TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM Sinh viên thực hiện: PHAN ANH ĐÀO
Mã số sinh viên: DHH 021092
MỘT SỐ PHƯƠNG
PHÁP XỬ LÝ NƯỚC Ô
NHIỄM
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S. NGUYỄN VĂN THẠT An Giang, năm 2004
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
LỜI CẢM TẠ
WX
Đề tài này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô Khoa
Sư Phạm, Trường Đại Học An Giang và các cô chú, anh chị ở Sở Tài Nguyên Và
Môi Trường. Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đối với:
_ Thầy hướng dẫn : Thạc sĩ NGUYỄN VĂN THẠT đã tận tình chỉ bảo
em trong suốt thời gian làm đề tài.
_ Ban Giám Hiệu Trường Đại Học An Giang, Ban Chủ Nhiệm Khoa Sư
Phạm đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ em thực hiện đề tài.
_ Các cô chú, anh chị ở Sở Tài Nguyên Và Môi Trường đã cung cấp cho
em những số liệu cần thiết để bổ sung vào đề tài.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầ
y cô Khoa Sư
Phạm, bộ môn Hóa đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu làm cơ sở cho
em thực hiện đề tài này.
Nhằm mục đích góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của con người,
em chọn đề tài
“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XƯ LÝ NƯỚC Ô NHIỄM “.
Trong đề tài này, em trình bày một cách cô đọng về thực trạng ô nhiễm nguồn
nước và một số phương pháp xử lý nước hiện nay thông qua các tài liệu có liên
quan mà em có điều kiện tham khảo được.
Với sự cố gắng thực sự khi nghiên cứu một vấn đề khoa học nhưng không
thể tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự hướng dẫn và đóng góp của quý
thầy cô và các bạn.Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào MỤC LỤC
Mục lục 7
Phần I: 10
1. Lý do chọn đề tài 11
2. Mục đích nghiên cứu 11
3. Đối tượng nghiên cứu 11
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5. Phương pháp nghiên cứu 11
Phần II: Tổng quan 12
Giới thiệu thông số đánh giá sự ô nhiễm nước 13
A. Tình hình ô nhiễm và các vấn đề môi trường trên
thế giới và ở Việt Nam
15
I. Tình trạng môi trường thế giới 15
III. Các phương pháp hóa học 52
III.1. Phương pháp trung hòa 52
III.2. Phương pháp oxy hóa và khử 54
III.3. Loại kim loại nặng 57
IV. Các phương pháp hóa sinh 62
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
8
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
IV.1. Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên 63
IV.2. Xử lý nước thải trong điều kiện nhân tạo 64
#.Các công trình xử lý phụ khác 66
I. Khử trùng nước thải 66
I.1. Khử trùng bằng phương pháp vật lý 66
I.2. Khử trùng bằng phương pháp hóa học 67
II. Khử mùi và vị 68
III. Loại chất phóng xạ 68
Phần IV. Kết luận 70
Tài liệu tham khảo 74
Phụ lục 76
_ Tập cho sinh viên bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học.
_ Viết phần tổng quan lí thuyết về thực trạng ô nhiễm môi trường, ô
nhiễm nguồn nước và các phương pháp làm sạch nước.
III. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề ô nhiễm môi trường nói
chung, ô nhiễm nguồn nước nói riêng và các phương pháp xử lý nước.
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm và đọc những tài liệu có liên quan đến đề tài, sau đó tổng hợp và
trình bày một cách cô đọng, tương đối đầy đủ về thực trạng ô nhiễm môi
trường, ô nhiễm nguồn nước và các phương pháp xử lý nước hiện nay.
V. Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích, tổng hợp
lý thuyết, phân loại, hệ thống hoá lý thuyết, Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
11
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào PHẦN II:
bị phân huỷ có trong nước mẫu. Đơn vị: mg/l.
• Nhu cầu oxy hoá học (Chemical Oxygen Demand – COD): là chỉ số phản
ánh lượng oxy cần thiết để oxy hoá các chất có nhu cầu về oxy trong nứơc
mẫu. Giá trị COD thể hiện toàn bộ các chất hữu cơ có thể bị
oxy hoá bằng tác
nhân hoá học và luôn cao hơn giá trị BOD. Đơn vị: mg/l.
• Hàm lượng các kim loại và kim loại nặng: asen, cadimi, chì, niken, crom,
sắt, kẽm, mângn, thuỷ ngân, thiếc, Đon vị: mg/l.
• Hàm lượng dầu mỡ khoáng, dầu động thực vật. Đon vị: mg/l.
• Photpho tổng số, photpho hữu cơ. Đơn vị: mg/l.
• Tổng nitơ, amoniac theo nitơ. Đơn vị: mg/l.
• Hàm lượng florua, clorua, sunfua. Đơn vị: mg/l.
• Hàm lượng phenol, xianua. Đơn vị: mg/l.
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
13
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
• Coliform: là chỉ số cho biết số lượng các vi khuẩn gây bệnh đường ruột
trong mẫu nước. Đơn vị: MPN/100ml.
miệng ăn. Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, diện tích đất được canh tác
đã tăng từ dưới 125 triệu ha năm 1972 lên tới hơn 175 triệu ha . Tưới tiêu quá
nhiều hay quản lý kém đều có thể dẫn tới suy thoái đất do các tác động của
mặn hóa. Hơ
n 10% - tương đương 25-30 triệu ha đất được tưới tiêu trên thế
giới được xếp là đất bị thoái hóa nghiêm trọng .
Xói mòn là nhân tố chính của quá trình thoái hóa đất. Khoảng 2 tỷ ha đất
trên thế giới, lớn hơn cả nước Mỹ và Mexico cộng lại, được xem là thoái hóa do
các hoạt động của con người . Một phần sáu diện tích đất này, khoảng 305 triệu
ha được xếp là loại đất thoái hóa mạnh hoặc cực kỳ nghiêm trọ
ng. Đất bị thoái
hóa nghiêm trọng càng trở nên tồi tệ hơn do không thể khôi phục lại .
Các dạng thoái hóa chính là xói mòn do nước (56%); xói mòn do gió
(28%); thoái hóa hóa học (12%) và những tổn hại về mặt vật lý hoặc kết cấu
(4%).
Chăn thả quá mức cũng là nguyên nhân gây thoái hóa (35%); phá rừng
(30% ); nông nghiệp (27%); hủy hoại thảm thực vật (7%) và các hoạt động công
nghiệp (1%).
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
15
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
Điểm nổi bật trong 30 năm qua chính là sự phát triển của đô thị , diễn ra
hầu hết ở các gia đình khu vực Đông Nam Á và các đảo Thái Bình Dương.
• Nước sạch:
Khoảng một nửa các sông trên thế giới bị cạn kiệt nghiêm trọng và bị ô
nhiễm. 60% trong số 227 con sông lớn nhất thế giới bị chia cắt ở mức cao và
trung bình do xây dựng các đập và các công trình k
ỹ thuật khác.
Các lợi ích gồm tăng sản lượng lương thực và thủy điện. Song các thiệt
hại không thể khôi phục lại xảy ra đối với các vùng đất ngập nước và các hệ
giun trong máu ở người.
• Rừng và đa dạng sinh học:
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
16
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
Tổ chức nông lương thế giới (FAO) ước tính rừng che phủ một phần ba
bề mặt Trái đất-3866 triệu ha giảm 2,4% kể từ năm 1990.Các mức giảm nhiều
nhất là ở Châu Phi, nơi có 5,6 triệu ha hay 0,7% độ che phủ rừng đã bị mất
trong các thập kỷ qua.
Sản lượng gỗ toàn cầu đạt tới 3335 triệu m
3
, một nửa trong số này được
dùng làm nhiên liệu, nhất là ở các nước đang phát triển.
Các phương pháp khai thác gỗ thương mại thường mang tính phá hủy,
ví dụ ở Tây Phi, 2m
3
gỗ cây bị phá hủy để tạo ra 1m
3
gỗ xẻ.
Cuối năm 2000, 2% diện tích đã được cấp chứng nhận quản lý rừng bền
vững theo các chuơng trình của Hội đồng Quản lý rừng. Hầu hết các diện tích
rừng này ở Canađa, Phần Lan, Đức, Na Uy, Ba Lan, Thụy Điển và Mỹ.
Các khu rừng ngập mặn, vùng lãnh hải, các bãi ương nuôi và cư trú của
cá, các vùng trú đông của các loài chim di cư đang bị đe dọa bởi các tác độ
ng
như khai thác quá mức gỗ và nhiên liệu, phát triển du lịch và phát triển ven bờ.
Gần 50% việc phá hủy rừng ngập mặn hiện nay là do chặt phá rừng để phát
triển các diện tích nuôi tôm.
Suy giảm và chia cắt các nơi cư trú như rừng, đất ngập nuớc, các bãi lầy
rừng ngập mặn đã làm tăng thêm các áp lực đối với đời sống hoang dã trên thế
các dòng thải lớn nhất ở các nước đang phát triển tăng lên và là hậu quả của
quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, tăng dân số và thiếu qui hoạch, cũng
như ít đầu tư vào hệ th
ống thoát nước và các trạm xử lý nước thải.
Chương trình hành động toàn cầu của UNEP bảo vệ môi trường biển
trước các hoạt động từ đất liền đã được khởi xướng năm 1995 và được tiếp tục
thúc đẩy vào năm 2001.
Giảm thiểu các dòng thải không được xử lý là một mục tiêu quan trọng .
Tác động của kinh tế toàn cầu đối với ô nhiễm biển về mặt b
ệnh tật và
sức khỏe con người đã tiêu tốn gần 13 tỷ đô la.
Nước cống rãnh cùng với các dòng thải có chứa phân bón trong đất,
phát thải từ ô tô và các động cơ khác đã làm giàu thêm nguồn dinh dưỡng nitơ
ở các biển và đại dương.
Từ 1991-1992, nông dân nuôi cá ở Hàn Quốc đã bị thiệt hại 133 triệu đô
do sự bùng nổ của các loài tảo độc, hay còn gọi là thủy triều đỏ xuất hiện do
môi trường quá giàu chất dinh dưỡng.
Sử dụng phân bón ngày càng tăng ở các nước đang phát triển, còn ở
các nước phát triển đã ổn định hơn.
Các mối đe dọa khác đối với đại dương gồm biến đổi khí hậu, tràn dầu
và các dòng thải có chứa các kim loại nặng, các chất ô nhiễm hữu cơ tồn lưu
(POPs) và rác. Sự bồi lắng là hậu quả của các phát triển ven bờ, nông nghiệ
p
và phá rừng đã trở thành các mối đe dọa lớn trên toàn cầu đối với các rạn san
hô, đặc biệt ở Caribê, Ấn Độ Dương, Nam và Đông Nam Á.
Ô nhiễm biển là mục tiêu chính của Chương trình biển Khu Vực UNEP,
trong đó có sự ký kết hiệp định biển khu vực Đông Bắc Thái Bình Dương vào
tháng 3/2002, là nơi bao phủ phần lớn môi trường biển của hành tinh.
Các nước đã cùng nhau thông qua Hiệp ước Stockholm về 12 ch
ất ô
Năm 1997, các nước công nghiệp đã thông qua nghị định thư Kyoto,
đòi hỏi các nước này phải giảm thiểu khí nhà kính thấp hơn 5% so với các mức
năm 90 trong thời gian từ 2008-2012. Nghị định thư đồng thời kêu gọi các cơ
chế linh hoạt cho phép các nước được bù lại các mứ
c phát thải của mình bằng
các hành động ở nước ngoài. Ví dụ, Cơ chế Phát Triển Sạch cho phép các
nước trồng cây xanh và có các chương trình năng lượng xanh dự phòng ở các
nước đang phát triển.
Hội đồng Liên Chính phủ về Thay Đổi Khí Hậu ước tính các chi phí
dành cho việc thực hiện Nghị định thư Kyoto ở các nước công nghiệp sẽ chiếm
1-2% GDP mỗi nước ( trang 34-36, [24]).
II. Tình trạng môi trường Việt Nam:
• Hiện trạng môi trường đô thị, công nghiệp:
Năm 1990, Việt Nam mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000
đã tăng tới 694 đô thị các loại, trong đó có 4 thành phố trực thuộc Trung ương,
20 thành phố trực thuộc tỉnh, 62 thị xã và 563 thị trấn. Dân số đô thị Việt Nam
năm 1990 là khoảng 13 triệu người ( chiếm tỷ lệ 20% ), năm 1995 tỷ lệ
dân số
đô thị chiếm 20,75%, năm 2000 chiếm 25%, dự báo đến năm 2010 tỷ lệ dân số
đô thị ở Việt Nam chiếm 33%, năm 2020 chiếm 45%. Sự phát triển các đô thị
cùng với việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị gây áp lực rất lớn đến môi trường đô
thị. Bên cạnh sự phát triển mạnh ngành công nghiệp một mặt góp phần rất lớn
vào sự
phát triển kinh tế nhưng lại gây ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng.
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
19
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
Các loại ô nhiễm thường thấy tại các đô thị Việt Nam là ô nhiễm nguồn
nước mặt, ô nhiễm bụi, ô nhiễm các khí sunfua, cacbonic, nitrit, ô nhiễm chì
(Pb), chất thải rắn ( trong sinh hoạt, bệnh viện ). Giáo sư Lâm Minh Triết ( Đại
rắn hiện nay là chôn lấp ( nhưng chưa có bãi chôn lấp nào đạt tiêu chuẩn kỹ
thuật vệ sinh môi trường ).
Theo thống kê, Việt Nam đã có trên 800 cơ sở sản xuất công nghiệp với
gần 70 khu chế xuất – khu công nghiệp tập trung. Đóng góp củ
a công nghiệp
vào GDP là rất lớn; tuy nhiên chúng ta phải chịu nhiều thiệt hại về môi trường
do lĩnh vực công nghiệp gây ra. Hiện nay, khoảng 90% cơ sở sản xuất công
nghiệp và phần lớn các khu công nghiệp chưa có trạm xử lý nước thải. Các
ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, nặng nhất là công nghiệp nhiệt
điện, công nghiệp sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác
khoáng sản ( diễn đ
àn doanh nghiệp, số 50, ngày 20/6/2003, trang 13 ).
• Hiện trạng môi trường nước ở nông thôn:
Ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rất
nghiêm trọng. Gần 76% số dân nước ta đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ
sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không
được xử lý, thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn
nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Nhiều nơi do nuôi trồng thủy
sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật, đã gây ra nhiều
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
20
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
tác động tiêu cực tới môi trường nước. Lượng nước thải của các xí nghiệp chế
biến thủy sản đông lạnh cũng rất lớn, từ vài chục ngàn đến vài trăm ngàn
m
3
/năm. Môi trường nước ở nông thôn cũng đang bị ô nhiễm do việc sử dụng
không đúng quy cách và không hợp lý các hóa chất nông nghiệp; thiếu các
phương tiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng phục vụ sinh hoạt nên số hộ ở nông thôn
được dùng nước hợp vệ sinh mới chỉ đạt 30-40%, và chỉ có 28-30% số hộ có
m môi
trường nông thôn ( trang 111, [2]).
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
21
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
_ Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành
có một loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến
sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục km. Khu
công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn m
3
nước thải của nhà máy hóa
chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt xuống sông Hồng làm cho nước bị ô nhiễm đáng
kể ( trang 112, [2]).
Tại thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng ô nhiễm cũng đang ở mức
báo động do nước thải sinh hoạt, nước thải của các ngành công nghiệp không
qua xử lý hoặc xử lý rất sơ sài đang thải thẳng vào môi trường. Tuần báo An
Ninh Thế Giới ra ngày 20-05-04, có phóng sự “ sông Đồng Nai đang b
ị khai tử
”của tác giả Thuận Thiên đã phản ánh: “mỗi ngày tại sông Đồng Nai có khoảng
trên dưới một triệu m
3
nước thải sinh hoạt và công nghiệp, mọi chất thải của
thành phố Biên Hòa và 15 khu chế xuất, khu công nghiệp đều đổ về sông Đồng
Nai. Môi trường sống trong nguồn nước và sức khỏe của trên dưới 15 triệu
người dân thành phố Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh đang hằng ngày phải
đối mặt với hiểm họa khôn lường ”, cuối bài tác giả tự hỏi: “đến khi nào con
sông Đồng Nai bị ô nhiễm tới mức không th
ể tự làm sạch được nữa”.
Với lượng chất thải khá lớn từ các nhà máy, xí nghiệp, nước thải
công nghiệp chiếm một lượng lớn trong tổng lượng nước thải hàng ngày ở
bằng sông Cửu Long. Hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long có 40-50% dân
nông thôn có nước sạch sinh hoạt. Cấp nước sạch theo đường ố
ng còn thấp,
các trạm cấp nước với quy mô nhỏ và vừa ( từ 500-2000 m
3
/ngày đêm ) chủ
yếu xây dựng ở thị trấn, thị tứ trung tâm huyện lỵ. Còn các trung tâm xã ấp mới
xây dựng trạm cấp nước với quy mô nhỏ ( 100-300 m
3
/ngày đêm ). Từ đó,
nước sạch cho dân vùng nông thôn và vệ sinh môi trường nông thôn đồng bằng
sông Cửu Long hết sức bức xúc.
II.3. Ở An Giang:
+
Nước mặt khu vực đô thị ( thành phố, thị xã, thị trấn ):
Các chỉ tiêu ô nhiễm nổi bật ở khu đô thị năm 2001 bao gồm các chỉ
tiêu: chất rắn lơ lửng và mật số vi sinh tổng coliforms. Nồng độ chất hữu cơ
BOD
5
trung bình 4 mg/l, xấp xỉ Tiêu Chuẩn Môi Trường, ô nhiễm nhẹ hơn năm
2000, SS trung bình 80 mg/l cao gấp 4 lần TCMT, amoniac trung bình 0,2 mg/l
cao gấp 4 lần Tiêu Chuẩn Môi Trường và mật số vi sinh tổng coliforms trung
bình 40x103 MPN/100ml, cao gấp 8 lần Tiêu Chuẩn Môi Trường . Các chỉ tiêu
khác nằm trong giới hạn môi trường Việt Nam.
So sánh khu vực đô thị và nông thôn trong năm 2001 chất lượng
nước khu vực nông thôn ô nhiễm về chất hữu cơ cao hơn khu vực đô thị; các
chỉ tiêu khác: sắt tổ
ng cộng, chất rắn lơ lửng, amoniac mức độ ô nhiễm ở 2 khu
vực trên tương đương nhau.
+
tiêu về môi trường nằm trong giới hạn Tiêu Chuẩn Môi Trường Việt Nam. Tuy
nhiên, trong quá trình vận hành hệ thống xử lý nước thải, mộ
t số hệ thống chưa
hoạt động ổn định, một số chỉ tiêu vẫn nằm ngoài tiêu chuẩn cho phép như
trường hợp nhà máy chế biến khoai mì.
Một số đơn vị như: Xí nghiệp đông lạnh 8, Xí nghiệp chế biến rau
quả Antesco, nhà máy chế biến nước mắm Chánh Hương vẫn chưa xây dựng
hệ thống xử lý nước thải, nước thải trực tiế
p ra sông Hậu gây ô nhiễm nguồn
nước ở mức độ xấp xỉ các năm trước.
_ Nước thải khu vực đô thị:
Nước thải khu vực đô thị thành phố Long Xuyên cũng như các đô
thị, thị xã Châu Đốc có nồng độ chất ô nhiễm rất cao, đặc biệt là mật số vi sinh
tổng coliforms, trung bình 2,7x106 MNP/100ml, nồng độ chất hữu cơ BOD
5
trung bình vượt gấp hai lần Tiêu Chuẩn Môi Trường. Các phương án xử lý
nước thải của thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc đã xây dựng xong từ
năm 1998, nhưng đến nay vẫn chưa được xúc tiến. Tuy nhiên, trong năm 2001,
một số hệ thống cống nội ô đã được nâng cấp, không bị ngập và phần nào hạn
chế được ô nhiễm môi trường do cống bể, sứt.
_ Đánh giá chung:
Năm 2001, ô nhiễ
m môi trường từ hoạt động sản xuất công nghiệp
lớn đã có chiều hướng giảm nhẹ hơn các năm trước. Các doanh nghiệp lớn, có
nguồn thải gây ô nhiễm nghiêm trọng đã tích cực thực hiện các giải pháp bảo
vệ môi trường, một số doanh nghiệp đã xây dựng xong hệ thống xử lý nước
thải, một số khác cũng đã thiết kế hệ thống x
ử lý, dự kiến xây dựng trong năm
2002 như công ty Angifish sẽ xây dựng hệ thống xử lý nước thải Xí nghiệp đông
hoạt động nuôi cá tập trung cũng góp phần làm nước bị ô nhiễm theo chỉ tiêu
này ( [8]).
Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn ra ngày 24/06/2004, có phóng sự
“Sông Hậu “oằn gánh” ô nhiễm” của tác giả Hồ Hùng đã phản ánh: “ Thạc sĩ
Kỷ Quang Vinh, Trưởng trạm Quan trắc môi trường thành phố Cần Thơ, bức
xúc: “Chất lượng n
ước trên sông Hậu có dấu hiệu ô nhiễm nặng”. Kết quả giám
sát gần đây nhất của trạm, từ các mẫu nước lấy từ sông Hậu, cho thấy: hàm
lượng chất hữu cơ thông qua các chỉ số BOD
5 và COD đều vượt tiêu chuẩn
Việt Nam (10 mg/l) khoảng 1,2-2,5 lần, có khuynh hướng tăng nhanh so với các
năm trước; nồng độ dưỡng chất (NO
2 và NH3) vượt tiêu chuẩn Việt Nam(0,05
mg/l) 2-20 lần; số lượng vi sinh (Coliform)cũng vượt mức cho phép từ 1,5-9
lần,
Hiện nay, ở làng bè thị xã Châu Đốc có hơn 400 bè cá, tính chung
trong tỉnh An Giang có hơn 3400 bè cá trải dài trên sông Hậu. Lượng chất thải
từ hàng ngàn bè cá này thải ra cùng với các hộ gia đình sống ven sông rồi các
khu công nghiệp, làm cho tình trạng ô nhiễm trên sông Hậu thật sự đáng lo
ngại.
C. Phân loại nước ô nhiễm và tính chất của nó:
I. Phân loại:
Sự ô nhiễm nước là sự có mặt của một số chất ngoại lai trong môi
trường nước tự nhiên dù chất đó có hại hay không. Khi vượt qua một ngưỡng
nào đó thì chất đó sẽ trở nên độc hại đối với con người và sinh vật.
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
25
Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào
Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo:
_ Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: là do mưa. Nước mưa rơi
có đặc điểm chung mà phụ thuộc vào các quy trình công nghệ của từng loại sản
phẩm.
Nước thải từ các cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm và thủy sản
( đường, sữa, bột tôm cá, rượu, bia,…,) có nhiều chất hữu c
ơ dễ bị phân hủy;
nước thải của các xí nghiệp làm acquy có nồng độ axit và chì cao,… Tóm lại,
nước thải từ các ngành hoặc xí nghiệp khác nhau có thành phần hóa học và
hóa sinh khác nhau ( trang 16, [15]).
II. Tính chất:
Đề tài nghiên cứu khoa học Trang
26