mô tả ý kiến sinh viên về một số nguyên nhân dẫn đến những trở ngại tâm lý trong giao tiếp với người bệnh của sinh viên y3 đa khoa trường đại học y hà nội khi thực tập lâm sàng tại bệnh viện - Pdf 23

ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, thông qua giao tiếp cá
nhân gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, tiếp thu nền văn hóa lịch sử, biến
nó thành cái riêng của mình, đồng thời cũng góp phần vào sự phát triển văn
hóa chung. Không những thế, giao tiếp còn là một bộ phận cấu thành, không
thể thiếu được để con người tiến hành bất kỳ một hoạt động nào. Giao tiếp
càng có ý nghĩa quan trọng đối với những ngành nghề mà đối tượng tác động
trực tiếp là con người như: dạy học, bán hàng … đặc biệt là nghề y.
Đối với nghề y, nhờ có giao tiếp mà người thầy thuốc thu nhận được
nhiều thông tin về bệnh tật, thực hiện quá trình thăm khám và chăm sóc, điều
trị có hiệu quả. Chính vì vậy, ngay từ những năm tháng trong trường đại học,
sinh viên y khoa đã được trang bị các kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề
nghiệp, rèn luyện kỹ năng giao tiếp để chuẩn bị hành trang trở thành người
bác sỹ tương lai.
Sinh viên năm thứ 3 của trường Đại học Y Hà Nội, là năm đầu tiên bắt
đầu đi lâm sàng tại bệnh viện. Giao tiếp tốt với người bệnh là kĩ năng quan
trọng khởi đầu cho quá trình tạo mối quan hệ chuyên môn với người bệnh.
Nhờ đó, quá trình tìm hiểu thông tin, khai thác bệnh sử, tiền sử bệnh sẽ tốt
hơn, quá trình thăm khám có sự hợp tác của người bệnh được thuận lợi, sinh
viên từ đó sẽ học lâm sàng tốt hơn.
Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều sinh viên đã không tự tin khi giao tiếp,
luống cuống khi tiếp xúc với người bệnh, lúng túng khi thăm khám, thiếu linh
hoạt và nhạy bén khi giải quyết các tình huống xảy ra trong quá trình giao tiếp
với bệnh nhân. Hậu quả là người bệnh đã từ chối hợp tác, không cho sinh viên
hỏi bệnh, thăm khám. Chính vì vậy, quá trình thực hành lâm sàng của sinh
viên gặp rất nhiều khó khăn và kết quả học tập không đạt được như mong
1
muốn. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân, mà một trong số đó là do sinh
viên đã gặp phải những trở ngại về mặt tâm lý trong quá trình giao tiếp mà họ
không phát hiện ra hoặc không thể vượt qua. Đây là vấn đề rất cần thiết phải
đi sâu tìm hiểu.

(1998) do Nguyễn Quang Uẩn chủ biên, các tác giả cho rằng: giao tiếp là mối
quan hệ giữa con người với con người, thông qua đó con người trao đổi với
nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau ảnh hưởng tác động qua lại
với nhau [6].
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết dưới góc độ “hoạt động”, sau khi lý giải hai
mối quan hệ xảy ra trong quá trình hoạt động của con người đã đi đến nhận
định: Giao tiếp là sự tác động qua lại giữa con người với nhau trong xã hôi
nhằm thỏa mãn nhu cầu về người khác để truyền đạt thông tin, để cởi mở tâm
tình, để hợp tác, để ra lệnh.
3
Trong cuốn “Khoa học hành vi và Truyền thông giáo dục sức khỏe”, do
Nguyễn Văn Hiến chủ biên, các tác giả đã đưa ra định nghĩa: “Giao tiếp là
hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người
nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định” [9].
Một nhóm tác giả khác thì định nghĩa : Giao tiếp là sự tiếp xúc trao
đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, tư thế,
trang phục[5]. Đồng thời các tác giả cũng tổng kết các đặc trưng của giao
tiếp như sau :
- Thứ nhất: Giao tiếp là một quan hệ xã hội mang tính chất xã hội. Quan
hệ này được thể hiện thông qua sự trao đổi tiếp xúc giữa con người với
con người. Hệ quả của quan hệ này hình thành nên các chuẩn mực, các
giá trị, các mục đích, các nhu cầu, lợi ích….
- Thứ hai: Đặc trưng của giao tiếp là tính chủ thể. Tức giao tiếp được
thực hiện bởi các cá nhân cụ thể. Các cá nhân trong giao tiếp là cặp
“chủ thể- đối tượng” luôn đổi chỗ, tạo sự chi phối và tác động lẫn nhau.
- Thứ ba: Giao tiếp xã hội ảnh hưởng đến quá trình nhận của con người.
- Thứ tư: Trong quá trình giao tiếp con người trao đổi các kiến thức, các
hiểu biết và cả thái độ tích cực đó cho nhau.
- Thứ năm: Thông qua giao tiếp con người tiếp thu các kinh nghiệm của
cá nhân như lối sống (cách xử sự), truyền đạt các kĩ năng, kĩ xảo….

những lời khuyên và tuân thủ theo phác đồ điều trị dẫn đến tỷ lệ phục hồi và
cải thiện về sức khỏe nhiều hơn. Ngược lại, cũng có những bằng chứng chỉ ra
rằng giao tiếp không tốt giữa cán bộ y tế và người bệnh có thể dẫn đến hậu
quả không tốt cho sức khỏe của người bệnh. Giao tiếp giữa bác sĩ và người
bệnh không tốt, không đầy đủ là một nguyên nhân chính dẫn đến sự không hài
5
lòng của người bệnh. Hầu hết các lời than phiền về bác sĩ đều liên quan ít giao
tiếp và không chú ý lắng nghe người bệnh.
Giao tiếp không tốt giữa cán bộ y tế và người bệnh có thể do cán bộ y
tế không đào tạo đầy đủ về kỹ năng giao tiếp khi còn là sinh viên. Một trong
những lí do hết sức quan trọng là kỹ năng giao tiếp chưa được quan tâm đầy
đủ trong chương trình đào tạo đại học và kỹ năng này không được xác định rõ
ràng. Ngày nay, đã có nhiều bằng chứng ủng hộ hoạt động giảng dạy kỹ năng
giao tiếp cho sinh viên Y khoa và trên thực tế đã cải tiến được chất lượng giao
tiếp giữa cán bộ y tế và người bệnh.
1.2. Trở ngại tâm lý trong giao tiếp.
1.2.1. Khái niệm trở ngại tâm lý trong giao tiếp
Trở ngại trong đời thường được hiểu là những cản trở, những vướng
mắc, những cản trở xảy ra trước một hoạt động nào.
Theo Từ điển tiếng Việt: Trở ngại là những cản trở, những điều ngăn cản,
gây khó khăn. Còn theo Từ điển Wikionar, danh từ trở ngại: là cái gây khó khăn,
làm cản trở, gây trở ngại cho công việc, cho việc thực hiện kế hoạch.
Vậy trở ngại là những cản trở gây khó khăn cho việc thực hiện hoạt động.
Trở ngại tâm lý trong giao tiếp là toàn bộ những đặc điểm tâm lý cá
nhân và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nội dung, đối tượng và hoàn
cảnh giao tiếp.
1.2.2. Biểu hiện của trở ngại tâm lý
Những dấu hiệu cơ bản của trở ngại tâm lý trong giao tiếp được thể
hiện thông qua ba mặt cơ bản của tâm lý con người, đó là: nhận thức, xúc cảm
- tình cảm và hành vi giao tiếp.

- Có sự khác biệt về phong cách chủ thể với đối tượng giao tiếp.
- Chủ thể đánh giá quá cao hoặc quá thấp đối tượng.
- Không phù hợp về tính cách.
- Thiếu hiểu biết về đối tượng.
- Sơ ý, bất cẩn làm phật ý đối tượng.
- Các phẩm chất ý chí kém phát triển (thiếu kiên trì, tự chủ…).
- Khả năng biểu cảm kém.
- Có sự khác nhau về kiểu loại khí chất và mức độ biểu hiện.
- Mặc cảm lớn về ngoại hình có dị tật bẩm sinh.
- Thiếu khả năng diễn đạt tốt.
- Thiếu hiểu biết về tục quán hoặc tục lệ.
- Máy móc dập khuôn trong giao tiếp.
- Chưa có tâm thế trong giao tiếp.
1.2.4. Phân loại trở ngại tâm lý
Có nhiều cách phân loại trở ngại tâm lý trong giao tiếp.
Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ giao tiếp, có:
- Trở ngại tâm lý trong trao đổi thông tin, các trở ngại này xảy ra khi
trao đổi nội dung thông điệp giữa các chủ thể giao tiếp. Vì một lí do nào đó
làm nội dung thông tin không đến được hoặc đến một cách không đầy đủ.
- Trở ngại tâm lý trong hiểu biết lẫn nhau. Các rào cản như vị trí xã hội,
tuổi tác, giới tính, tính cách, nhận thức, quan điểm hay thiếu thông tin, thông
8
tin sai lệch … luôn có thể là cản trở cho quá trình hiểu biết lẫn nhau. Điều này
dẫn đến việc khả năng giao tiếp bị hạn chế
- Trở ngại tâm lý trong điều chỉnh tâm lý. Để giao tiếp tốt cá nhân cần
điều chỉnh tâm lý cho phù hợp với hoàn cảnh, tình huống … Trong quá trình
này có thể xuất hiện hàng loạt các trở ngại như không biết phản ứng thế nào
cho phù hợp, quá nóng nảy vội vã … dẫn tới không điều chỉnh được tâm lý.
- Trở ngại tâm lý trong tác động qua lại. Quá trình luôn có sự tương tác
giữa các chủ thể. Trong quá trình tương tác, có thể xuất hiện các cản trở như

Như vậy, giao tiếp là một trong những điều kiện đầu tiên để đảm bảo sự
tồn tại của cá nhân và của cả xã hội loài người. Giữa cuộc sống thường ngày,
con người luôn trao đổi thông tin với nhau, phối hợp hành động với nhau, tiếp
xúc trao đổi với nhau qua đó có sự hiểu biết và rung động lẫn nhau. Song nhu
cầu giao tiếp của con người không phải lúc nào cũng “suôn sẻ” cũng được
như ý muốn. Bất kì người nào khi giao tiếp cũng gặp phải những “hàng rào tâm
lý”. Hàng rào này xuất hiện vào bất kì giai đoạn nào của quá trình giao tiếp. Nó
làm cản trở quá trình giao tiếp diễn ra suôn sẻ thậm chí khiến quá trình giao tiếp
trì trệ, khó khăn và hệ quả là nội dung thông điệp có thể sai lệch, mối quan hệ
giữa người truyền tin và người nhận tin cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do có sự trở ngại của một số yếu tố
chủ quan và khách quan.
Ngoài ra còn có cản trở ở sự chênh lệch giữa chủ thể và đối tượng giao
tiếp về tuổi tác, cương vị, trình độ hiểu biết, tình trạng sức khỏe, các định kiến
cá nhân, các ác cảm, mức độ tri giác bản thân và xã hội hoặc những khó khăn
trong việc sử dụng ngôn ngữ hay khác nhau về phong tục tập quán, ngôn
10
ngữ trình độ phát triển văn hóa xã hội ở các địa phương, các dân tộc, các quốc
gia khác nhau… đều gây ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình giao tiếp.
Có hàng vạn yếu tố gây ảnh hưởng lớn hay nhỏ gây trở ngại tâm lý
trong giao tiếp và hệ quả là mục đích, mục tiêu của quá trình giao tiếp không
đạt được.
1.3. Một số nghiên cứu về trở ngại tâm lý trong giao tiếp.
Khó khăn tâm lý trong giao tiếp là vấn đề còn khá nhiều mới mẻ, vì vậy
nó còn ít được nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học.
1.3.1. Nghiên cứu trên thế giới.
Đối với con người, giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu được, là
điều kiện quyết định biến con người sinh học thành con người xã hội, từ cá
nhân thành nhân cách.
Từ thời cổ Hy Lạp, hai tác giả là Socrate (407-399 TCN) và Platon

tin của giao tiếp đã nhận thấy: Ở điều kiện trao đổi thông tin của con người,
có thể xuất hiện những “bức rào” trở ngại tâm lý, tác giả đã nêu ra một vài
nguyên nhân nảy sinh trở ngại tâm lý trong giao tiếp nhưng không đề cập đến
nội hàm khái niệm này.
Hai tác giả H.Hipson và M.Phorvec khi giải thích các chức năng của
giao tiếp đã nêu ra các yếu tố gây khó khăn cho giao tiếp [21] đó là:
- Người phát tin không có khái niệm chính xác về người cùng giao tiếp
với mình.
- Người phát tin che dấu lí do thông tin hoặc những lí do đó không rõ
đối với bản thân người phát tin, nên ý định của họ không được thực hiện.
- Do sự khác nhau của hoàn cảnh hoặc lập trường văn hóa xã hội.
12
- Trong giao tiếp gián tiếp, người phát tin không thể quan sát được
thông báo của mình được người nhận lĩnh hộ như thế nào, thông báo đó tác
động như thế nào đến người nhận.
- Do khoảng cách quá lớn.
- Do cách kiến giải khác nhau về khái niệm sử dụng ở trao đổi thông tin
tạo nên những “hàng rào khái niệm” ngăn cản giao tiếp.
Như vậy, tác giả đã nêu ra một loạt các nhân tố gây khó khăn cho giao
tiếp, nhưng cụ thể khó khăn giao tiếp là gì? Cách phân loại nó ra sao? thì
công trình nghiên cứu này chưa đề cập đến.
Như vậy, khó khăn tâm lý trong giao tiếp là một vấn đề ít được nghiên
cứu ở nước ngoài.
1.3.2. Nghiên cứu ở Việt Nam.
Vấn đề giao tiếp mới chỉ được đi sâu nghiên cứu từ những năm 1970
trong khoa học tâm lý. Có thể điểm qua các công trình nghiên cứu như sau:
Tác giả Đỗ Long với bài viết “C.Mac và phạm trù giao tiếp” (1963);
Tác giả Trần Trọng Thủy với bài “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của
trẻ” (1981), “Giao tiếp tâm lý, nhân cách” (1981); Tác giả Bùi Văn Huệ với
bài viết “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981).

viên. Những khó khăn tâm lý này thường xuất hiện trong điều kiện thi đấu có
các yếu tố gây nhiễu như: khởi động không thành công, đối phương kề mình
có thành tích cao, trọng tài thiếu khách quan,… Các khó khăn tâm lý rất đa
dạng về mặt nội dung, tuy nhiên có thể chia chúng thành ba mặt sau:
- Những khó khăn về nhận thức: Xuất hiện khi phản ánh không đúng về
khả năng bản thân.
14
- Những khó khăn về cảm xúc: Phụ thuộc vào thái độ của vận động
viên đối với nhiệm vụ được giải quyết.
- Những khó khăn về mặt đạo đức: Nảy sinh khi nhận thức và rung cảm
về những yêu cầu của xã hội.
Trong công trình trên, tác giả đã có ưu điểm phát hiện và gọi tên được
các khó khăn tâm lý, xác định được nguyên nhân nảy sinh các khó khăn đồng
thời phân loại được các khó khăn đó. Tuy nhiên, còn các vấn đề như bản chất
của các khó khăn này là gì? làm thế nào để bạn hạn chế được nó? thì tác giả
lại không nói đến.
Tác giả Mạnh Toàn đã trích ra ý kiến của bác sỹ người Mỹ Rabbi Kahler
về 5 nguyên nhân cản trở những cuộc tiếp xúc giữa người và người, đó là:
- Kiêu ngạo
- Hay lo
- Mặc cảm
- Nhút nhát
- Luôn cảm thấy có lỗi.
Ở đây tác giả chỉ nêu và giải thích qua 5 nguyên nhân mà không bàn
đến lí luận cũng như không nghiên cứu thực nghiệm về khó khăn tâm lý trong
giao tiếp.
Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy :
Những vấn đề lí luận về khó khăn trong giao tiếp tuy đã được nghiên cứu
nhưng còn quá ít, hơn nữa việc nghiên cứu thực tiễn chưa nhiều, đặc biệt việc
nghiên cứu những trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên Y khoa với

16
học bắt đầu từ 7h30’ và kết thúc lúc 11h30’. Với sự hướng dẫn và sắp xếp của
giáo viên hướng dẫn các sinh viên sẽ được chia đi các phòng để hỏi bệnh và
sau đó làm bệnh án.
Mục đích đi lâm sàng: sinh viên được học tập thực tế tại giường bệnh,
được tiếp xúc với người bệnh, người nhà của họ và những trang thiết bị phục
vụ công tác khám chữa bệnh. Sinh viên sẽ thực hành các kỹ năng thăm khám
toàn thân, các hệ cơ quan, tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, các hội chứng,
triệu chứng lâm sàng … các bệnh nội, ngoại khoa.
1.4.3.Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản của sinh viên y khoa khi đi thực
hành lầm sàng:
Để thực hiện được các nhiệm vụ học tập khi đi lâm sàng, một hoạt
động không thể thiếu được đối với SV là giao tiếp để thiết lập quan hệ với các
cán bộ y tế, thầy cô, bạn bè và đặc biệt là tiếp xúc với người bệnh, gia đình
của họ.
Chính vì vậy, việc rèn luyện để có được những kỹ năng giao tiếp thuần
thục, khắc phục những trở ngại diễn ra trong quá trình giao tiếp là điều vô
cùng quan trọng đối với SV y khoa.
Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản của sinh viên trong quá trình thực tập
lâm sàng:
+ Kỹ năng tiếp xúc ban đầu
Cảm nhận qua tiếp xúc ban đầu rất quan trọng. Khi người bệnh cảm
thấy sự thấy sự thân thiện, quan tâm của bác sĩ đối với mình, thì người bệnh
sẽ vượt qua được mặc cảm, đau đớn để hợp tác cung cấp thông tin cho bác sĩ.
Còn nếu người bệnh không cảm nhận được sự thân thiện, an toàn khi giao
tiếp, chắc chắn người bệnh sẽ từ chối tham gia vào quá trình tiếp theo và sẽ đi
tìm một bác sĩ khác(mà họ thấy tin cậy hơn) để đề nghị được thăm khám và
theo dõi. Kỹ năng tiếp xúc ban đầu sẽ tạo được thiện cảm với người bệnh
trong lần đầu gặp bác sĩ. Kỹ năng tiếp xúc ban đầu gồm:
17

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu.
- Địa điểm: Trường Đại học Y Hà Nội.
- Thời gian: Từ tháng 1/2013 đến tháng 6/2013.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu định lượng (điều tra bằng bộ câu hỏi) kết hợp
nghiên cứu định tính (Phỏng vấn sâu)
2.3. Đối tượng, cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên Y3(sinh viên y học năm thứ 3) hệ
bác sỹ đa khoa năm học 2012-2013, trường Đại học Y Hà Nội.
- Cỡ mẫu: Toàn bộ 509 sinh viên khối Y3 hệ bác sỹ đa khoa Trường
Đại học Y Hà Nội năm học 2012-2013.
- Chọn mẫu:
+ Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích.
+ Tiêu chuẩn lựa chọn: Đối tượng lựa chọn vào nghiên cứu phải đảm
bảo tất cả các tiêu chuẩn sau:
• Là sinh viên Y3 đang học hệ bác sỹ đa khoa tại trường Đại học Y
Hà Nội, năm 2013.
• Đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.4. Công cụ và quy trình thu thập thông tin.
- Công cụ thu thập thông tin: Chúng tôi xây dựng một bảng hỏi gồm 6
phần. Trong đó:
Phần 1: Thông tin chung của sinh viên.
19
Phần 2: Đặc điểm khi đi thực hành lâm sàng.
Phần 3: Những trở ngại về mặt tâm lý trong giao tiếp của SV Y3ĐKvới
người bệnh khi thực tập lâm sàng.
Phần 4: Ảnh hưởng của trở ngại tâm lý trong giao tiếp với người bệnh .
Phần 5: Những nguyên nhân dẫn đến trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh
viên với người bệnh khi thực hành lâm sàng tại bệnh viện .

- Tỷ lệ % theo lớp.
- Tỷ lệ % SV theo giới.
2 Tình hình tiếp
xúc với người
bệnh khi thực tập
lâm sàng của SV
- Mức độ đi thực tập
lâm sàng môn nội
- Mức độ đi thực
tập lâm sàng môn
ngoại
- Mức độ tiếp xúc
với số BN trung
bình 1 buổi học
lâm sàng
- Mức độ thực hiện
tiếp xúc với bệnh
nhân trung bình 1
buổi học lâm sàng
- Mức độ khó khăn
khi giao tiếp với
bệnh nhân
- Khó khăn về các
khía cạnh nào khi
giao tiếp
- Tỷ lệ % SV đi học môn nội
trong 7 tuần và 11 tuần.
- Tỷ lệ % SV đi học môn ngoại
trong 7 tuần và 11 tuần.
- Tỷ lệ % số BN SV tiếp xúc

đầu tiếp xúc, làm quen với BN.
- Tỷ lệ % SV không biết khai
thác tiền sử.
- Tỷ lệ % SV không biết phát
triển cuộc trò chuyện.
- Tỷ lệ % SV chưa biết cách
thuyết phục BN.
- Tỷ lệ % SV chưa biết tạo
không khí thân mật.
- Tỷ lệ % SV hạn chế về kiến
thức chuyên nghành.
- Tỷ lệ % SV chưa hiểu biết về
các quy định của BV.
- Tỷ lệ % SV nhìn nhận thấp
bản thân.
- Tỷ lệ % SV còn rụt rè, nhút
nhát, ngại ngùng.
- Tỷ lệ % SV căng thẳng tâm lý.
- Tỷ lệ % SV cảm thấy không
tự tin.
- Tỷ lệ % SV nóng vội, mất
bình tĩnh.
- Tỷ lệ % SV cảm giác sợ hãi,
22
lo lắng.
- Tỷ lệ % SV có tâm trạng,
cảm xúc không tích cực.
- Tỷ lệ % SV mặc cảm khi ở vị
trí là SV thực tập.
- Tỷ lệ % SV hành động gượng

ra trở ngại tâm lý.
-Nguyên nhân dẫn
đến trở ngại tâm lý
đó.
tác.
- Tỷ lệ % buổi học lâm sàng
trôi qua buồn tẻ.
- Tỷ lệ % tâm trạng chán nản.
- Tỷ lệ % kết quả học lâm sàng
không như mong muốn.
- Tỷ lệ % chưa tạo được sự tin
tưởng.
- Tỷ lệ % sự khác biệt về tuổi,
giới,…
- Tỷ lệ % thiếu sự giám sát,
quản lý chặt chẽ.
- Tỷ lệ % môi trường giao tiếp
mới lạ.
- Tỷ lệ % bệnh nhân chưa rõ
mục đích.
- Tỷ lệ % SV quá đông.
- Tỷ lệ % thời gian học về GT
ít.
2.6. Xử lý và phân tích số liệu.
- Làm sạch số liệu trước khi nhập.
- Nhập số liệu bằng phần mềm EpiData.
- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
2.7. Sai số và cách khống chế sai số.
24
- Trong nghiên cứu này một số sai số có thể gặp là :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status