Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014
62
di động cũng sẽ kém nên trên thực tế hầu như không
có vai trò trong thụ tinh vì vậy nên tách riêng chỉ số vô
định hình ra khỏi các bất thường khác của đầu TT.
Phân tích đặc điểm đầu TT ở các nhóm TNSS,
kết quả ở bảng 4 cho thấy:
Tỷ lệ đầu vô định hình ở nhóm TNSS nguyên phát
cao hơn nhóm TNSS thứ phát trong khi các chỉ số
khác kể cả tỷ lệ hình thái bình thường ở 2 nhóm
TNSS không khác nhau gợi ý cho ta rất có thể tỷ lệ
vô định hình cao liên quan đến khả năng thụ thai của
một mẫu tinh dịch. Điều này cũng tương tự như khi ta
so sánh giữa nhóm chứng với nhóm TNSS. Như vậy
ở loại mẫu tinh dịch nào có tỷ lệ vô định hình cao thì
tỷ lệ thụ thai sẽ thấp.
Phân tích mối liên quan giữa tuổi và hình thái đầu
TT trong đối tượng, kết quả ở bảng 5 cho thấy:
Tỷ lệ hình thái đầu TT bình thường ở nhóm tuổi
trẻ thấp hơn ở tuổi lớn hơn, tỷ lệ đầu vô định hình ở
nhóm tuổi trẻ cao hơn nhóm lớn tuổi có lẽ do ở tuổi
càng trẻ tỷ lệ TNSS nguyên phát càng cao, TNSS thứ
phát thường là những bệnh nhân lớn tuổi vì vậy tuổi
càng cao đồng nghĩa với bệnh nhân TNSS thứ phát
càng cao. Kết quả này một lần nữa khẳng định TNSS
2. Trần Đức Phấn, Phan Thị Hoan, Nguyễn Xuân
Tùng (2010), Sử dụng máy CASA trong xét nghiệm tinh
dịch và những điểm cần lưu ý khi trả lời kết quả xét
nghiệm tinh dịch. Y học thực hành. 727 (7), tr. 56 - 61.
3. Trần Đức Phần, Trịnh Văn Bảo, Hoàng Thu Lan
(2002), “Đặc điểm tinh dịch của những người nam giới
trong các cặp vợ chồng thiểu năng sinh sản”, Y học thực
hành, 407(1), tr. 38-41.
4. Mai Đắc Việt, Trần Huy Ngọc, Mai Đức Thuận
(2000), “Nghiên cứu số lượng, chất lượng tinh trùng của
100 thanh niên khỏe mạnh”, Công trình nghiên cứu y
học quân sự, Học viên quân Y (2) tr. 6-11.
5. Gunalp S., Onculoglu C., Gurgan T., Kruger T. F.,
Lombard C. J. (2001), “A study of semen parameters
with emphasis on sperm morphology in a fertile
population: an attempt to develop clinical thresholds”
Hum. Reprod., 16(1), pp. 110-114.
6. Kidd S. A., Eskenazi B., Wyrobek A.J. (2001),
“Effects of age on semen quality anh fertility: a review of
the literature”, Fertil-Steril, 75(2), pp 237-248.
7. Kurpisz M., Szczygiel M. (2000), “Molekularne
podstawy teratozoospermia”, Ginekol-Pol,71(9),pp.
1036-1041.
8. WHO (1992), WHO laboratory manual for the
examination of human semen anh sperm-cervical mucus
interaction, third edition, United Kingdom.
9. WHO (1999), WHO laboratory manual for the
examination of human semen anh sperm-cervical mucus
interaction, fourth edition, United Kongdom.
10. WHO (2010), WHO laboratory manual for the
63
sau 5 năm là 11,76%.
Từ khóa: Ung thư thực quản, Phẫu thuật nội soi.
SUMMARY
ASSESSMENT RESULTS OF THORACOSCOPIC
RESECTION FOR MID - LOWER THORACIC
ESOPHAGEAL CANCER: A SURGEON’S EXPERIENCES
Background: Esophageal cancer is rare in
disgestive cancer, ratio of male to female was 5.5:1.
Prevalence is related to eating habits and smoking.
Methods: Prospective, cross-sectional descriptive and
uncontrolled study. Results: Sixty nine patients have
suffered from mid-lower thoracic esophageal cancer
performed by thoracoscopic esophagectomy. Operative
time was 116.8 ± 52.9 minutes), rate of in-operative
complications was 5.8%, postoperative complication
rate was 18.85% and immortality. Life quality of
postoperation depends on stages. 100% patients with
T2 stage live well (according to Karnofsky). 5- year
survival was 11.76%. Conclusions: Thoracoscopic
esophagectomy is safe and effective.
Keywords: Thoracoscopic, Esophageal cancer.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thực quản là một bệnh lý ít gặp chiếm
khoảng 5% trong nhóm ung thư đường tiêu hóa và
khoảng 1% ung thư nói chung. Ung thư thực quản là
để xác định giai đoạn bệnh.
KẾT QUẢ
1. Đặc điểm về tuổi- giới
Nghiên cứu 69 BN chúng tôi gặp tuổi người bệnh
trên 50 chiếm 69,4%, trung bình là 54,04 ± 8,12 (73
tuổi - 36 tuổi). Phù hợp với một số tác giả: Phạm Hữu
Thiện Chí trung bình 52,4 tuổi, Shmuel Avital là 59
tuổi (15-74).
Ung thư thực quản chủ yếu gặp ở nam giới, theo
một nghiên cứu của Hiromasa Fujita thì năm 2001 có
10667 người chết vì ung thư thực quản ở Nhật Bản
trong đó có 9026 là nam giới và 1651 là nữ giới, tỷ lệ
nam/nữ là 5,5/1. Trong 2 thập kỷ trở lại đây thì số
nam giới chết vì ung thư thực quản tăng gấp 2 lần
còn nữ giới tăng 1,3 lần. Tỷ lệ chết chung của ung
thư thực quản trong cộng đồng năm 2001 ở nam giới
là 14,7/100000 dân và nữ giới là 2,6/100000 dân.
Giải thích điều này có nhiều nguyên nhân như chế độ
ăn uống, thói quen xấu (hút thuốc, nghiện rượu) đây
là thói quen của nam giới. Chúng tôi gặp 66/69 BN là
nam (chiếm 95,65%), chỉ có có 3/69 BN là nữ chiếm
4,35%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <
0,001). Nghiên cứu của chúng tôi tương đương với
các kết quả của các nghiên cứu trong nước. Theo Lê
Quang Nghĩa có 140/146 bệnh nhân là nam giới, nữ
giới có 6 bệnh nhân chiếm 4,11%. Nguyễn Minh Hải
nghiên cứu 53 bệnh nhân trong đó có 49/53 (92,5%)
nam và 4/53 (7,5%) nữ.
2. Đặc điểm giai đoạn bệnh
Bảng 1. Đặc điểm giai đoạn bệnh
muộn sau khi có triệu chứng nuốt vướng, nuốt
nghẹn, việc theo dõi và nội soi dạ dày sàng lọc của
Việt Nam chưa tốt nên kết quả điều trị và thời gian
sống sau mổ sẽ rất khác biệt ở các khu vực vùng
miền khác nhau trong mỗi nghiên cứu. Chất lượng
sống tỷ lệ các tai biến, biến chứng sau phẫu thuật
phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh. Thời gian mắc
bệnh càng muộn thì tỷ lệ biến chứng, thời gian sống
sau mổ và chất lượng sống càng giảm. Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi thấy 82,61% b/n giai đoạn
III- IV. Khác biệt với Nguyễn Minh Hải [2] phẫu thuật
87 b/n K thực quản gặp 51,2% bệnh giai đoạn III- IV.
Phạm Đức Huấn [3] nghiên cứu trên 71 bệnh nhân
mổ mở cắt thực quản gặp giai đoạn III-IV là 61,3%.
Càng khác biệt so với tác giả nước ngoài như
Shmuel Avital [18] ung thư gặp giai đoạn I là 42%,
giai đoạn II 42% và giai đoạn III chỉ có 16%, không có
giai đoạn IV.
3. Kết quả sớm sau phẫu thuật
3.1. Thời gian phẫu thuật
Thời gian phẫu thuật thì nội soi ngực 48,6 ± 21,6
phút, ngắn nhất 30 phút, dài nhất 120 phút. Tổng thời
gian phẫu thuật trung bình 116,8 ± 52,9 phút, ngắn
nhất 80 phút, dài nhất 180 phút. Thấp hơn so với các
tác giả trong và ngoài nước như Nguyễn Minh Hải [2]
thực hiện phẫu thuật nội soi ngực và bụng cắt thực
Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014
chủ
2 2,9 1 1
Rách phế quản
gốc phải
1 1,45 1 0
Tổn thương nhu
mô phổi
1 1,45 1 0
Tổng 4 5,8 3 1
Chuyển mổ mở 2 2,9
Có 4 tai biến trong mổ chiếm 5,8% (4/69) gồm: 2
bệnh nhân rách động mạch chủ ngực, 1 bệnh nhân
rách khí quản, 1 trường hợp tổn thương nhu mô phổi.
Bệnh nhân tổn thương động mạch chủ ngực thứ nhất
chúng tôi phải truyền tới 18 đơn vị máu, trường hợp
thứ 2 phải truyền 05 đơn vị máu và cả hai trường
hợp phải mở ngực để khâu lại động mạch chủ ngực.
Bệnh nhân rách khí quản do lỗi gây mê khi đặt ống
nội khí quản làm tổn thương rách khí quản. Bệnh
nhân này sau khi rút ống nội khí quản, đưa về phòng
hồi sức thì phát hiện có khí qua dẫn lưu màng phổi
và lập tức bệnh nhân đã đưa lại phòng mổ để khâu
khí quản. Có 1 bệnh nhân chủ động cắt vát phế quản
gốc phải do tổ chức u xâm lấn và được khâu lại bằng
nội soi. Bệnh nhân này không tính vào tai biến.
Không có bệnh nhân nào tử vong trong mổ và sau
mổ do nguyên nhân phẫu thuật. Nguyễn Minh Hải [2]
nhận xét trên 87 bệnh nhân tỷ lệ tai biến trong mổ là
6,89% (6/87). Kawahara và cộng sự [12] nghiên cứu
trên 23 b/n có 1/23 (4,3%) tổn thương khí quản trong
Tràn khí màng phổi 3 4,35 2 1
Rò miệng nối cổ 5 7,25 4 1
Tổn thương dây thần
kinh quặt ngược
2 2,9 1 1
Hẹp miệng nối 3 4,35 3 0
Tổng số 13 18,85
10 3
Trước đây phẫu thuật cắt thực quản điều trị bệnh lý
ung thư thực quản chủ yếu bằng phương pháp mổ mở
truyền thống gây nên nhiều biến chứng nặng nề. Một số
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tai biến, biến chứng tới 60-
80%, trong đó tử vong 5-10%. Hai thập niên gần đây,
sau công bố của De Paula có 12 bệnh nhân (1994), Mc
Anena (1994), rồi tiếp đến là nghiên cứu rất cơ bản của
Luketich (1998)[14] đến 2003 ông đã thực hiện được
222 trường hợp với kết quả rất khả dĩ làm thay đổi quan
niệm và chiến lược điều trị bệnh lý ung thư thực quản.
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ biến chứng là
18,85%: trong đó rò miệng nối cổ gặp nhiều nhất
(7,25%), các trường hợp này gặp ở giai đoạn đầu mới
bắt đầu triển khai kỹ thuật và các trường hợp này điều
trị bảo tồn ổn định. Có 9 trường hợp (13,04%) tràn dịch
màng phổi phải chọc hút sau mổ. Kết quả sau chọc hút
bệnh nhân ổn định, kiểm tra không có mủ màng phổi,
dính màng phổi các trường hợp tràn dịch màng phổi
này chúng tôi không coi là biến chứng vì trong quá trình
phẫu thuật chúng tôi vét hạch phẫu tích rộng làm cho
Giai đoạn
T2
Giai đoạn
T3
Giai đoạn
T4
Tốt 17
25,00
12
(70,59%)
5
(29,41%)Trung bình
27
39,70 0
24
(88,89%)
3
(11,11%)
01 bệnh nhân tử vong sau mổ không do nguyên
nhân phẫu thuật mà do bệnh lý kèm theo về tim
mạch, 68 bệnh nhân sống sau mổ được theo dõi để
đánh giá kết quả xa, ngắn nhất là 6 tháng, dài nhất là
70 tháng. Đến ngày (30 - 12 - 2012) có 42 bệnh nhân
đã tử vong (42/68 = 61,76%), 26 bệnh nhân còn sống
(26/68 = 38,24%), có 01 bệnh nhân bị mất thông tin
trong quá trình theo dõi do bệnh nhân chuyển địa chỉ
nơi ở, mất địa chỉ liên lạc (tại thời điểm mất liên lạc
được coi như bệnh nhân đã tử vong).
Thời gian sống sau mổ trung bình của 68 bệnh
nhân 29 ± 4 tháng (ngắn nhất là 2 tháng, dài nhất là
70 tháng). Xác suất sống thêm sau mổ: 1 năm, 2
năm, 3 năm và 5 năm tính theo phương pháp Kaplan
– Meier lần lượt là: 64,7%, 52,94%, 30,88% và
11,76%.
Thời gian sống sau mổ ung thư thực quản luôn là
vấn đề được các phẫu thuật viên quan tâm và cân
nhắc lựa chọn chỉ định mổ. Trong vài thập niên trở lại
đây phẫu thuật ung thư thực quản đã có nhiều tiến
bộ. Tỷ lệ tử vong sau mổ khoảng < 5% [9]. Tuy vậy
thời gian sống thêm vẫn chưa cải thiện nhiều. Thời
gian sống 5 năm sau mổ mới chỉ đạt được < 20%
[15]. Năm 1980 nghiên cứu đa trung tâm tập hợp
83783 bệnh nhân cắt ung thư thực quản được công
bố trên tạp chí, Earlam và cộng sự xác nhận thời gian
sống 5 năm sau mổ là 5%. Trong một nghiên cứu
khác 43043 bệnh nhân cắt ung thư thực quản giai
đoạn từ 1980 - 1990 của Muller [15], thời gian sống
sau 5 năm là 15%. Jamieson [11] nghiên cứu 11398
47 ± 7
100%
88,23
%
76,47
%
47,06%
N
1
51
24 ± 5
52,94
%
58,33
%
15,68
%
0 %
Di căn hạch là một yếu tố có giá trị tiên lượng
bệnh và thời gian sống thêm sau phẫu thuật. Thời
gian sống 5 năm sau mổ của nhóm không có di căn
hạch là 47,06 %, nhóm có hạch di căn là 0% (P <
0,001). Ảnh hưởng của yếu tố hạch di căn tới thời
gian sống đã được nhiều tác giả công nhận [4], [5].
Phạm Đức Huấn [3] thấy rằng thời gian sống sau 5
năm của nhóm không có di căn hạch là 36,2%, không
71,43
%
57,14
%
42,85
%
III 52
27 ± 5
59,61
%
50,00
%
25% 3,84%
IV 5 10 ± 3
20,00
%
0% 0% 0%
Theo một nghiên cứu phẫu thuật nội soi cắt thực
quản qua đường ngực trên 309 bệnh nhân của
Bernard M. Smithers [7] thì thời gian sống trung bình
giai đoạn IIA, IIB, III, IV tương ứng là 35 tháng, 29
tháng, 24 tháng và 9 tháng. Năm 2004, I. Braghetto
và cộng sự báo cáo tỷ lệ sống sau 3 năm đối với giai
438 – 446.
5. Akaishi T, Kaneda I, Higuchi N, et.al.
“Thoracoscopic en bloc total esophagectomy with radical
mediastinal lymphadenectomy J thorac cardiovasc”;Surg
Y học thực hành (902) - số 1/2014
66
1996; 112:1533-41. 34
6. Altorki N, Skiner D (2001): Shoul en bloc
esophagectomy be the standard of care for esophageal
carcinoma? Ann surg, 234, 5, pp 581- 587.
7. Bernard M, Smithers, et.al, Comparison of
outcome between open and minimally invasive
esophagectomy. Ann surg 2007; 245: 232-240. 19.
8. Bhutani MS, Bard CJ, Marker RJ, et.al, Length of
esophageal cancer and degree of luminal stenois during
upper endoscopy predict T stage by endoscpic
ultrasound. Endoscopy 2002; 34: 461-463.17
9. Collard J.M, Otte J.B, Reyneart M, Michel L,Carlier
M. A, Kenstens P.J (1991). Esophagel resection and by
pass: A6 years experience with alow postoperative
mortality World: J: Surg,15, pp:635 642
10. Earlam R, Cunha- Melo J (1980), Esophageal
squamous cell carcinoma: A Critical review of surgery.
Br. J Sung, 67, pp:457 461. 28
iu tr ng tiờm tnh mch (500mg/q8h/3hr/IV;
500mg/q6h/30min/IV; 500mg/q6h/3hr/IV;
1000mg/q8h/3min/IV; 1000mg/q8h/3hr/IV). Cỏc ca
bnh cú MIC = 8 àg/ml, cú th ỏp dng phỏc 1
ngy/3 ln, cỏch nhau 8 gi/1g tiờm tnh mch trong 3
ting = 1000mg/q8h/3hr/IV. T giỏ tr MIC
MEM
cú th
d oỏn 79% giỏ tr ca MIC
IMP
, theo phng trỡnh:
MIC
IMP
= 3,92 + 0,9MIC
MEM
.
T khúa: Acinetobacter baumannii (AB),
carbapenem, MIC, pK/pD.
SUMMARY
Acinetobacter baumannii (AB) is a troublesome
and increasingly problematic healthcare-associated
pathogen. The objective of this study was to
determine the value of carbapenem MIC when
combined with pK/PD break-points and correlation
between Meropenem and Imipenem MIC applied to
treat infectious diseases caused by Acinetobacter
baumannii in Thong Nhat Dong Nai General Hospital.
Nearly 40% of the cases had MIC <8 àg/ml, it can be
applied 5 regimens intravenously (500mg/q8h/3hr/IV;
500mg/q6h/30min/IV; 500mg/q6h/3hr / IV;
kt qu nh tớnh v ch l mt kt qu t thớ nghim
ch khụng phi l mt kt qu cú mi liờn quan trc
tip n khỏng sinh s dng trờn bnh nhõn. Lý do l
kt qu ny khụng th núi c liu v cỏch dựng
khỏng sinh trờn bnh nhõn l tht s cú hiu qu hay
khụng. Khỏng sinh phng phỏp tỡm MIC (Minimal
Inhibitory Concentration) cho mt kt qu nh lng.
MIC l nng ti thiu ca khỏng sinh ngn chn
c vi khun.
Vi kt qu MIC, bỏc s lõm sng cú th tiờn oỏn
hiu qu iu tr ca khỏng sinh m mỡnh iu tr trờn
bnh nhõn theo khuyn cỏo bng cỏch so sỏnh nng
hu dng ca khỏng sinh t c trong dch c
th bnh nhõn (c gi l im góy pK/pD) vi MIC