng
dầu khác có trọng tải tối thiểu 7.000 tấn (bảy ngàn tấn), thuộc sở hữu doanh nghiệp
hoặc đồng sở hữu hoặc thuê dài hạn từ 05 (năm) năm trở lên;
+ Có kho tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu dung tích tối thiểu 15.000 m
3
(mười
Xăng dầu là loại hàng hoá có tính đặc thù, vì vậy ngoài việc tuân thủ các quy
luật của thị trường như: Quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá cả … như
các loại hàng hoá khác thì thị trường xăng dầu còn có những đặc điểm riêng:
- Khi kinh doanh xăng dầu trên thị trường đòi hỏi việc đảm bảo tuyệt đối an
toàn; công tác phòng chống cháy nổ là hoạt động rất quan trọng, có ý nghĩa sống
còn. Mặt hàng xăng dầu có những tính chất lý hóa riêng, trong thành phần của Xăng
dầu có nhiều hoá chất độc hại cho cơ thể con người như: Lưu huỳnh, chì, Octan;
mùi của xăng dầu rất độc, ảnh hưởng lớn đến môi trường, nếu như xăng dầu bị rơi
vãi có thể phá huỷ môi trường sinh thái do đó cần đặc biệt lưu ý đến các biện pháp
bảo vệ môi trường, phòng ngừa độc hại cho con người khi tham gia kinh doanh
xăng dầu.
- Thị trường xăng dầu chịu tác động lớn từ các quan hệ chính trị quốc tế và
9
trong nước, vì vậy thị trường xăng dầu phải được đặt trong tổng thể các mối quan
hệ quốc tế và chủ trương, đường lối đối ngoại của quốc gia. Ở nhiều thời điểm (đặc
biệt là từ khi xảy ra cuộc chiến tranh giữa Mỹ là Liên quân với Irắc năm 2003) giá
dầu trên thị trường thế giới biến động rất mạnh, các nước lớn như: Mỹ, Anh,
Pháp… đều tranh giành quyền kiểm soát dầu mỏ ở khu vực Vùng Vịnh, các nước
này luôn sử dụng chiêu bài cấm vận và gây áp lực tới các nước có nguồn dầu mỏ
lớn như: Iran, Syry… nhằm thâu tóm nguồn lợi về mình, mặt khác mặt hàng xăng
dầu được coi như là “vũ khí lợi hại” trong các quan hệ về chính trị - quân sự trên
bình diện quốc tế.
- Thị trường xăng dầu phụ thuộc rất nhiều vào kinh tế quốc tế và mỗi nước,
thời gian qua (điển hình là năm 2008) đã chứng kiến sự sụp đổ đồng loạt của nhiều
định chế tài chính khổng lồ, hàng loạt các sự kiện tồi tệ chưa từng có trong hàng trăm
năm qua đã xảy ra. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, thị trường xăng dầu đã
trải qua những biến động lớn nhất trong lịch sử, Giá dầu mỏ ở đầu năm 2008 từ khoảng
90 USD/thùng leo lên 100 USD/ thùng vào ngày 20/02/2008 và đạt mức kỷ lục 147
USD/thùng trong ngày 11/07/2008, ngay sau đó giá lại rơi vào giai đoạn tụt dốc, ngày
19/02/2009 giá dầu ở mức thấp nhất trong nhiều năm gần đây: Chỉ còn 34,64
9,526,981 6,074,812,183 10,856,771 10,038,986,271
Xăng 1,967,643 1,398,079,645 2,239,126 2,306,831,414
Diesel 4,914,777 3,238,246,448 5,602,846 5,440,254,033
Mazut 1,779,740 807,275,283 2,028,904 1,291,640,453
Nhiên liệu bay 832,857 609,893,964 949,457 963,632,463
Dầu hoả 31,964 21,316,843 36,439 36,627,908
Nguồn: Vinanet - Bộ công thương
Nguồn xăng dầu ở nước ta hiện nay cơ bản được nhập khẩu từ nước ngoài,
những mặt hàng xăng dầu chủ yếu được các Doanh nghiệp đầu mối kinh doanh
xăng dầu ở Việt Nam nhập khẩu là: Xăng; Dầu Diesel (DO), Dầu mazút (FO),
Nhiên liệu máy bay, Dầu hoả.
- Thị trường nhập khẩu: Nước ta nhập khẩu xăng dầu từ các thị trường ở
nhiều nước trên thế giới: Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Thái
Lan, Indonesia, Malaysia, nhưng nguồn nhập khẩu chủ yếu chiếm tỷ trọng cao là ở
các thị trường: Singapore, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc.
Bảng 1.2: Thị trường nhập khẩu xăng dầu năm 2010, 2011
11
Tên Quốc gia
nhập khẩu
Năm 2010 Năm 2011
Lượng Trị giá Lượng Trị giá
(tấn) (1.000 USD) (tấn) (1.000 USD)
Tổng cộng
9,526,981 6,074,812,183 10,856,771 10,038,986,271
Đài Loan 1,151,987 787,433,625 1,420,944 1,389,365,457
Hàn Quốc 1,207,076 808,571,449 1,116,283 1,095,288,360
Hồng Kông 15,529 16,620,424 17,722 17,279,577
Malaysia 713,003 353,428,433 501,362 38,261,664
Nga 291,725 187,654,445 206,942 186,340,352
Nhật Bản 68,147 46,253,122 126,797 116,426,734
cầu hàng hóa.
Tổng nhu cầu xăng dầu bao gồm: Nhu cầu cho giao thông vận tải, công
nghiệp, thương mại dịch vụ, an ninh - quốc phòng, nhu cầu cho tái xuất, nhu cầu
cho bổ sung dự trữ.
Cầu xăng dầu vận động theo xu hướng tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hóa, khi
giá cao thì nhu cầu nhu cầu giảm do người tiêu dùng sử dụng tiết kiệm để cắt giảm
chi phí, mặt khác khi giá cả giảm thì nhu cầu tăng lên. Tuy nhiên xăng dầu là mặt
hàng thiết yếu nên nhiều khi giá có tăng hoặc giảm mạnh thì người tiêu dùng vẫn
bắt buộc phái sử dụng một lượng xăng dầu nhất định chứ không thể thay thế xăng
dầu bằng mặt hàng khác.
Ngoài tác động của giá cả, cầu xăng dầu còn chịu tác động của các nhân tố:
Thu nhập của người dân, nguồn cung xăng dầu, quy mô của thị trường, giá cả của
những hàng hóa khác có liên quan, mong muốn của người tiêu dùng.
- Giá cả
Giá cả của xăng dầu là sự biểu hiện bằng tiền của của giá trị hàng hóa trên
thị trường. Giá cả xăng dầu lên xuống xoay quanh giá trị thực của nó và chịu tác
động của các quy luật nền kinh tế thị trường như: Quy luật cung cầu, quy luật giá
trị, quy luật cạnh tranh…
Giá cả xăng dầu là một đại lượng biến động liên tục do những nhân tố ảnh
hưởng đến thị trường. Người mua xăng dầu đại diện cho cầu hàng hóa, còn người
bán xăng dầu thì đại diện cho cung hàng hóa, theo quy luật thị trường thì người mua
luôn mong muốn mua được hàng với giá thấp, còn người bán thì luôn mong muốn
bán với giá cao. Tuy nhiên giá cả của xăng dầu được hình thành trên thị trường là
13
mức giá mà người mua và người bán đều chấp nhận được.
Giá cả xăng dầu chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như: Tình hình chính
trị - kinh tế thế giới, quan hệ cung cầu…
Xăng dầu là mặt hàng quan trọng cần thiết cho hoạt động kinh tế, chính trị
của mọi quốc gia. Giá xăng dầu ngoài việc phụ thuộc vào thời gian còn phụ thuộc
vào rất nhiều biến, trong đó có các biến độc lập lẫn các biến ngẫu nhiên như trạng
doanh xăng dầu; đưa lĩnh vực kinh doanh này hoạt động theo quy luật của thị
trường.
Để có được chiến lược cạnh tranh đúng đắn, các doanh nghiệp cần phải xác
định trạng thái cạnh tranh trên thị trường: Cạnh tranh tự do, cạnh tranh hoàn hảo,
cạnh tranh mang tính độc quyền, cạnh tranh hỗn tạp…
Việc xác định trạng thái cạnh tranh của thị trường xăng dầu hiện nay là cạnh
tranh mang tính độc quyền đã cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu sớm
nhận biết được cách thức để làm việc cũng như để đánh giá chính xác hơn các
phương pháp mà doanh nghiệp đang tiến hành để giành thắng lợi trong kinh doanh.
Các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trước hết là tác động tới việc giảm lợi
nhuận siêu ngạch do độc quyền mang lại, tiếp đến là quá trình tiết giảm chi phí để
tăng khả năng cạnh tranh dẫn lợi nhuận giảm. Sự cạnh tranh này làm cho đường vận
động của xăng dầu được điều chỉnh từ các cảng nhập đầu mối đến nơi tiêu thụ bằng
con đường ngắn nhất, bằng phương tiện vận chuyển có giá cước thấp nhất và ít qua
khâu trung gian nhất, đó là lợi ích chung của toàn xã hội khi hình thành được chi
phí tối ưu để lưu thông hàng hóa. Xét trên góc độ của người tiêu dùng, cạnh tranh
làm cho người tiêu dùng được quyền lựa chọn các mặt hàng xăng dầu tốt nhất, tại
địa điểm mong muốn nhất với giá cả hợp lý.
1.3. Những nội dung cơ bản về phát triển thị trường xăng dầu, động thái phát
triển thị trường xăng dầu
1.3.1. Những nội dung cơ bản về phát triển thị trường xăng dầu
Có thể quan niệm: Phát triển thị trường xăng dầu là tổng hợp các cơ chế, các
biện pháp của Nhà nước và cách thức của các doanh nghiệp nhằm đưa khối lượng
15
xăng dầu tiêu thụ trên thị trường đạt mức tối đa, từ đó mở rộng được thị phần, tăng
quy mô kinh doanh, tăng được lợi nhuận và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Nội dung về phát triển thị trường xăng dầu bao hàm nhiều vấn đề, có thể tiếp
cận hai góc độ:
a. Phát triển theo hình thức thị trường, nội dung phát triển thị trường
xăng dầu gồm:
- Phát triển khách hàng: Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu sẽ tìm mọi
cách để tăng số lượng người mua các sản phẩm xăng dầu.
Để phát triển thị trường theo hướng này thì các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu phải đẩy mạnh các hoạt động marketing mà chủ yếu là phát triển các hình
thức quảng cáo, tiếp xúc với khách hàng, các họat động yểm trợ xúc tiến bán hàng.
Có như vậy thì doanh nghiệp mới tăng được số lượng xăng dầu bán ra do lượng
khách hàng mua tăng lên, dẫn đến doanh số bán hàng tăng lên.
- Phát triển mặt hàng: Theo hướng này, các doanh nghiệp đầu mối kinh
doanh xăng dầu tìm cách phát triển thị trường bằng việc đưa vào kinh doanh các
mặt hàng xăng dầu mới như Xăng Mgas 98, Dầu Diesel chất lượng cao hơn các
loại dầu hiện có trên thị trường. Các chủng loại xăng dầu mới này có thể khai
thác bằng nguồn nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước trong thời gian tới.
Phát triển thị trường theo hướng này, các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu
xăng dầu phải đấy mạnh các họat động nghiên cứu thị trường để nắm bắt nhu cầu
mới của khách hàng cũng như các họat động marketing quảng bá sản phẩm tới
người tiêu dùng, khi đó doanh nghiệp sẽ tăng được chủng lọai xăng dầu cung ứng ra
thị trường, kết quả sẽ tăng được doanh số bán hàng và lợi nhuận cũng tăng lên.
- Mở rộng phạm vi địa lý: Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu sẽ xâm
nhập vào thị trường mới để mở rộng tiêu thụ.
Để phát triển thị trường theo hướng này thì các doanh nghiệp phải đẩy mạnh
các họat động nghiên cứu khu vực thị trường mới, nếu thành công thì các doanh nghiệp
kinh doanh xăng dầu sẽ mở rộng thị trường về mặt không gian, số lượng người mua
17
tăng, mặt khác số lượng sản phẩm tiêu thụ cũng tăng lên do thị trường tiêu thụ được
mở rộng dẫn đến doanh thu và lợi nhuận cũng sẽ tăng.
1.3.2. Động thái phát triển thị trường xăng dầu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã khẳng định quyết tâm của
Đảng ta: Kiên quyết xoá bỏ quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với
khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế.
Tư tưởng đổi mới của Đại hội VI đã tạo ra sự chuyển động mạnh mẽ trong
STT Năm
Lượng tiêu dùng XD
BQ/người (tấn/người)
Tỷ lệ tăng trưởng
(%)
1 1995 0,06 -
2 2000 0,10 66
3 2011 0,16 60
Nguồn: Vinanet - Bộ công thương
Trong đó, nhu cầu xăng có xu hưởng tăng cao còn DO, FO, nhiên liệu máy
bay, Kerosene có xu hướng giảm. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ xăng, dầu của Việt Nam
chủ yếu tập trung ở khu vực: Giao thông vận tải, Công nghiệp, Thương mại và dịch
vụ, Nông nghiệp…
Nhu cầu tiêu dùng xăng dầu đa dạng của các hộ tiêu thụ sẽ được đáp ứng đầy
đủ, thị trường xăng dầu tới đây phát triển theo quy luật của thị trường.
- Giá cả: Thị trường xăng dầu Việt Nam đã từng bước hòa nhập với thị
trường xăng dầu của thế giới. Giá cả xăng dầu dần phải tuân theo quy luật của thị
trường.
Doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu được tự chủ kinh doanh, chủ
động điều chỉnh giá bán, cơ chế này sẽ giúp thị trường linh hoạt với diễn biến giá
xăng dầu thế giới. Đối với người tiêu dùng, điều dễ nhận thấy là sẽ được hưởng cơ
chế giá sát với thị trường, đồng thời có được lợi ích từ sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp tạo ra.
Tuy nhiên, Nhà nước vẫn có khung pháp lý để quản lý hoạt động kinh doanh
và nhất là giá thành của các doanh nghiệp. Hướng quản lý này nhằm giảm tối thiểu
sai lệch và bất hợp lý trong sản xuất, kinh doanh; nâng cao năng lực thích nghi của
19
doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, bảo đảm cung cầu, không để đầu cơ gây đột
biến về giá cả. Thậm chí, Nhà nước sẽ quản lý mạnh mẽ hơn trong các nguyên tắc
minh bạch tài chính.
kinh doanh trên thị trường quốc tế và thực hiện nhiệm vụ về đảm bảo an ninh xăng
dầu phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước.
1.4. Kinh nghiệm của các nước về điều tiết và phát triển thị trường xăng dầu
1.4.1. Trung Quốc
Trung Quốc nằm ở phần nửa phía bắc của Đông bán cầu, phía đông nam của
đại lục Á - Âu, phía đông và giữa châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương. Trung
Quốc có diện tích: 9,6 triệu km
2
; dân số hơn 1,3 tỷ người.
Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa, phát triển kinh tế thị trường mang
màu sắc Trung Quốc từ năm 1980. Đại hội 15 Đảng cộng sản Trung Quốc (9/1997)
đã đưa ra cương lĩnh xây dựng phát triển kinh tế Trung Quốc đầu thế kỷ 21 với 3
bước lớn:
Bước 1: Từ năm 2000 - 2010, tăng gấp đôi GDP so với năm 2000, nâng cao
đời sống nhân dân từ mức khá giả lên giàu có;
Bước 2: Từ năm 2010 - 2020, kinh tế quốc dân phát triển hơn và các chế độ
hoàn thiện hơn;
Bước 3: Từ năm 2020 - 2049, cơ bản hoàn thành hiện đại hoá, Trung Quốc
trở thành nước XHCN giầu mạnh, dân chủ, văn minh.
Từ đó đến nay nền kinh tế Trung Quốc có mức tăng trưởng cao nhất thế giới,
luôn duy trì ở mức 7% - 9%/năm, vì vậy nhu cầu tiêu dùng xăng dầu ngày càng lớn.
Lượng xăng dầu tiêu thụ của Trung Quốc tăng trưởng hàng năm từ 9% - 10,5%.
Do tiêu thụ xăng dầu rất lớn nên nền kinh tế Trung Quốc ngày càng chịu ảnh
hưởng trước những biến động của giá dầu trên thị trường thế giới, vì vậy Chính phủ
Trung Quốc nhận thức phải thay đổi chế độ định giá cứng nhắc tuy nhiên Trung
Quốc vẫn đang tiến hành từng bước rất thận trọng:
Tháng 6/1998, Chính phủ đã loại bỏ chính sách ấn định giá xăng dầu trong
nhiều thập kỷ trước đó và bắt đầu trao cho những người bán lẻ xăng dầu sự linh
21
động, Chính phủ Trung Quốc thiết lập “giá định hướng của Nhà nước”, cụ thể: Giá
1.4.2. Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một cộng hòa lập hiến liên bang gồm có 50 tiểu bang và một đặc
khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong tây bán cầu, với 3,79 triệu
dặm vuông (9,83 triệu km²) và 305 triệu dân, Hoa Kỳ là quốc gia lớn hạng ba về
tổng diện tích và hạng ba về dân số trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ
lớn nhất trên thế giới, với tổng sản phẩm nội địa (GDP) tính theo PPP năm 2011 là
13.860 tỷ USD (khoảng 21% tổng sản lượng thế giới dựa trên tính theo sức mua
tương đương).
Hoa Kỳ là quốc gia tiêu thụ lượng xăng dầu lớn nhất thế giới do đó bị ảnh
hưởng rất lớn khi giá xăng dầu biến động, Chính phủ Hoa Kỳ thực thi rất nhiều biện
pháp để giữ ổn định thị trường xăng dầu, việc điều tiết thị trường xăng dầu, được
vận dụng rất linh hoạt Luật cạnh tranh và Luật điều tiết giá cả, cụ thể như sau:
- Chính phủ đưa ra nhiều biện pháp để chống các hiện tượng thao túng thị
trường xăng dầu bất hợp pháp;
- Yêu cầu các Công ty năng lượng phải tái đầu tư vào việc mở rộng công suất
của các Nhà máy lọc dầu;
- Minh bạch thị trường xăng dầu bằng hình thức công bố giá bán bình quân
trên các phương tiện thông tin đại chúng để người tiêu dùng biết và có căn cứ lựa
chọn những trạm xăng dầu có giá bán phù hợp. Việc công bố công khai mức giá
bán bình quân đã định hướng cho các trạm xăng đưa ra mức giá cạnh tranh để thu
hút khách hàng;
Chính phủ Hoa Kỳ chủ trương để thị trường vận hành theo quy luật thị
trường, tôn trọng cạnh tranh để các yếu tố của thị trường như: Cung, cầu, giá cả và
cạnh tranh. Các doanh nghiệp tự do kinh doanh trong khuôn khổ của luật pháp Liên
Bang và của từng Bang.
1.4.3. Nhật Bản
Nhật Bản có diện tích tổng cộng là 379.954 km² nằm xoải theo bên sườn
phía đông lục địa châu Á, dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128
23