Ngôn ngữ thơ chế lan viên giai đoạn trước 1975 - Pdf 30

1.

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm Hà Nội
-------""-------
Nguyễn văn khơng

ngôn ngữ thơ chế lan viên
giai đoạn trớc 1975
luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn Chuyên ngành: lý thuyết và lịch sử văn học
Mã số: 5.04.01
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TSKH. nguyễn nghĩa trọng

(%)
Từ ngữ
Số lần
dùng
Tỉ lệ
(%)
máu 28 14,3 Cô hồn 7 3,5
huyết 7 3,5 Cô hồn tử sĩ 1 0,5
tuỷ 6 3,0 ma 8 4,1
não, óc 4 2,1 quỉ ma 1 0,5
thịt 8 4,1 yêu tinh 3 1,5
xơng 24 12,3 chết 4 2,1
hài cốt 1 0,5 thơng vong 1 0,5
sọ, sọ dừa 16 8,2 thơng vong uổng tử 1 0,5
đầu, đầu lâu 8 4,1 đám ma 1 0,5
thi thể 3 1,5 hòm 2 1,0
xác, hồn 1 0,5 hòm săng 1 0,5
khí 6 3,0 quách gỗ 1 0,5
hồn 30 15,3 huyệt 2 1,0
phách hồn 2 1,0 mộ 7 3,5
linh hồn 7 3,5 mồ 14 7,1

Ghi chú: - Tổng cộng có 195 lần sử dụng.
- Trung bình có 5,4/bài

PHụ lục 2

Bảng thống kê lớp từ ngữ chỉ màu sắc ở tập thơ
"ánh sáng và phù sa" "hoa ngày thờng, chim báo bão"



Tập thơ A nh B A là B A/B Tổng
Điêu tàn 16 7 3 26
ánh sáng và phù sa
90 10 19 119
Hoa ngày thờng, chim báo bão 23 7 10 185
Số liệu tổng hợp 69,7% 12,97% 17,3% 100%

Ghi chú: A/B bao gồm các kiểu so sánh còn lại
Mục lục

Trang
A.
phần mở đầu .........................................................
1
I. Lý do chọn đề tài .................................................
1
II. Đối tợng - phạm vi nghiên cứu..........................
2
III. Phơng pháp nghiên cứu ....................................
2
1.
Phơng pháp thống kê ............................................
2
2.
Phơng pháp so sánh ..............................................
3
3.
Phơng pháp phân tích tác phẩm............................
3

I.2.1.
Lời nói.....................................................................
8
I.2.2.
Ngôn từ...................................................................
9
II. Lời văn nghệ thuật-các phơng thức tổ chức lời văn
nghệ thuật..............................................................
10
II.1.
Lời văn trong tác phẩm là một hiện tợng nghệ thuật
10
II.2.
Các phơng tiện, phơng thức tổ chức của lời văn nghệ thuật.....
.
12
II.2.1.
Các phơng tiện của lời văn nghệ thuật.................
12
II.2.2.
Phơng thức tổ chức lời văn nghệ thuậ ..................
14
III. Ngôn từ nghệ thuật trong thơ trữ tình................
15
III.1.
Khái niệm thơ và thơ trữ tình .................................
15
III.2.
Ngôn ngữ thơ trữ tình giàu tính hình tợng............
20

I.2.2.
Hệ thống từ ngữ đầy sắc biếc, hồng trong "ánh sáng
và phù sa", "Hoa ngày thờng chim báo bão".......
69
II. Những biểu hiện đặc biệt của hình thức tổ chức
ngôn từ nghệ thuật ...............................................
77
II.1.
So sánh nghệ thuật
77
II.1.1.
Những đặc điểm về hình thức so sánh....................
79
II.1.2.
Một cái nhìn cuộc sống qua so sánh nghệ thuật ....
82
II.2.
Đối lập - Tơng phản..............................................
89
II.2.1.
Nghệ thuật xây dựng hình tợng con ngời qua đối lập .
.
94
II.2.2.
Hình tợng đất nớc, dân tộc qua đối lập - tơng phản
100
III. Giọng điệu .............................................................
106
III.1.
Giọng điệu buồn thơng, bi quan trong "Điêu tàn"

Nghiên cứu bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng khơng thể thốt
ly khỏi chất liệu mà nó sử dụng để tổ chức tác phẩm. Nếu như nghiên cứu
nghệ thuật điêu khắc phải dựa trên đường nét, hình khối; hội họa phải dựa
trên màu sắc...thì nghiên cứu tác phẩm văn học khơng thể
khơng bắt đầu từ
ngơn ngữ.

Theo lý thuyết ký hiệu học, giữa hai mặt của ngơn ngữ có tính võ đốn
(Saussure) - tức có tính khơng lý do. Trong tác phẩm văn học, tính khơng lý do
có tính chất tương đối dẫn đến cái biểu đạt và cái được biểu đạt có chất lượng
khác trước. Điều nầy thể hiện rõ nhất ở trong thơ, nhiều khi cái biểu đạt và cái
được biểu đạt của ngơn ngữ tự nhiên lại trở thành cái biểu đạt cho một cái được
biểu đạt khác. Sở dĩ có hiện tượng đó là do ngơn ngữ được nhà văn sáng tạo theo
ý đồ cảm xúc đầy tính chủ quan. Nó khơng còn là thứ ngơn ngữ n tĩnh mà là
ngơn ngữ nghệ thuật. Phân tích tác phẩm văn học khơng thể khơng suy ngẫm
ngơn ngữ của bản thân tác phẩm ấy.
Có thể ví ngơn ngữ trong tác phẩm văn học như cái ổ khóa bên ngồi
cánh cửa, nếu khơng mở được nó thì người nghiên cứu văn học khơng thể bướ
c
vào lâu đài của thế giới nghệ thuật, khơng thể chiếm lĩnh thấu đáo ý nghĩa cũng
như cái đẹp của tác phẩm văn học.
2. Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của thế kỉ XX. Ơ giai đoạn nào, ơng
cũng ln là đại biểu tiên phong của tiến trình thơ ca hiện đại nước nhà. Ơng đã
để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ. V
ới 12 tập thơ (547 bài) xuất bản
lúc nhà thơ còn sống và 3 tập thơ ( 571 bài) xuất bản lúc nhà thơ đã qua đời, Chế
Lan Viên xứng đáng là nhà thơ số một ở Việt Nam có năng lực sáng tạo phi
thường.
Mặt khác, cái làm nên sự phi thường ở Chế Lan Viên là tài hoa và trí tuệ.
Thơ ơng là một minh chứng cho sức nghĩ, sức cảm của một tâm hồn thơ khơng

tổ
ng số 154 bài thơ. Đây là những tập thơ tiêu biểu của Chế Lan Viên trước 1975.
Ở đó, đánh dấu sự vận động, biến đổi, định hình một phong cách ngơn ngữ mạnh
mẽ, độc đáo và đặc sắc của hồn thơ Chế Lan Viên. Với những tập thơ khác,
những thể loại khác trước và sau 1975 cũng được coi là tư liệu tham khảo q cho
đề tài trong việc so sánh, lý giải phong cách ngơn ngữ th
ơ Chế Lan Viên.

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong đề tài, chúng tơi sử dụng 3 phương pháp cơ bản
1. Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê dựa trên những khảo sát cụ thể giúp cho người
nghiên cứu tổng hợp được những số liệu minh chứng cho các nhận định, đánh
giá. Với số lượng lớn,154 bài thơ, phương pháp thống kê giúp người nghiên cứu
thu thập số liệu có hệ thống, tạo điỊu kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu.
2. Phương pháp so sánh

Đánh giá, khẳng định một vấn đề bất kì, người nghiên cứu bao giờ cũng
phải đặt vấn đề ấy trong mối quan hệ với những vấn đề khác và chỉ trong quan
hệ so sánh đối chiếu,vị trí, giá trị của vấn đề mới được khẳng định. Từ đấy, chỉ
so sánh, đối chiếu mới làm rõ được phong cách ngơn ngữ đặc sắc của Chế Lan
Viên.
Chúng tơi tiến hành so sánh
đối chiếu trên hai bình diện:
2
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

- Lịch đại: một mặt so sánh đối chiếu ngơn ngữ thơ Chế Lan Viên với

lưu ý từ xưa, Hồng Đức Lương, Ngơ Thời Nhậm, Lê Hữu Kiều, Phan Hữu Ích
đã nêu ra chuẩn mực: “Thơ mà q cầu kỳ thì sa vào giả dối, q trau chuốt thì
sa vào xảo trá..[2, 74], làm thơ nếu “đặt câu khơng sắc sảo sẽ mắc vào bệnh thơ
lỗ, kém cỏi; dùng chữ khơng có âm hưởng sẽ mắc vào bệnh tầm thường, tục
tằn”[2, 55].
Những năm đầ
u của thế kỷ XX, Chủ nghĩa hình thức Nga mà đại biểu là
R.Jacobson, với nhiều cơng trình tập trung nghiên cứu ngơn ngữ thơ ca. “Ngơn
ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại cho người đọc những cảm xúc
nhân sinh mới lạ, nó phải mang một tính chất biểu cảm mãnh liệt, khác xa với
ngơn ngữ thường ngày chỉ mang tính chất ký hiệu cho sự vật.”[24, 213]
Ở Việt Nam, sau những năm 60 của thế kỷ XX, với s
ự xuất hiện của ký
hiệu học, ngữ dụng học, lý thuyết giao tiếp, thi pháp học thì ngơn ngữ trong văn
học mới được hiểu một cách sâu sắc, tồn diện hơn, bên ngồi một hình thức đơn
thuần.
3
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

Nếu như quan niệm cũ xem ngơn ngữ chẳng qua chỉ là cái vỏ bên ngồi,
một hình thức đơn thuần thì lý luận hiện đại khẳng định ngơn ngữ là hình thức
tồn tại của tác phẩm. “Hình thức cũng là vũ khí. Sắc đẹp c©u th¬ cũng phải đấu
tranh cho chân lý“ (Chế Lan Viên). Ngơn ngữ trong văn học là ngơn ngữ chủ
quan gắn liền với quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Đó là kết tinh trình
độ ý
thức của con người, phản ánh của tồn tại con người. Cũng như ngơn ngữ nói
chung, ngơn ngữ của văn học thể hiện cái nhìn, một quan niệm về thế giới của
nhà văn.
Lý luận văn học hiện đại nghiên cứu ngơn ngữ trong tính hệ thống, tồn
diện. Đó là tiền đề phát hiện quan niệm nghệ thuật ngơn ngữ của nhà văn, là cơ

Lan Viên. Một cách khái qt, các nhận định của các tác giả về
ngơn ngữ thơ Chế Lan Viên cơ bản gặp nhau ở chỗ: câu thơ Chế Lan Viên “có
cái trùng điệp của một đội qn ngơn ngữ, tạo nên một nét độc đáo trong phong
cách của anh”,anh là “người đầu tiên thử nghiệm có kết quả phần nào việc đưa
4
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

cái dáng dấp văn xi vào thơ”, “Anh mở rộng cửa câu thơ cho ngơn ngữ của
đời sống, cho các từ lịch sử, triết học, chính trị, kinh tế, qn sự hiện đại, cả
những từ thơng tục ít ai đưa vào thơ nữa, ùa vào” [5, 93]. Huỳnh Văn Hoa thy:
“nhà thơ đã sử dụng tất cả nguồn dự trữ giàu có của ngơn ngữ dân tộc”[5,132].
Trầ
n Đình Sử phát hiện: “Chế Lan Viên nói nhiều đến sự đổi thay, biến hóa kỳ
diệu của cuộc đời với những “hóa”, những “thành”, những “mơ” là những tứ
thơ rất Chế Lan Viên. Ngưới ta ln bắt gặp những từ cảm thán kiểu “Ơ hay”,
“Tơi sững sờ”, “Tơi ngỡ”, “tơi bỗng nhớ”, “trời bỗng thu”... chúng nói lên cặp
mắt giàu phát hiện của thi sĩ”[5,150]. Cũng như Vũ Tuấn Anh và Nguy
ễn Quốc
Khánh, Nguyễn Lộc “đã bắt gặp những câu có tính chất châm ngơn, tính chất
triết lý” trong thơ Chế Lan Viên. Hồi Thanh [5,55] cùng với Nguyễn Văn Hạnh
[5,70], Vũ Tuấn Anh [5,20], Hồ Thế Hà [5,170] có nhận định thống nhất: kết cấu
tương phản, đối lập được sử dụng nhiều. Thống nhất với Hồi Anh trong nhận
xét thơ Chế Lan Viên có nhiều “ẩn dụ độc đáo và sáng tạo,” Lê Lưu Oanh,
Đinh Thị Nguyệt còn phát hiện ở thơ Chế Lan Viên “có một thế giới đa sắc
được miêu tả bằng những từ ngữ chỉ màu sắc, khác lạ, màu của ấn tượng, những
động từ rất mạnh, sắc.”[5,201]
Trong số các cơng trình nghiên cứu, chúng tơi thống kê được thì Đồn
Trọng Huy [16] là tác giả đề cập đến ngơn ngữ thơ Chế Lan Viên ở diện sâu và
r
ộng hơn cả. Đồn Trọng Huy nhận xét: “Ngơn ngữ thơ Chế Lan Viên nổi bật có

6
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

B. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

NGƠN TỪ VÀ NGƠN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ

I. MỘT SỐ THUẬT NGỮ, KHÁI NIỆM LIÊN QUAN NGƠN NGỮ THƠ CẦN PHÂN BIỆTThuật ngữ “ngơn ngữ” của ngành ngơn ngữ học và ngơn ngữ tác phẩm
văn học hay ngơn ngữ thơ mà người ta thường hay gọi một cách khái qt có
liên quan với nhau nhưng hồn tồn khơng phải là một. Chính chỗ liên quan ấy
mà người nghiên cứu văn học cần thiết phải có sự hiểu biết tối thiểu về ngơn ngữ
nói chung để khơng được ngộ nhận khi cho rằng chỉ hiểu biết ngơn ngữ là có thể
chiếm lĩ
nh được ngơn từ, bởi vì ngơn từ trong tác phẩm văn học là ngơn từ nghệ
thuật.
I.1. Ngơn ngữ - ngơn ngữ văn học
I.1.1. Ngơn ngữ

Ngơn ngữ là một hệ thống tín hiệu (ký hiệu) đặc biệt. Đó khơng phải là
những tổ hợp âm thanh đơn thuần mà là mảnh đất ngầm chứa đựng kín đáo bao
nhiêu thói quen về tâm lý xã hội văn hóa văn minh, đặc điểm dân tộc lịch sử.
Mối quan hệ giữa hai bình diện âm thanh và ý nghĩa của ngơn ngữ nằm trong
tính chất võ đốn - tức tính khơng lí do. Dù vậy, hai bình diện đó lại gắn bó hữu
cơ với nhau như “hai mặt của một tờ giấy”(Saussure). Như vậy thì khơng có thứ
ngơn ngữ vơ nghĩa; và nếu thay đổi hệ thống cấu trúc bề mặt sẽ kéo theo sự thay

Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ “ngôn ngữ văn học” được gọi là “ngôn
ngữ chuẩn”, “ ngôn ngữ tiêu chuẩn”. “Ngôn ngữ văn học được xem là một trong
những hình thức tồn tại chủ yếu của ngôn ngữ”[4,172]. Ng«n ng÷ v¨n häc còng
lµ ng«n ng÷ tån t¹i trong v¨n häc.
Theo các nhà lý luận văn học thì “ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ toàn
dân, thống nhất và chuẩn hóa, hình thành cùng với sự hình thành dân tộc thống
nhất trên cơ sở kinh tế, văn hóa”[4,318]. Ng«n tõ nghƯ tht trong t¸c phÈm
kh«ng ®ång nhÊt víi ng«n ng÷ v¨n häc
I.2. Lêi nãi - ng«n tõ
I.2.1. Lêi nãi

Nhà ngôn ngữ học Th Só, F. de Saussure(1857-1913) là người đầu
tiên có công lao đặt nền móng cho sự phân biệt ngôn ngữ với lời nói.
Lời nói là một dạng thức tồn tại của ngôn ngữ, mang tính cụ thể, là sản
phẩm, độc đáo của cá nhân, nhất thời. Lời nói mang đậm cá tính nhưng đó là
sự vận dụng cái chung vào cái riêng. Dân gian từng nói “chín người mười ý”,
vì vậy mà sự thể hiện lời nói cá nhân hết sức đa dạng sinh động.
Căn cứ vào phạm vi, tính chất sử dụng, có lời nói trong giao tiếp thường
ngày và lời văn. Theo các nhà lý luận văn học: “Mọi tác phẩm văn học đều
được viết hoặc kể bằng lời: lời thơ, lời văn, lời tác giả, lời nhân vật...gộp chung
lại là lời văn” [1,313].
Như vậy, ngôn ngữ ở dạng tự nhiên là chất liệu của lời nói thông
thường, tồn tại ngoài tác phẩm; còn lời văn trong tác phẩm văn học không còn
là hiện tượng ngôn ngữ mang chức năng giao tiếp thông thường mà đã chuyển
8
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

sang một hệ thống giao tiếp khác, mang chức năng khác - chức năng làm chất
liệu của sáng tác văn học với đầy đủ tính chất thẩm mỹ của nó.
Từ đó, có thể nói rằng lời văn trong tác phẩm văn học khác hẳn với lời


II.1. Lêi v¨n trong t¸c phÈm lµ mét hiƯn t−ỵng nghƯ tht

Trong số các dạng lời văn thì lời văn của tác phẩm nghệ thuật có những
đặc điểm riêng và vì vậy mà chiếm một vò trí đặc biệt.
Lời văn nghệ thuật được tổ chức theo qui luật nghệ thuật về nội dung,
phương pháp, phong cách, thể loại. Nã không còn là một hiện tượng ngôn ngữ
mang chức năng giao tiếp thông thường mà đã được đưa vào một hệ thống
giao tiếp khác, mang chức năng khác. Sự khác biệt còn thể hiện ở chỗ: “lời nói
thường giải quyết các nhiệm vụ tức thời, một lần; lời văn tác phẩm không chỉ có
tác dụng đó, thậm chí, trái lại, nó có tham vọng trở thành lời nói cho nhiều lần,
với muôn đời”[1,313]. Cßn
lời văn nghệ thuật được viết ra với dụng ý tạo
nên một sản phẩm tương đối độc lập với hệ thống giao tiếp tự nhiên. Vì vậy
việc hiểu lời văn nghệ thuật chủ yếu là tập trung vào văn bản, ở đó lời văn
có qui luật tổ chức riêng của nó.
Cã thĨ thÊy trong giao tiếp thông thường, để
đạt được mục đích, song song với lời nói người ta còn kết hợp các động tác như
vẫy tay, lắc đầu, trợn mắt...,còn trong văn học tất cả đều được ngôn ngữ hóa
qua lời văn.
Ta biết th¬ v¨n lµ tiÕng nãi cđa t©m hån, mµ tâm hồn con người thì chi ly
phức tạp nên lời văn nghệ thuật phải được sáng tạo đặc biệt để diễn tả những
tình cảm, cảm xúc đó của con người. Chính Jacobson là người đi đầu trong
việc phát hiện ngôn ngữ thơ không sử dụng cấu trúc ngữ pháp truyền thống mà
sử dụng “liên kết đồng đẳng”, cho nªn trong th¬ cã nhiỊu cÊu tróc ®èi lËp t−¬ng
xøng. Người nghệ só dùng sự tương xøng để tạo ra ý nghóa thứ ba mà ý nghóa
ấy không có trong từng câu chữ, thậm chí không nẩy sinh từ trong quan hệ ngữ
đoạn mà ý nghóa ấy do siêu ngôn từ mang lại. VÝ dơ nh−:
- Trên ghế đá đầm ngoi đít vòt
Dưới sân ông cử ngổng đầu rồng

dùng để biểu thò sự chuyển giao giữa hai mốc thời đoạn như: “đêm giao thừa”,
“giao thừa thế kỷ”. Vậy mà Kinh Kha ®· sáng tạo thêm nghóa mới hết sức độc
đáo qua câu: “Đêm nay là buổi giao thừa đói no”. hay tõ "®ét kÝch" trong c©u
th¬ sau cđa Hång Nguyªn còng vËy “Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau”.
Bên cạnh sáng tạo nghóa mới cho từ là hiện tượng sáng tạo từ mới,
chẳng hạn: “Nhua nhúa những cánh tay đưa lên
”(Tô Hoài-Vừ A Dính),
“những
đứa trẻ nhê nha khóc”
(Nguyên Hồng-Sóng gầm)
. Sự sáng tạo trên ngoài việc
góp phần làm nên giá trò thẩm mỹ cho tác phẩm còn là một sự đóng góp q
báu làm nên sự đa dạng, phong phú của văn học về mặt ngôn từ.
Ngoµi ra nói đến lời văn nghệ thuật ng−êi ta cßn nãi tíi tÝnh h×nh t−ỵng
cđa nã. (Sẽ kÕt hỵp tr×nh bµy ë mơc III.2).
Đặc trưng của lời văn là tính tổ chức cao. Tính tổ chức cao dễ thấy nhất
ở thơ, lời thơ có vần, có nhòp, có đối... chặt chẽ. văn xuôi, để bảo đảm tính
nghệ thuật, tính tổ chức cao vẫn là nguyên tắc bắt buộc. Giới nghiên cứu văn
11
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

học nhận xét: “Lời văn nghệ thuật nói chung không bao giờ chỉ thông báo giản
đơn các việc xảy ra với nhân vật, mà còn tái hiện cả một phức hợp quan hệ chủ
quan và khách quan trong sự kiện đó” [1,316]. Chúng ta biết từ bao giờ cũng
gắn liền với khái niệm, đó vốn là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Mác đã từng nói ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy. Vậy cái hiện thực
trực tiếp ấy chính là hình tượng của hiện thực. Khi tham gia vào tổ chức câu,
trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi từ không còn mang ý nghóa độc lập
tương đối của nó nữa mà chỉ còn là một nét của cái toàn thể đầy đặn, trọn vẹn
hơn.Chế Lan Viên đã chỉ ra mối quan hệ nầy trong những câu thơ rất hay:

vô cùng quan trọng của lời văn nghệ thuật.
Ngoài ra nhà văn còn sử dụng vốn ngôn từ đã trở thành di sản nghệ
thuật dân tộc để tạo thành lời văn nghệ thuât trong tác phẩm của mình, đặc
biệt là những hình ảnh vốn đã trở thành ước lệ trong văn học, chẳng hạn như:
cánh cò, con thuyền, cây đa, bến nước, Thạch Sanh, Từ Hải... Có thể nói rằng
ở mỗi lónh vực của đời sống, có hệ thống từ vựng của nó. Tô Hoài cho rằng:
”Mỗi chữ đều soi bóng hoàn cảnh và tình hình xã hội lúc chữ ấy ra đời. Người
viết văn không thể ngồi bóp óc nghó cách trau dồi câu chữ mà phải đi vào thực
tế đời sống mới bồi bổ được chữ nghóa cho ngòi bút". ( Dẫn theo[1,321])
Trong các cấp độ của ngôn ngữ thì cấp độ ngữ âm được xem là phương
tiện tổ chức lời văn có ý thức của tác phẩm văn học. Nói đến ngữ âm là nói
đến âm thanh của ngôn ngữ như vần, các loại vần; thanh điệu, âm vực của
thanh điệu. Nói tới thơ không thể không nói đến vần, vần la ømột tiêu chí hình
thức phân biệt thơ với văn xuôi. Cách gieo vần có tác dụng lớn trong việc hình
thành các thể thơ. Việc lặp lại vần trong thơ có giá trò liên kết lời thơ, câu thơ
để tạo nên ý tưởng của tác phẩm. Nhà thơ sử dụng vần bao giờ cũng ý thức
được đó không chỉ là hình thức mà là một phương tiện nội dung. Trong nhiều
trường hợp cụ thể, chính vần lại gợi lên những hình ảnh cảm xúc mà bản
thân nội dung của từ chưa gợi lên một cách đầy đủ. Trong tiếng Việt có loại
từ được cấu tạo theo phương thức láy âm thanh, còng có tác dụng gợi hình,
gợi âm thanh, nói chung là có giá trò gợi tả, chẳng hạn như: khập khiễng, xơ
xác, ồn ào, lao xao, ngân nga. .. đã được nhà văn sử dụng triệt để trong lời
văn của mình.

VỊ mỈt ng÷ ph¸p, nhà văn vận dụng tất cả các bình diện của ngữ pháp
như một phương tiện để tổ chức lời văn, như cấu tạo của các phần chính, phụ,
biệt lập của câu; các kiểu câu đơn, câu ghép, câu tónh lược... nh−ng bao giê
còng tính đến giá trò thẩm mỹ, cái hiệu quả nghệ thuật đạt được của lời văn.
Nói đến phương tiện tổ chức lời văn không thể không đề cập đến các
phương thức chuyển nghóa. Có thể hiểu đó là những cách gọi tên thứ hai cho

Đoc văn Tô Hoài, chúng ta thấy ông là người rất có ý thức trong việc tổ
chức lời văn, dù là viết cho thiếu nhi. Mở đầu “Chim Chích Bông” là lời giới
thiệu khái quát: “ Chích Bông là một con chim bé xinh đẹp trong thế giới loài
chim”. Cái xinh đẹp, cái nhỏ bé ấy được cụ thể dần với những hình ảnh: “hai
chân xinh xinh bằng hai chiếc tăm” nhưng “ nhanh nhẹn, được việc, nhảy cứ
liên liến”; rồi “ Hai chiếc cánh nhỏ xíu, cánh nhỏ mà xoải nhanh vun vút”; và
cuối cùng là cái đẹp có ích, cái đẹp đáng q của Chích Bông ở cặp mỏ:“ Cặp
mỏ Chích Bông tí tẹo bằng hai mảnh vỏ trấu chắp lại... Cặp mỏ tí hon ấy gắp
sâu trên lá thoăn thoắt. Nó khÐo biết moi những con sâu độc ác nằm bí mật
14
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

trong hốc đất hay trong thân cây vừng mảnh dẻ, ốm yếu”. Đó là sự cụ thể hóa
có đònh hướng, có tác dụng dẫn dắt người đọc từ xa đến gần, từ ngoài vào
trong, từ hiện tượng đến bản chất. Chính sự cụ thể hóa ấy làm cho đối tượng
hiện lên cảm tính, vừa xác đònh chủ đề cũng là vừa khái quát: “Chích Bông là
bạn của trẻ em, Chích Bông còn là bạn của bà con nông dân”.
§ặc trưng phản ánh cuộc sống
cđa v¨n häc
có liên quan đến nguyên tắc
tổ chức lời văn. Nếu như sự cụ thể hóa đối tượng miêu tả là hướng của tác giả
nhằm khắc họa cảm xúc chủ đạo thì sự tỉnh lược, sự cố tình và thường xuyên
im lặng một số phương diện nào đó của đối tượng lµ để lời văn giàu ý vò trừu
tượng, khái quát, tức cũng không ngoài đònh hướng nghệ thuật của tác giả.
Như vậy vừa cụ thể hóa, vừa tỉnh lược luôn là sự phối hợp hài hòa trong việc
tổ chức lời văn, cả hai cùng chung một hướng là dẫn dắt người đọc đến với
trung tâm chủ đề của tác phẩm.
Theo các nhà nguyên cứu thi pháp thì song song với những nguyên tắc
tổ chức nãi trên, lời văn nghệ thuật còn truyền cho người đọc một cái nhìn cá
thể hóa, giàu cá tính sáng tạo. Đó có thể là điểm nhìn của người trần thuật,

sử văn hóa, quan niệm về nội dung, hình thức thơ khác nhau. Đó là lý do khó
tìm được một đònh nghóa tiêu biểu, ổn đònh cho thơ. Tình hình đó không riêng
cho một nền văn học nào.
Ở Việt Nam, quan niệm về thơ trước kia gần như xuất phát từ nội dung.
Xem nội dung nói về điều gì, đó là điều quan trọng hàng đầu của thơ. Phan
Phu Tiên, thế kỷ XV, khi biên soạn “Việt âm thi tập tân san” – là quyển hợp
tuyển thơ ca các đời- từ đời Trần đến đời Lê, đã viết: “ Trong lòng có điều gì,
tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy”. “ Thơ nói chí” ( Thi ngôn
chiù)[18,10]
Từ đầu thế kỷ XX, đời sống xã hội ở Việt Nam có những biến đổi sâu
sắc, lớp người mới với cách sống mới, suy nghó mới, tình cảm mới xuất hiện.
Chính Tản Đà, rồi các nhà thơ mới với những những cách tân táo bạo đã làm
đổi thay bộ mặt thơ ca nước nhà, hoàn tất quá trình hiện đại hóa thơ ca cả nội
dung lẫn hình thức. Từ đấy đến nay, các ý kiến về thơ cũng mở ra một cái nhìn
mới xác hợp với đặc trưng của thơ ca hơn. Về cơ bản có thể xếp các quan
niệm, đònh nghóa về thơ thành một số xu hướng sau:
- Xu hướng mang tính chất huyền bí: thuộc xu hướng này phải kể đến
Hàn Mặc Tử: “Làm thơ tức là điên”, và Chế Lan Viên: “Làm thơ là làm sự phi
thường. Thi só không phải là người, nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó
là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát hiện tại. Nó xáo trộn dó vãng.
Nó ôm trùm tương lai. Người ta không hiểu được nó, vì nó nói những cái vô
nghóa, tuy rằng những cái vô nghóa hợp lý” (tựa Điêu tàn, xb.1937), còn nhóm
“Xuân Thu nhã tập” thì đònh nghóa: "Thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm
thúy, cao siêu.”.
- Xu hướng dựa trên nội dung phản ánh: thơ gắn với cuộc sống con
ng−ời, tiêu biểu như: Lưu Trọng Lư: “ thơ là sự sống tập trung cao độ, là
16
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

cái lối của cuộc sống”, Tố Hữu: “ Thơ là cái nhụy của cuộc sống”, “Thơ là

ảnh và nhất là có nhòp điệu” [3,210 ]
Chúng tôi nghó rằng những đònh nghóa về thơ theo xu hướng có sự thống
nhất nội dung – hình thức mới thể hiện hết được đặc trưng, bản chất của thơ.
17
Nguyễn Văn Khương Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975

Những đònh nghóa như vậy không phải gần đây mới xuất hiện mà từ xưa đã
phổ bi
Õn
ở phương Tây, cả ở phương Đông và tất nhiên là cả ở Việt Nam.
Trong tiến trình văn học, thơ phát triển đa dạng phong phú cả về hình
thức lẫn nội dung biểu hiện. Điều đó buộc người ta phải nhận diện, nhận
dạng, phân loại để tiện cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, thưởng thức cũng như
giảng dạy.
Người ta dựa vào những tiêu chí khác nhau, cơ bản là hình thức biểu
hiện và phương thức phản ánh, để chia thơ thành những loại khác nhau. Việc
phân loại thơ thành thơ tự sự, thơ trữ tình là dựa trên phương thức phản ánh;
còn dựa vào đối tượng tạo nên cảm xúc của nhà thơ, người ta lại chia thơ trữ
tình thành thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế sự, thơ
trữ tình công dân. .. Đối với thơ trữ tình, dù vẫn tồn tại những ý kiến khác
nhau, nhưng xu hướng chung có tính thống nhất được đa số chấp nhận là quan
niệm: thơ trữ tình là thơ phản ánh thế giới theo phương thức nghệ thuật trữ tình.
Ở đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước
các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp. Nói như vậy có nghóa
là thơ trữ tình chiếm lónh thế giới khách quan theo nguyên tắc chủ quan. Nếu
thế giới khách quan bao gồm tất cả các sự vật, hiện tượng tự nhiên, lòch sử, xã
hội vô cùng phong phu,ù đa dạng, phức tạp, kể cả cuộc sống con người thì thế
giới chủ quan chính là đời sống tinh thần bao gồm: cảm xúc, tâm trạng, ý nghó,
trải nghiệm. .. lại càng đa dạng phức tạp hơn nhiều. Có thể nói dấu hiệu để
nhận ra thơ trữ tình là ở chỗ phản ánh thế giới khách quan với việc biểu hiện


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status