TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM Sinh viên thực hiện:
PHAN ANH ĐÀO
Mã số sinh viên:
DHH 021092MỘT SỐ PHƯƠNG
PHÁP XỬ LÝ NƯỚC Ô
NHIỄM
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S. NGUYỄN VĂN THẠT
An Giang, năm 2004
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
LỜI CẢM TẠ
-----
WX
-----
Đề tài này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô Khoa
Sư Phạm, Trường Đại Học An Giang và các cô chú, anh chị ở Sở Tài Nguyên Và
Môi Trường. Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đối với:
_ Thầy hướng dẫn : Thạc sĩ
NGUYỄN VĂN THẠT
đã tận tình chỉ bảo
em trong suốt thời gian làm đề tài.
_ Ban Giám Hiệu Trường Đại Học An Giang, Ban Chủ Nhiệm Khoa Sư
Phạm đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ em thực hiện đề tài.
_ Các cô chú, anh chị ở Sở Tài Nguyên Và Môi Trường đã cung cấp cho
em những số liệu cần thiết để bổ sung vào đề tài.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầ
y cô Khoa Sư
Phạm, bộ môn Hóa đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu làm cơ sở cho
em thực hiện đề tài này.
môi trường ngày càng nhiều. Điều đó dẫn tới sự ô nhiễm trầm trọng của môi
trường sống, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của đất nước, sức khỏe, đời
số
ng của nhân dân cũng như vẻ mỹ quan của khu vực.
Trong đó, ô nhiễm nguồn nước là một trong những thực trạng đáng ngại
nhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời. Ngày nay
vấn đề xử lý nước và cung cấp nước sạch đang là một mối quan tâm lớn của
nhiều quốc gia, nhiều tổ chức xã hội và chính bản thân mỗ
i cộng đồng dân cư. Và
đây cũng là một vấn đề cấp bách cần giải quyết của nước ta trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhằm mục đích góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của con người,
em chọn đề tài
“
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XƯ LÝ NƯỚC Ô NHIỄM
“.
Trong đề tài này, em trình bày một cách cô đọng về thực trạng ô nhiễm nguồn
nước và một số phương pháp xử lý nước hiện nay thông qua các tài liệu có liên
quan mà em có điều kiện tham khảo được.
Với sự cố gắng thực sự khi nghiên cứu một vấn đề khoa học nhưng không
thể tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự hướng dẫn và đóng góp của quý
thầy cô và các bạn.Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào MỤC LỤC
Mục lục
..........................................................................................................7
II. Tình trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam.......................................................21
II.1. Tình hình chung..................................................................................21
II.2. Ở đồng bằng Sông Cửu Long ............................................................22
II.3. Ở An Giang.........................................................................................23
C. Phân loại nước ô nhiễm và tính chất của nó
..................................25
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
7
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
I. Phân loại ...................................................................................................25
II. Tính chất ..................................................................................................26
Phần III: Các phương pháp xử lý nước ô nhiễm
......................31
I. Các phương pháp sinh học
..................................................................32
I.1. Các phương pháp hiếu khí.....................................................................33
I.2. Các phương pháp thiếu khí....................................................................35
I.3. Các phương pháp kỵ khí........................................................................35
II. Các phương pháp hóa lý
.....................................................................36
II.1. Lọc qua song chắn rác ..........................................................................36
II.2. Lắng tụ ..................................................................................................37
II.3. Lọc.........................................................................................................38
II.4. Đông tụ và keo tụ ..................................................................................39
II.5. Tuyển nổi...............................................................................................41
II.6. Hấp phụ.................................................................................................45
II.7. Trao đổi ion ...........................................................................................46
II.8 Thẩm thấu ngược...................................................................................47
II.9. Siêu lọc..................................................................................................48
II.10. Thẩm tách và điện thẩm tách ..............................................................49 Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
9
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
PHẦN I:
NHỮNG VẤN ĐỀ
CHUNG
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
10
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
I. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước
nói riêng đang là một thực trạng đáng lo ngại. Vấn đề xử lý nước và cung cấp
nước sạch đang là một mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức xã
hội và chính bản thân của mỗi cộng đồng dân cư, nước ta cũng không ngoại lệ.
Nhằm góp phần vào việc bảo vệ môi trường s
PHẦN II:
TỔNG QUAN
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
12
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
GIỚI THIỆU THÔNG SỐ ĐÁNH
GIÁ SỰ Ô NHIỄM CỦA NƯỚC
THẢI:
• Giá trị pH của nước.
• Hàm lượng chất rắn lơ lửng ở dạng huyền phù (Suspended Solid – SS):
là phần chất rắn không tan bị giữ lại trên giấy lọc tiêu chuẩn. Đơn vị đo: mg/l.
• Màu: thường được xác định bằng phương pháp so màu với các dung
dịch chuẩn là clorophantinat coban. Đơn vị: Pt – Co.
• Tổng cacbon hữu cơ (Total Organic Carbon – TOC): là chỉ số phản ánh
lượng cacbon hữu cơ tổng cộng có trong một m
ẫu vật, được tính bằng tỉ lệ giữa
khối lượng cacbon so với khối lượng hợp chất hữu cơ. Đơn vị: mg/l.
• Nhu cầu oxy tổng cộng (Total Oxygen Demand – TOD): là chỉ số phản
ánh lượng oxy tổng cộng cần thiết để oxy hoá các chất hữu cơ và vô cơ có
trong nước thải. Đơn vị: mg/l.
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
14
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
A. Tình hình ô nhiễm và các vấn đề môi trường trên
thế giới và ở Việt Nam:
I. Tình trạng môi trường thế giới:
Vài thập niên gần đây, khủng hoảng môi trường trầm trọng hơn. Sự
phá hoại sinh thái gia tăng, hố ngăn cách giàu nghèo càng rộng thêm và trẻ em
trở thành những nạn nhân đầu tiên của sự quản lí kém cỏi về môi trường.
Theo một báo cáo quan trọng hàng đầu của Liên Hiệp Quốc về môi
trường ( UNEP ), sự ô nhiễm không khí và nước biên giới tiếp tục gia tăng, theo
đó sự phá rừng mở rộng diện tích sa mạc, s
ự giảm sức sản xuất nông nghiệp, tỉ
lệ gia tăng dân số quá nhanh trong lịch sử nhân loại. Sự tàn phá đó đã dẫn đến
tầm vóc hành tinh và bao gồm sự giảm tầng ozone, sự thay đổi khí hậu và sự
nóng lên toàn cầu, sự gia tăng chất thải độc hại và sự tuyệt chủng của hàng
loạt sinh vật. Báo cáo của GEO-3 ( Báo cáo Viễn cảnh Môi trường Toàn cầu )
nhiễm. 60% trong số 227 con sông lớn nhất thế giới bị chia cắt ở mức cao và
trung bình do xây dựng các đập và các công trình k
ỹ thuật khác.
Các lợi ích gồm tăng sản lượng lương thực và thủy điện. Song các thiệt
hại không thể khôi phục lại xảy ra đối với các vùng đất ngập nước và các hệ
sinh thái khác. Từ những năm thập kỷ 50, đã có 40-80 triệu người đã phải di
dời.
Một phần ba dân số thế giới – tương đương 2 tỷ người phụ thuộc vào
các nguồn cung cấ
p nước ngầm. Ở một số nước như các vùng của Ấn Độ,
Trung Quốc, Tây Á, gồm Bán đảo Arabia, Liên Xô cũ và phía Tây nước Mỹ, các
mực nước ngầm hạ xuống là kết quả của sự khai thác quá mức nguồn nước
này.
Bơm hút quá mức có thể dẫn đến sự xâm nhập mặn ở các vùng ven
biển. Ví dụ, nhiễm mặn đã lấn sâu vào đất liền hơn 10 km ở Madras - Ấ
n Độ -
trong những năm gần đây.
Gần 80 nước, chiếm tới 40% dân số thế giới đang trong tình trạng thiếu
nước nghiêm trọng kể từ giữa thập kỷ 90. Có khoảng 1,1 tỷ người không có
nước sạch an toàn và 2,4 tỷ người được hưởng các điều kiện vệ sinh đã được
cải thiện, chủ yếu ở Châu Phi và Châu Á.
Tuy nhiên, tỷ lệ người dân có được các nguồn c
ấp nước đã được cải
thiện mới chỉ tăng từ 4,1 tỷ người , chiếm 79% dân số thế giới (năm 1990)
đến 4,9 tỷ người, chiếm 82% dân số thế giới (năm 2000).
Thiệt hại do các bệnh liên quan đến nước lại thật sự tăng nhanh. Hai tỷ
người chịu rủi ro vì bệnh sốt rét, trong đó 100 triệu người có thể bị ảnh hưởng
bất cứ
lúc nào và hàng năm số người tử vong vì căn bệnh này là 2 triệu người.
Ngoài ra, có khoảng 4 tỷ trường hợp khác bị mắc bệnh tiêu chảy và số tử vong
như khai thác quá mức gỗ và nhiên liệu, phát triển du lịch và phát triển ven bờ.
Gần 50% việc phá hủy rừng ngập mặn hiện nay là do chặt phá rừng để phát
triển các diện tích nuôi tôm.
Suy giảm và chia cắt các nơi cư trú như rừng, đất ngập nuớc, các bãi lầy
rừng ngập mặn đã làm tăng thêm các áp lực đối với đời sống hoang dã trên thế
giới.
12% hay 1183 loài chim và gần ¼ hay 130 các loài động vật có vú hiện
đ
ang bị đe dọa ở qui mô toàn cầu.
Trong các năm gần đây cùng với sự biến đổi khí hậu, sự xâm lấn của các
loài ngoại lai từ một khu vực thế giới tràn sang các khu vực khác làm nảy sinh
mối đe dọa đáng chú ý. Các loài ngoại lai thường không có các loài thiên địch tự
nhiên ở các nơi cư trú mới và như vậy có thể chiếm lấy nguồn thức ăn và vùng
sinh sản của các loài bản đị
a.
Ước tính từ 1939, có 497 loài ngoại lai sống trong môi trường nước ngọt
và môi trường biển đã xâm nhập vào môi trường thủy sản. Từ 1980-1998, số
loài này ước tính tăng lên 2.214 loài.
Tổng diện tích các khu bảo tồn, như vườn quốc gia đã tăng lên 2,78 triệu
km
2
từ 1970 đến 12,18 triệu ha vào năm 2000. Số lượng các khu vực bảo tồn
tăng từ 3.392 đến 11.496 địa điểm trong cùng thời kỳ. Một cuộc khảo sát 93 khu
bảo tồn cho thấy hầu hết các khu này đã rất thành công trong việc ngăn chặn
khai hoang đất và không mở rộng phạm vi các vấn đề như khai thác gỗ, săn
bắt, cháy rừng và chăn thả gia súc. Qui định ngừng săn bắt cá voi thương m
ại
áp dụng từ giữa thập niên 1980 dường như đã mang lại thành công đáng kể.
• Vùng duyên hải và biển:
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
Ô nhiễm biển là mục tiêu chính của Chương trình biển Khu Vực UNEP,
trong đó có sự ký kết hiệp định biển khu vực Đông Bắc Thái Bình Dương vào
tháng 3/2002, là nơi bao phủ phần lớn môi trường biển của hành tinh.
Các nước đã cùng nhau thông qua Hiệp ước Stockholm về 12 ch
ất ô
nhiễm hữu cơ tồn lưu vào đầu năm 2001.
Gần một phần ba trữ lượng cá thế giới đang ở ngưỡng cửa cạn kiệt, do
bị đánh bắt quá mức bởi được nhận sự trợ cấp khoảng 20 tỷ đô la mỗi năm.
• Khí quyển:
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
18
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
Suy giảm tầng ozone, có tác dụng bảo vệ sự sống trước tia cực tím, đã
đạt tới mức kỷ lục. Vào tháng 9/2000, lỗ thủng tầng ozone ở Nam Cực đã mở
rộng hơn 28 triệu km
2
.
Nghị định thư Montreal được thông qua năm 1987. Sản lượng
chloroflurocarbons (CFCs), chất chính phá hủy tầng ozone, đạt đỉnh điểm vào
năm 1988 và hiện nay được duy trì ở mức rất thấp.
Hơn 1,1 tỷ đô la dành cho 114 nước đang phát triển dùng để loại bỏ các
chất làm suy giảm tầng ozone. Vào năm 2000, tổng mức tiêu thụ các hóa chất
này đã làm giảm 85%. Tầng ozone hy vọng sẽ phục hồi bằng các mức tr
ước
những năm 80 vào giữa thế kỷ 21.
Các nồng độ cacbon dioxide ( CO
2
), khí chính gây nóng lên toàn cầu
hiện duy trì ở mức cao hơn 30% so với 1750. Nồng độ các khí nhà kính khác
như metan và halocacbon cũng tăng lên.
19
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
Các loại ô nhiễm thường thấy tại các đô thị Việt Nam là ô nhiễm nguồn
nước mặt, ô nhiễm bụi, ô nhiễm các khí sunfua, cacbonic, nitrit, ô nhiễm chì
(Pb), chất thải rắn ( trong sinh hoạt, bệnh viện ). Giáo sư Lâm Minh Triết ( Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh ) trong buổi hội thảo “ Bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững ở Việt Nam “ đã nhấn mạnh nồng độ
các chất ô nhiễm
trong nước mặt thường rất cao như là chất rắn lơ lửng, nhu cầu oxy sinh hóa,
nhu cầu oxy hóa học, nitơrit, nitơrat…gấp từ 2-5 lần, thậm chí tới 10-20 lần trị
số tiêu chuẩn đối với nguồn nước mặt loại B, chỉ số E Coli vượt tiêu chuẩn cho
phép hàng trăm lần. Ngoài các chất ô nhiễm hữu cơ trên, môi trường nước mặt
đô thị ở một s
ố nơi còn bị ô nhiễm kim loại nặng và chất độc hại như chì, thủy
ngân, asen, clo, phenol,…
Ở hầu hết các đô thị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm ở mức trầm trọng.
Các nơi bị ô nhiễm nặng nhất là khu dân cư gần nhà máy xi măng Hải Phòng,
nhà máy Vicasa Biên Hòa, khu công nghiệp Tân Bình, nhà máy tuyển than Hòn
Gai,…Ở một số khu dân cư gần các khu công nghiệp nồng độ khí sunfua vượt
chỉ số tiêu chu
ẩn cho phép nhiều lần ( khu dân cư gần nhà máy xi măng Hải
Phòng nồng độ khí sunfua trung bình ngày là 0,407 mg/m
3
gấp 1,4 lần tiêu
chuẩn cho phép, cụm công nghiệp Tân Bình nồng độ khí sunfua trung bình ngày
là 0,338 mg/m
3
gấp 1,1 lần tiêu chuẩn cho phép ). “Tính lượng trung bình chất
thải rắn sinh hoạt thải ra ở các thành phố lớn ( Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,
thành phố Hồ Chí Minh ) từ 0,6-0,8 kg/người/ngày, chất thải rắn trong bệnh viện
3
/năm. Môi trường nước ở nông thôn cũng đang bị ô nhiễm do việc sử dụng
không đúng quy cách và không hợp lý các hóa chất nông nghiệp; thiếu các
phương tiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng phục vụ sinh hoạt nên số hộ ở nông thôn
được dùng nước hợp vệ sinh mới chỉ đạt 30-40%, và chỉ có 28-30% số hộ có
công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn ( trang 14, [23]).
B.Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam:
I.Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới:
Trong thập niên 60 của thế kỷ 20, ô nhiễm nước đang với nhịp độ đáng
lo ngại. Tiến độ ô nhiễm phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ. Ta có
thể kể ra:
_ Ở Anh Quốc chẳng hạn: Đầu thế kỷ 19, nước sông Thames rất sạch.
Nó trở thành ống cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình
trạng tương tự trước khi người ta đư
a ra các biện pháp xử lý và bảo vệ nghiêm
ngặt.
_ Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn nhưng vấn
đề cũng không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối
thế kỷ 18. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không
còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5000 km sông của Pháp bị ô nhiễm
mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu
ngườ
i, là nạn nhân của nhiều tai nạn thêm vào các nguồn ô nhiễm thường
xuyên.
_ Ở Hoa Kỳ, tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng
khác. Vùng Đại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm
trọng ( trang 111, [2]).
II.Tình trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam:
II.1. Tình hình chung:
_ Nước ta có một nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu
đối mặt với hiểm họa khôn lường ”, cuối bài tác giả tự hỏi: “đến khi nào con
sông Đồng Nai bị ô nhiễm tới mức không th
ể tự làm sạch được nữa”.
Với lượng chất thải khá lớn từ các nhà máy, xí nghiệp, nước thải
công nghiệp chiếm một lượng lớn trong tổng lượng nước thải hàng ngày ở
thành phố Hồ Chí Minh, hơn nữa mức độ gây ô nhiễm của nước thải công
nghiệp cao hơn rất nhiều so với nước thải sinh hoạt do chứa nhiều hóa chất
độc hại và khó phân hủy ( trang 89, [3]).
Do kinh phí còn h
ạn hẹp, điều kiện chưa cho phép nên hầu hết
nước thải của các cơ sở sản xuất đều không qua khâu xử lý mà thải thẳng ra hệ
thống kênh rạch, sông ngòi gây ô nhiễm trầm trọng cho các nguồn này (trang
89, [3]).
Nước dùng sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số
và các đô thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với các cơ sở tiểu thủ
công nghiệp trong dân cư
là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị nước ta ( trang
112, [2]).
Bên cạnh đó, nước ngầm cũng bị ô nhiễm do nước sinh hoạt hay
công nghiệp và nông nghiệp. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện
tượng nhiễm phèn, nhiễm mặn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sông
Thái Bình, sông Cửu Long, ven biển miền Trung,…( trang 112, [2]).
II.2. Ở đồng bằng sông Cửu Long:
Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 16 triệu dân, là vùng kinh tế
trọng điể
m nông nghiệp lớn nhất nước, có sông Cửu Long là nơi cung cấp
nước sản xuất sinh hoạt chính cho vùng. Nhưng do tập quán canh tác, ăn ở đi
lại trên sông nước, nhất là những năm gần đây công nghiệp các tỉnh phát triển,
canh tác nông nghiệp dùng phân bón, thuốc trừ sâu ngày càng nhiều nên làm
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
nước khu vực nông thôn ô nhiễm về chất hữu cơ cao hơn khu vực đô thị; các
chỉ tiêu khác: sắt tổ
ng cộng, chất rắn lơ lửng, amoniac mức độ ô nhiễm ở 2 khu
vực trên tương đương nhau.
+
Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm nước mặt:
Chất lượng nước mặt năm 2001 có mức độ tương đương với năm
2000. Độ pH có tính kiềm yếu trong đoạn mùa khô, nguyên nhân có thể là trong
thời gian qua nhiều kênh rạch đã tiếp tục được nạo vét, nước rửa phèn từ đất
theo các kênh rạch đổ ra sông, làm độ pH nước sông rạch giảm.
Vào mùa mưa, nước bị ô nhiễm về các chỉ tiêu lý hóa như: chất hữu
cơ, sắt tổng c
ộng cao hơn mùa khô. Chỉ tiêu amoniac có mức độ tương đương
mùa khô. Nguyên nhân, năm 2001 nước lũ lớn, mực nước xấp xỉ gần năm
2000, lũ lớn tràn khắp nơi, kéo các chất ô nhiễm từ trên mặt đất xuống các
sông, kênh, rạch.
Cho đến nay, hầu hết các nguồn nước thải công cộng như các cống
thải đô thị ở các thành phố, thị trấn, thị xã và các chất thải công nghiệp v
ẫn thải
trực tiếp ra sông, các chất thải nông nghiệp vẫn chưa được xử lý.
+
Hiện trạng nước thải và công nghiệp:
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
23
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
_ Nước thải từ các nhà máy sản xuất công nghiệp:
Các nhà máy sản xuất gây ô nhiễm môi trường quan trọng tiếp tục
được quan trắc, giám sát. Qua kết quả quan trắc có thể đánh giá như sau:
Trong tỉnh năm 2001 có thêm ba đơn vị doanh nghiệp nhà nước đã
xây dựng xong công trình xử lý nước thải, đó là Xí nghiệp đông lạnh số 7 (
nguồn thải gây ô nhiễm nghiêm trọng đã tích cực thực hiện các giải pháp bảo
vệ môi trường, một số doanh nghiệp đã xây dựng xong hệ thống xử lý nước
thải, một số khác cũng đã thiết kế hệ thống x
ử lý, dự kiến xây dựng trong năm
2002 như công ty Angifish sẽ xây dựng hệ thống xử lý nước thải Xí nghiệp đông
lạnh 8 và nhà máy nước mắm Chánh Hương.
+ Hiện trạng chất lượng nước khu vực làng bè Châu Đốc:
Để đánh giá chất lượng nước các khu vực làng bè Châu Đốc ( Vĩnh
Mỹ, Vĩnh Ngươn ), Phú Tân ( Phú Hiệp ), An Phú ( Đa Phước ), Châu phú ( Mỹ
Phú ), Chợ Mới ( thị trấn Chợ Mới ), thành phố Long Xuyên ( M
ỹ Hòa Hưng ),
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
24
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
đồng thời thực hiện theo tinh thần công văn 952/CV-UB ngày 15/5/2000 của
UBND tỉnh An Giang “ Giao cho Sở Khoa Học Công Nghệ & Môi Trường hàng
tháng một lần đo đạc phân tích môi trường nước các khu vực neo đậu bè tập
trung lớn, để có những khuyến cáo cho các ngành chức năng tham khảo và
quản lý”. Trong năm, các khu vực làng bè đã được quan trắc 6 đợt, kết quả
quan trắc cho thấy chất lượng nước ở các khu vự
c làng bè ở trên có diễn biến ô
nhiễm chất hữu cơ, amoniac, chất rắn lơ lửng, sắt tổng cộng vào giai đoạn cuối
năm gia tăng hơn so với các tháng đầu và giữa năm 2001. Mức độ ô nhiễm đã
có khả năng ảnh hưởng chất lượng môi trường khu vực nuôi trồng thủy sản và
chất lượng nước sinh hoạt, cụ thể như sau:
Chỉ tiêu amoniac trung bình 0,4 mg/l, cao gấ
p 8 lần Tiêu Chuẩn Môi
Trường Việt Nam quy định đối với chất lượng môi trường nước mặt. Nồng độ
amoniac cao nhất tập trung vào các tháng mùa lũ ( tháng 9-12 ). Khu vực làng
bè Chợ Mới, Mỹ Hòa hưng ( Long Xuyên ), Phú Hiệp ( Phú Tân ), Đa Phước (
C. Phân loại nước ô nhiễm và tính chất của nó:
I. Phân loại:
Sự ô nhiễm nước là sự có mặt của một số chất ngoại lai trong môi
trường nước tự nhiên dù chất đó có hại hay không. Khi vượt qua một ngưỡng
nào đó thì chất đó sẽ trở nên độc hại đối với con người và sinh vật.
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
25
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo:
_ Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: là do mưa. Nước mưa rơi
xuống đất, mái nhà, đường phố đô thị, khu công nghiệp,…, kéo theo các chất
thải bẩn xuống sông, hồ hoặc các sản phẩm của các hoạt động sống của sinh
vật vi sinh vật kể cả xác chết của chúng. Sự ô nhiễ
m này còn gọi là sự ô nhiễm
không xác định được nguồn gốc.
_ Sự ô nhiễm nhân tạo: chủ yếu do nguồn nước thải từ các khu dân
cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ
và phân bón trong nông nghiệp ( trang 84, [10]).
Nước thải là một tổ hợp phức tạp các thành phần vật chất có nguồn
gốc vô cơ hay hữu cơ tồn tại dưới dạng không hòa tan, keo và hòa tan. Thành
phần nồng độ chất bẩn tùy thuộc vào từng loại nước thải. Căn cứ vào nguồn
gốc và tính chất của nguồn nước thải mà người ta phân loại như sau:
+
Nước thải sinh hoạt:
Là nước thải ra từ các khu dân cư bao gồm nước sau khi sử dụng
từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học, cơ quan, khu vui chơi giải
trí.
Đặc điểm của nước thải sinh hoạt là trong đó có hàm lượng lớn
các chất hữu cơ dễ phân hủy ( hidrocacbon, protein, chất béo ), các chất vô cơ
dinh dưỡng ( nitơ, photphat ), cùng với vi khuẩn ( bao gồm cả vi sinh vật gây