1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn ñề tài
Hiện nay hoạt ñộng phòng chống ma tuý là vấn ñề ñặc biệt quan trọng,
ñược nhà nước và xã hội rất quan tâm. Chúng ta biết, tệ nạn ma tuý là hiểm
hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại về mặt sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống,
phẩm giá con người, phá vỡ hạnh phúc gia ñình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng
ñến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Trong những năm qua, Bộ giáo
dục và ñào tạo ñã chủ trì, phối hợp với lực lượng công an và các ban ngành cơ
liên quan, chỉ ñạo và triển khai ñồng bộ, quyết liệt các chủ trương, biện pháp,
trong ñó có các hoạt ñộng tuyên truyền phòng chống ma tuý ở tất cả các cấp
học, bậc học. Nhà nước nỗ lực triển khai ñồng bộ các giải pháp kết hợp với sự
hỗ trợ tích cực của các cấp, các ngành và cả ñịa phương ñã góp phần kiềm chế
tệ nạn ma tuý ở trường học, nhiều ñịa phương…Tuy nhiên, do tác ñộng của
nhiều nguyên nhân nên tình hình học sinh, sinh viên liên quan ñến ma tuý vẫn
còn diễn biến phức tạp và gia tăng.
Trước năm 1998, riêng về án ma tuý, toà án các ñịa phương trong cả
nước ñã phát hiện 9.110 vụ với 18.772 ñối tượng phạm tội về ma tuý. Trong
sáu năm qua (2001- 2006), ñã phát hiện, bắt giữ trên 76.400 vụ phạm tội về
ma tuý, triệt phá 4.270 tụ ñiểm liên quan ñến buôn bán ma tuý, xử lý gần
120.00 ñối tượng. So với giai ñoạn 1995- 2000, số vụ và ñối tượng bị xử lý
tăng lầm lượt là 33% và 19%.[24]
Điều nguy hiểm nhất là ma tuý ñang nhằm vào thanh niên Việt Nam
ñể lôi kéo, ñầu ñộc họ trở thành con nghiện “chung thân”. Trong ba năm trở
lại ñây (2005- 2007), ñối tượng nghiện ma tuý ñang có xu hướng “trẻ hoá”
ngày càng nhiều, trong số ñó, học sinh, sinh viên chiếm tới 53.82%. Hậu quả
ñáng lo ngại là người nghiện ma tuý ở ñộ tuổi từ 18 ñến 30 chiếm ñến gần
66%. Thống kê năm học 2005 - 2006 ở 64 tỉnh thành, thành trong cả nước ñã
có 1.234 học sinh, sinh viên có liên quan ñến ma tuý, tập trung chủ yếu ở các
3
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà
Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài ñược thực hiện trong học kỳ II, năm học 2009
tại trường ĐHSP- ĐHĐN.
4. Gỉa thuyết khoa học
- Đa số sinh viên có thái ñộ tích cực trong hoạt ñộng phòng chống ma tuý.
Một số bạn vẫn chưa nhận thức ñúng về các vấn ñề có liên quan ñến ma tuý.
Còn những hành vi thể hiện tính tiêu cực trong hoạt ñộng PCMT …
- Thái ñộ của sinh viên với hoạt ñộng PCMT xét theo nam, nữ nhìn chung là
có sự khác nhau.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận và làm rõ một số khái niệm cơ bản: khái niệm thái
ñộ, khái niệm sinh viên, khái niệm ma tuý, khái niệm thái ñộ của sinh viên với
hoạt ñộng phòng chống ma tuý.
- Tổ chức nghiên cứu cụ thể làm rõ thái ñộ của sinh viên ñối với hoạt ñộng
PCMT.
Trên cở sở ñó, ñưa ra những kiến nghị cần thiết ñể cho hoạt ñộng PCMT
trong sinh viên ñạt hiệu quả.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Nghiên cứu, phân tích khái quát các văn bản, tài liệu, sách báo có liên
quan ñến ñề tài nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận, xác ñịnh cách thức
và phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ.
Nghiên cứu hồ sơ, số liệu cụ thể, các tổng kết ñánh giá, các kết quả thu
ñược qua các chương trình hành ñộng của lực lượng công an, của các ban
ngành liên quan, tình hình sử dụng ma tuý trong học sinh, sinh viên của ( tài
liệu do Bộ công an, Bộ Giáo dục công bố). Qua ñó thấy ñược vấn những ñiều
5
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Tổng quan các nghiên cứu về thái ñộ ở nước ngoài và Việt Nam.
* Nghiên cứu thái ñộ trong tâm lý học phương Tây
Khi nghiên cứu lịch sử thái ñộ trong tâm lý học phương Tây, nhà tâm lý
học người Nga P.N. Shikhirev ñã chia quá trình này thành ba thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất: (Từ khi khái niệm về thái ñộ ñược sử dụng ñầu tiên
vào năm 1918 cho ñến trước chiến tranh thế giới thứ hai). Đây là thời kỳ phát
triển mạnh mẽ, với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào ñịnh
nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái ñộ và mối quan hệ giữa thái ñộ với hành
vi.
Thời kỳ thứ hai: (Từ chiến tranh thế giới lần thứ hai cho ñến cuối
những năm 50). Vì lý do chiến tranh diễn ra trên toàn thế giới, cùng với sự bế
tắc trong quá trình lý giải các nghịch lý nảy sinh khi nghiên cứu thái ñộ, nên ở
thời kỳ này, các công trình nghiên cứu về thái ñộ giảm sút cả về số lượng lẫn
chất lượng.
Thời kỳ thứ ba: (Từ cuối những năm 50 trở lại ñây). Các nước phương
Tây phục hồi và phát triển trở lại sau chiến tranh. Cùng với sự phát triển ñó,
các công trình nghiên cứu thái ñộ cũng ñược tiếp tục với nhiều ý tưởng, quan
ñiểm mới. Tuy nhiên chính lúc này tâm lý học về thái ñộ cũng lâm vào tình
trạng khủng hoảng.
Chúng ta có thể xem xét chi tiết kĩ hơn về quá trình nghiên cứu ñó.
Vào năm 1918 hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki là
những người người ñầu tiên ñưa ra và sử dụng khái niệm về thái ñộ thông qua
những nghiên cứu của mình về nông dân Ba Lan. Cho ñến năm 1934, La
Piere ñã ñưa ra một thí nghiệm gây kinh ngạc, khi ông ñã chứng minh một
ñiều là những gì chúng ta nói và những gì chúng ta làm (tức là thái ñộ và hành
7
+ Thuyết tâm thế
Dựa trên cơ sở thực nghiệm, D.N. Uznaze ñã ñề ra học thuyết “tâm thế”.
Theo ông, “tâm thế là trạng thái trọn vẹn của chủ thể, sẵn sàng tri giác các sự
kiện và thực hiện các hành ñộng theo một hướng nhất ñịnh”. Tâm thế là trạng
thái sẵn sàng hướng tới một hoạt ñộng nhất ñịnh, là cơ sở của tính tích cực có
chọn lọc, có ñịnh hướng của chủ thể. Tâm thế xuất hiện khi có sự “tiếp xúc”
giữa nhu cầu và các tình huống thoả mãn nhu cấu, giúp cá nhân thích ứng với
các ñiều kiện của môi trường.
Uznaze ñã dùng khái niệm tâm thế với tư cách là khái niệm trung tâm,
nhằm khắc phục tính ñơn giản và cơ học, quan ñiểm trực tiếp của hành vi ñã
từng ñóng góp một vai trò quan trọng trong tâm lý học truyền thống và tâm lý
học hành vi. Đồng thời Uznaze cũng ñưa ra phương pháp củng cố và thay ñổi
tâm thế, một phương pháp nghiên cứu tâm thế ñộc ñáo. Tuy nhiên, khái niệm
tâm thế mà Uznaze sử dụng là cái vô thức ñể giải thích hành vi con người.
Ông mới chỉ ñề cập ñến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu mà không tính
ñến một cách ñầy ñủ các hình thức hoạt ñộng phức tạp, cao cấp khác của con
người, ông cũng không tính ñến sự tác ñộng của các yếu tố xã hội cũng như
vai trò của qúa trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội tới việc quy ñịnh các hành vi
của con người. Nhưng có thể nhận thấy rằng với những phát hiện mới, “thuyết
tâm thế” ñã ñóng vai trò là phương pháp luận khoa học cho nhiều lĩnh vực cụ
thể của tâm lý học hiện ñại.
+ Thuyết ñịnh vị
Dựa trên thuyết tâm thế của D.N. Uznaze , V.A.Iaodo ñã phát triển khái
niệm tâm thế, nhằm ñiều chỉnh hành vi, hoạt ñộng xã hội của cá nhân. Iadov
cho rằng con người có một hệ thống ñịnh vị khác nhau, rất phức tạp và hành
vi của con người bị ñiều khiển bởi các tổ chức “ñịnh vị” này. Theo Iadov, tâm
thế của Uznaze chỉ là các ñịnh vị ở bậc thấp nhất. Nó chỉ ñược hình thành
khi có sự tiếp xúc giữa nhu cầu sinh lý và ñối tượng cần thoả mãn nhu cầu ñó,
9
Bậc 4: Bậc cao nhất hình thành nên hệ thống ñịnh hướng giá trị của nhân
cách, nó ñiều chỉnh hành vi và hoạt ñộng của nhân cách trong những tình
huống mà tính tích cực xã hôi có giá trị nhất ñối với nhân cách.
Ngoài hai thuyết trên, nghiên cứu vấn ñề thái ñộ ở Liên Xô trước ñây còn
phải kể ñến thuyết thái ñộ nhân cách. Thuyết “Thái ñộ nhân cách” của nhà
tâm lý học V.N.Miaxisev cho rằng nhân cách là một hệ thống thái ñộ. Theo
tác giả, phản xạ có ñiều kiện chính là cơ sở sinh lí học của thái ñộ có ý thức
của con người với hiện thực. Miaxisev chia thái ñộ ra làm hai loại: tích cực và
tiêu cực. Cùng với các quá trình, các trạng thái, các thuộc tính tâm lý, thái ñộ
là một trong những hình thức thể hiện tâm lý người. Tuy nhiên, Miaxisev lại
cho rằng các quá trình tâm lý nhu cầu, thị hiếu, hứng thú, tình cảm, ý chí...ñều
là thái ñộ. Có thể thấy việc xếp ngang hàng quan hệ xã hội với thái ñộ là chưa
thoả ñáng, cũng như coi thuộc tính tâm lý của nhân cách là thái ñộ cũng chưa
có cơ sở. Tuy vây, Miaxisev vẫn là một trong những người ñặt nền móng cho
tâm lý học theo quan ñiểm Macxit. Miaxisev cũng ñã dùng thuyết thái ñộ
nhân cách ñể sử dụng trong Y học.
Nói tóm lại, khi nghiên cứu các vấn ñề của thái ñộ, các nhà tâm lý học
Xô viết ñã vận dụng cách tiếp cận hoạt ñộng và nhân cách, gắn thái ñộ với
nhu cầu, với ñiều kiện hoạt ñộng, với nhân cách, coi thái ñộ như là một hệ
thống, từ ñó ñưa ra cách lý giải hợp lý và khoa học về sự hình thành thái ñộ,
vị trí và chức năng của thái ñộ trong quá trình ñiều chỉnh hành vi và hoạt
ñộng của cá nhân.
* Nghiên cứu thái ñộ ở Việt Nam
Có rất ít các công trình, ñề tài nghiên cứu sâu về thái ñộ. Một số tác giả
Việt Nam ñã phân loại thái ñộ hoặc ñưa ra ñịnh nghĩa về thái ñộ trên cơ sở
nghiên cứu các lý thuyết về thái ñộ của các tác giả nước ngoài. Chỉ có một số
ñề tài nghiên cứu thái ñộ gắn với các hoạt ñộng xã hội như ñề tài: “Thái ñộ
học tập của sinh viên trường Đại học An ninh nhân dân” của Nguyễn Đức
11
- Ở nước ngoài:
Khi nói tới ñịnh nghĩa thái ñộ từ trước ñến nay, chúng ta không quên
nhắc lại khái niệm thái ñộ ñã ñược ñưa ra lần ñầu tiên vào năm 1918 của hai
nhà tâm lý học người Mỹ là W.I. Thomas và F.Znaiecky. Hai nhà tâm lý
học này cho rằng : “ Thái ñộ là ñịnh hướng chủ quan của cá nhân có hành
ñộng hay không hành ñộng khác mà ñược xã hội chấp nhận”. Hai ông cũng
cho rằng: “ Thái ñộ là trạng thái tinh thần của cá nhân ñối với một giá trị”.
Như vậy, W.I. Thomas và F.Znaiecky ñã ñồng nhất thái ñộ với ñịnh hướng
giá trị của cá nhân.
Một nhà tâm lý học người Mỹ khác, G.W.Allport, vào năm 1935 ñã ñưa
ra ñịnh nghĩa về thái ñộ như sau: “ Thái ñộ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh
thần và thần kinh, ñược hình thành thông qua kinh nghiệm, có khả năng ñiều
chỉnh hay ảnh hưởng năng ñộng ñối với phản ứng của cá nhân ñến các tình
huống và khách thể mà nó có thể thiết lập mối quan hệ”. Allport ñịnh nghĩa
“thái ñộ trên khía cạnh ñiều chỉnh hành vi”. Ông coi thái ñộ như một trạng
thái tâm lý, thần kinh cho hoạt ñộng. Ở một cá nhân, khi sắp sửa có những
hành ñộng diễn ra thì sẽ xuất hiện thái ñộ nhằm chuẩn bị và ñiều chỉnh những
hoạt ñộng ñó. Có thể thấy Allport ñã trả lời ñược câu hỏi thái ñộ là gì, và ñã
ñề cập ñến nguồn gốc, vai trò, chức năng của thái ñộ. Từ ñó, ông ñã rút ra
ñược một số ñặc ñiểm của thái ñộ. Đây là ñịnh nghĩa về thái ñộ ñược rất nhiều
các nhà tâm lý học khác thừa nhận. Tuy nhiên Allport chưa lưu ý tới ảnh
hưởng của môi trường, nhu cầu, ñộng cơ của cá nhân ñối với quá trình hình
thành thái ñộ. Chính vì vậy, khi ñịnh nghĩa về thái ñộ, Allport ñã dự ñoán
rằng: “ Khái niệm thái ñộ có lẽ là khái niệm phân biệt nhất ñịnh và quan trọng
nhất trong tâm lý học xã hội hiện ñại Mỹ”.[3, tr 317]
Sau này, nhà tâm lý học T.M.Newcom cũng ñưa ra ñịnh nghĩa tương tự
như ñịnh nghĩa của Allport. Ông cho rằng: “Thái ñộ chính là một thiên hướng
12
ñối với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩa (nhận
thức), xúc cảm và hành vi. Thái ñộ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với
hành vi vì thái ñộ ñược xác ñịnh bởi tính thống nhất bên trong của nó”.
Gần ñây, James.W.Kalat ñưa ra ñịnh nghĩa: “Thái ñộ là sự thích hay
không thích một sự vật hoặc một người nào ñó của cá nhân, từ ñó, ảnh hưởng
tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người ñó”. Nhà tâm lý
học John Traven cũng ñịnh nghĩa: “ Thái ñộ là cách cảm xúc, tư duy và hành
ñộng tương ñối lâu dài với sự việc hay với con người ñó”.
Trong khi ñó, nghiên cứu về thái ñộ, nhà tâm lý học Xô viết không sử
dụng khái niệm “Thái ñộ” mà dùng thuật ngữ tương ñương là “tâm thế” khi
giải thích hành vi của con người, mà ñiển hình là Uznatze với thuyết “Tâm
thế”. Uznatze cho rằng, “Thái ñộ không phải là một nội dung cục bộ của ý
thức, không phải là nội dung tâm lý bị tách rời, ñối lập với các trạng thái tâm
lý khác của ý thức và trong mối quan hệ qua lại với nó, mà nó là một trạng
thái trọn vẹn, xác ñịnh của chủ thể…Tính khuynh hướng năng ñộng mà tâm
thế là một yếu tố toàn vẹn một khuynh hướng nhất ñịnh nhằm một tính năng
ñộng nhất ñịnh. Đó là sự phản ánh cơ bản, ñầu tiên với tác ñộng của tình
huống, mà trong ñó, chủ thể phải ñặt ra và giải quyết nhiệm vụ”. Còn các nhà
tâm lý học xã hội Lêningrat (Liên Xô cũ) lại quan niệm “Thái ñộ là những cơ
cấu tâm lý sẵn có, ñịnh hướng cho sự ứng phó của cá nhân”.
Qua trên ta thấy, hầu hết các ñịnh nghĩa ñều giải thích “Thái ñộ” dưới
góc ñộ chức năng của nó. Thái ñộ ñịnh hướng hành vi, ứng xử của con người.
Nó thúc ñẩy, tăng cường tinh thần sẵn sàng của những hành vi, phản ứng của
con người tới ñối tượng liên quan.
Chính Nâyzơ khi nghiên cứu khái niệm thái ñộ ñã ñưa ra các ñặc ñiểm
chung này của các ñịnh nghĩa về thái ñộ. Ý kiến của Nâyzơ ñã ñược hai tác
giả cuốn “Nhập môn tâm lý học Macxít” là H.Hiebsch và M.Worwerg công
nhận. H.Hiebsch và M.Worwerg ñã chỉ ra“ Điểm chung” khi nghiên cứu khái
14
hành ñộng) của ý nghĩ, tình cảm ñối với ai hoặc sự việc nào ñó trước một vấn
ñề”.
Trong từ ñiển tâm lý học xã hội do Vũ Dũng chủ biên cho rằng: “Thái ñộ
là những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, ñồng tình hay
chống ñối như ñã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra ñịnh hướng cho việc ứng
phó”.
Từ ñiển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh
“tâm thế - thái ñộ - xã hội - ñã ñược củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm
các thành phần nhận thức, cảm xúc, hành vi”.
Như vậy, tuy diễn ñạt dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng ñều có
quan ñiểm chung là: Thái ñộ là cách ứng xử của cá nhân ñối với các tình
huống, các vấn ñề xã hội nhất ñịnh. Vì vậy, có thể hiểu một cách nhất ñịnh về
thái ñộ là: “Thái ñộ là trạng thái tâm lý sẵn sàng hành ñộng của con người
ñối với ñối tượng theo một hướng nhất ñịnh. Thái ñộ của con người bao gồm
những ñiều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về ñối tượng, cũng như cách sử sự
của họ ñối với ñối tượng ñó trong những tình huống, ñiều kiện cụ thể, ñược
bộc lộ ra ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt…”
1.2.1.2. Đặc ñiểm của thái ñộ
Năm 1935, trong một bài viết tổng kết các nghiên cứu về thái ñộ,
Allport liệt kê ra 17 ñịnh nghĩa thái ñộ. Từ 17 ñịnh nghĩa ñó có thể ñưa ra 5
ñặc ñiểm chung của thái ñộ. [3, tr. 322-323]
- Thái ñộ là trạng thái tinh thần của hệ thần kinh
- Thái ñộ thể hiện sự sẵn sàng phản ứng
- Thái ñộ là trạng thái có tổ chức
- Được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ
- Thái ñộ ñiều khiển và ảnh hưởng tới hành vi
16
17
nghiệm. Cấu trúc ngoài bao gồm những yếu tố tạo nên phương thức biểu hiện
của thái ñộ như: khí chất, thói quen, trạng thái tâm sinh lý… Cả nội dung và
phương pháp thể hiện của thái ñộ chỉ ñược biểu hiện ra bên ngoài bằng hành
vi, cử chỉ, lời nói, nét mặt.
Như vậy, khi muốn ñánh giá thái ñộ của chủ thể, ta cần xem xét thái ñộ
của chủ thể trong mối quan hệ biểu hiện ra bên ngoài và những thuộc tính bên
trong, giữa nội dung và phương thức biểu hiện thái ñộ. Vì thế, chúng tôi cho
rằng cấu trúc của thái ñộ là sự thống nhất của ba yếu tố: nhận thức, xúc cảm-
tình cảm, hành vi.
- Yếu tố nhận thức
Là những quan ñiểm, niềm tin hay là những ý kiến cụ thể về một ñối
tượng nào ñó của thái ñộ.
Trong quá trình hoạt ñộng, người phải nhận thức ñể ñánh giá hiện thực
khách quan xung quanh mình. Kết quả hoạt ñộng thực tiễn của con người phụ
thuộc vào trình ñộ nhận thức: “nhận thức là quá trình phản ánh và tái hiện
thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết thế giới khách quan hoặc
kết quả của quá trình ñó”. Sự khác nhau về thái ñộ ñối với một một sự vật,
hiện tượng giữa những người khác nhau là do cách nhìn nhận ñánh giá ở mỗi
người khác nhau. Vì vậy nhận thức là một yếu tố rất quan trọng của thái ñộ.
- Yếu tố xúc cảm (tình cảm)
Là những cảm nhận hay tình cảm cá nhân ñối với một ñối tượng nào ñó
của thái ñộ thể hiện ở chỗ có cảm tình hay không có cảm tình với ñối tượng, ở
sự rung ñộng, quan tâm, chú ý ñến ñối tượng.
Xúc cảm, tình cảm là sự biểu thị thái ñộ của cá nhân ñối với các hiện
tượng xảy ra trong cơ thể có liên quan mật thiết ñến việc thoả mãn hay không
thoả mãn các nhu cầu của mỗi cá nhân.
Xúc cảm, tình cảm thúc ñẩy con người trong hoạt ñộng, giúp họ vượt
qua khó khăn trở ngại trong cuộc sống, thúc ñẩy và tạo ñiều kiện cho cá nhân
19
thích của chúng ta về các sự kiện. Nhờ những tri thức có ñược về ñối tượng
mà chủ thể có xúc cảm, ñánh giá về ñối tượng ñó.
- Chức năng thoả mãn nhu cầu. Thái ñộ ñược hình thành như là kết quả
của những thành công hay thất bại trong quá khứ mỗi con người sau khi ñược
hình thành, thái ñộ vẫn tiếp tục có ích trong việc giúp con người thoả mãn các
nhu cầu hoặc ñạt ñược mục ñích.
- Chức năng ñiều chỉnh hành vi và hành ñộng. Đây là chức năng mà các
nhà tâm lý học chú ý, quan tâm hơn cả. Họ tập trung làm rõ cơ chế thực hiện
các chức năng của thái ñộ, tìm ra các ñiều kiện ñể các chức năng ñó ñược
thực hiện.
Như vậy trong quá trình nghiên cứu thái ñộ cần nghiên cứu nó trong
mối quan hệ ña dạng với các thuộc tính tâm lý khác, trong hành ñộng, trong
giao tiếp của cá nhân.
1.2.1.6. Phân loại thái ñộ
Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thái ñộ, ñồng thời cũng có những
phân loại khác nhau của các nhà Tâm lý học về thái ñộ:
- PGS. TS Ngô Công Hoàn: phân thái ñộ thành hai loại: Thái ñộ tích
cực và thái ñộ tiêu cực.
Ông cho rằng thái ñộ tích cực ñối với hành ñộng, hoạt ñộng của mình thì kết
quả hành ñộng thường ñạt hiệu quả tốt hơn so với thái ñộ tiêu cực. Thái ñộ
tích cực thường có chí tiến thủ, luôn nghĩ về trách nhiệm cá nhân mình ñối
với hành ñộng và ngược lại.
- Nguyễn Thị Phương Hoa ( Viện tâm lý học) chia thái ñộ làm 3 loại:
+ Tích cực: có nhận thức ñúng ñắn về vấn ñề, có trách nhiệm và biểu hiện
hành vi ñúng mực.
+ Trung tính: không tỏ rõ thái ñộ
+ Tiêu cực: Chống ñối, không hài lòng.
20
Nhóm xã hội ñặc biệt này là nguồn bố sung cho ñội ngũ tri thức, ñược ñào tạo
cho lao ñộng trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt ñộng ña
dạng có ích cho xã hội.
Tuổi sinh viên là giai ñoạn hết sức ñặc biệt trong ñời sống con người.
Đây là thời kỳ của sự trưởng thành xã hội- bắt ñầu có quyền của người công
dân, hoàn thiện học vấn ñể chuẩn bị cho một nghề nghiệp chuyên môn nhất
ñịnh, có quan ñiểm chính trị, có ñược nghề ổn ñịnh, bắt ñầu lao ñộng, giảm
phụ thuộc kinh tế, bước vào hôn nhân…
Sinh viên là những người lớn cả về phương diện sinh vật và xã hội. Mặc
dù vẫn còn là ñối tượng ñang ñược tiếp tục giáo dục nhưng xã hội nhìn nhận
sinh viên như chủ thể có trách nhiệm của hoạt ñộng sản xuất xã hội và ñánh
giá các kết quả hoạt ñộng của họ theo “tiêu chuẩn người lớn”.[13]
1.2.2.2. Sự phát triển cơ thể
Sự phát triển cơ thể của sinh viên diễn ra ổn ñịnh, ñồng ñều sau những
biến ñộng sâu sắc ở tuổi dậy thì. Về mặt sinh học thì ñây là giai ñoạn hoàn tất
những thay ñổi cơ thể nam và nữ thanh niên. Sự tăng trưởng hoóc môn nam
trong cơ thể nam sinh viên và hoóc môn nữ trong cơ thể nữ sinh viên diễn ra
nhanh, nhiều gấp 10- 15 lần ñể áp ñảo hoóc môn phái ñối lập. Các cơ quan
sinh sản nam và nữ ñược hoàn thiện. Hoàn thiên các dấu hiệu sinh dục bậc 2.
Trọng lượng não ñạt mức tối ña. Số lượng các kênh liên hệ làm cho khả năng
hoạt ñộng trí tuệ của sinh viên vượt xa học sinh phổ thông trung học. Ước
tính có khoảng 2/3 số kiến thức học ñược trong cuộc ñời ñược tích luỹ trong
thời gian này.[3]
1.2.2.3 Những thay ñổi về tâm lý
Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm ñạo ñức
và thẩm mỹ, là giai ñoạn ñịnh hình và ổn ñịnh tích cách. Người sinh viên có
kế hoạch riêng cho hoạt ñộng của mình, ñộc lập trong phán ñoán và hành vi.
22
Ở thời kỳ này, sinh viên có sự biến ñổi mạnh mẽ về ñộng cơ và thang giá trị
Như vậy, chất ma túy là những chất ñã ñược khoa học xác ñịnh và có
tên gọi riêng. Danh mục các chất ma túy, tiền chất ma túy (bao gồm danh mục
quy ñịnh này kèm theo Công ước các năm 1961,1971, 1988 của Liên hợp
quốc về kiểm soát ma túy) ñược qui ñịnh tại Nghị ñịnh số 67/2001/NĐ- CP
ngày 01-10-2001 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền
chất; Nghị ñịnh số 133/2003/ NĐ-CP Ngày 06-11-2003 cuả Chính phủ bổ
sung một số chất vào danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm
theo Nghị ñịnh số 67/2001/NĐ-CP ngày 01-10-2001 của Chính phủ, gồm 228
chất ma túy và 40 tiền chất. Việc xác ñịnh là chất ma túy, tiền chất ñược tiến
hành qua trưng cầu giám ñịnh.
Theo từ ñiển tiếng Việt, ma túy là tên gọi chung các chất có tác dụng
gây trạng thái ngây ngất, ñờ ñẫn, dùng quen thành nghiện,
Ma túy là những chất mà người dùng nó một thời gian sẽ gây ra nghiện hay
nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào thuốc.
Luật phòng, chống ma túy ñược Quốc hội thông qua ngày 9-10-2000
quy ñịnh: Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần ñược quy ñịnh
trong các danh mục do Chính phủ ban hành (khoản 1 Điều 2).
Từ các quy ñịnh của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam, chúng ta có
thể hiểu: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi ñưa
vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay ñổi trạng thái ý thức và sinh lý
của nguời ñó. Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi ñó gây
tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng ñồng.[5, tr. 18-19]
1.2.3.2. Phân loại ma tuý
Các chất ma tuý ñược chia thành nhiều nhóm dựa trên những căn cứ
nhất ñịnh phục vụ cho những mục ñích khác nhau. Có nhiều cách phân loại
nhưng có một số dạng phân loại cơ bản sau ñây:[5, tr. 19- 21]
24
- Căn cứ vào nguồn gốc của ma tuý, ma tuý ñược chia ra ba nhóm: ma
tuý tự nhiên, ma tuý tổng hợp, ma tuý bán tổng hợp.
tám nhóm sau:
+ Các chất gây êm dịu, ñê mê (các chất ma tuý chính gốc). Trong nhóm
này là thuốc phiện và các chế phẩm (opiates) như moócphin, heroin, diomin,
thebaine, methadone, dolarga...
+ Cần sa và các sản phẩm của cần sa.
+ Côca và các sản phẩm của coca.
+ Thuốc ngủ: có các loại như barbiturate, methaqualone và các chất
mecloqualone...Các chất này có tác dụng ức chế thần kinh.
+ Các chất an thần: bao gồm các chất thuộc dẫn xuất của
benzodiazepine, meprobamat, hydrôyin.
+ Các chất gây kích thích: bao gồm amphetamine và các dẫn xuất của
nó.
+ Các chất gây ảo giác ñiển hình gồm LSD, mescalin, nấm psilocybe và
psilocylin, các chất dẫn xuất của etryptamine...
+ Dung môi hữu cơ và các thuốc xông.
- Căn cứ vào nguồn gốc của ma tuý và cơ chế tác ñộng dược lý, các
chuyên gia của Liên hợp quốc ñã thống nhất phân chia ma tuý thành năm
nhóm sau:
Nhóm 1: ma tuý là các chất từ cây thuốc phiện (opiates)
Nhóm 2: ma tuý là các chất từ cây cần sa (cannabis)
Nhóm 3: ma tuý là các chất kích thích (sitimulants)
Nhóm 4: ma tuý là các chất ức chế (depressants)
Nhóm 5: ma tuý là các chất gây ảo giác (hallucinorens).