Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
55
mục đích khắc phục những nhược điểm của nội soi
bóng kép như chuẩn bị và thao tác phức tạp(1-2). Tuy
nhiên có quan điểm cho rằng do nội soi bóng đơn chỉ
có một bóng gắn ở đầu overtube nên sẽ làm cho đầu
máy soi dễ tuột ra trong quá trình đẩy overtube. Trên
thực tế máy nội soi bóng kép có 2 bóng nhưng quả
bóng gắn ở đầu overtube to hơn quả bóng ở đầu máy
soi và việc giữ cố định máy chủ yếu do vai trò của
bóng gắn ở overtube(7). Để máy có thể cố định trong
khi đẩy overtube trong nội soi bóng đơn bằng cách up
máy soi hết cỡ biến đầu máy soi thành móc cố định
vào nếp ruột non để giữ máy không bị tụt ra trong khi
đẩy overtube. Một số tác giả kết hợp up và hút liên tục
để gia tăng lực bám của đầu máy soi. Chúng tôi đã áp
dụng kỹ thuật dùng đoạn ống nhựa trong gắn vào đầu
máy nội soi trong nội soi dạ dày vào nội soi bóng đơn
trong một số bệnh nhân và thấy kỹ thuật này rất hữu
ích trong việc cố định đầu máy soi cũng như tạo điều
kiện tốt cho quan sát và làm thủ thuật. Qua một số
bệnh nhân được áp dụng kỹ thuật này chúng tôi thấy
thời gian làm thủ thuật nhanh hơn, quảng đường đi
được dài hơn. Tuy nhiên số lượng bệnh nhân được
cũng như màn tăng sáng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. David J, Evan S, et al “Single-balloon
enteroscopy: results from an initial experience at a U.S.
tertiary-care center”. Gatrointestinal Endoscopy 2010;
vol 72; 422-426.
2. Kawamura T, Yasuda K, Tanaka K, Uno K, et al.
“Clinical evaluation of a newly developed single-balloon
enteroscope”. Gastrointestinal Endoscopy 2008; Vol 68;
1112-1116.
3. Pennazio M. “Small-bowel endoscopy”…
Endoscopy 2010; 42: 926–933.
4. Tsujikawa T, Saitoh Y, Andoh A, et al. “Novel
single-balloon enteroscopy for diagnosis and treatment
of the small intestine: preliminary experiences.”
Endoscopy 2008;40:11-5.
5. May A, Nachbar L, Ell C. “Double-balloon
enteroscopy (push-and-pull enteroscopy) of the small
bowel: feasibility and diagnostic and therapeutic yield in
patients with suspected small bowel disease”.
Gastrointest Endosc 2005;62:62-70.
6. Yamamoto H, Kita H, Sunada K et al. “Clinical
outcomes of double-balloon endoscopy for the diagnosis
and treatment of small-intestinal diseases”. Clin
Gastroenterol Hepatol 2004; 2: 1010–1016.
7. Kiyonori Kobayashi, Tomoe Katsumata, and
Katsunori Saigenji. Clinical Usefulness of Single-Balloon
Enteroscopy for the Diagnosis and Treatment of Small-
Intestinal Diseases.
56
trường hợp nhiễm viêm gan C cùng với hơn 200.000
người bị nhiễm HIV trong năm 2000. Không chỉ gây ra
những tiêu cực về mặt sức khỏe cho con người, chất
thải y tế còn gây ô nhiễm cho môi trường tự nhiên từ
các hóa chất, chất phóng xạ trong điều trị nghiên cứu y
tế và việc đốt chất thải. Có thể nói công tác quản lý
chất thải đang trở nên cấp thiết, đặc biệt là ở các nước
đang phát triển và các nước nghèo – nơi mà việc quản
lý chất thải y tế và công nghệ xử lý còn hạn chế. Việt
Nam cũng đang phải đối mặt với tình trạng tương tự và
và cũng đang tìm những giải pháp thích hợp cho quản
lý và xử lý chất thải y tế. Bài báo này sẽ đề cập tới
những ảnh hưởng và thực trạng quản lý chất thải y tế
ở Việt Nam; đồng thời sử dụng số liệu trong nghiên
cứu về chất thải được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa
Đắk Lắk để đưa ra một số khuyến nghị cho công tác
quản lý chất thải y tế tại bệnh viện.
Từ khóa: quản lý chất thải rắn y tế, Việt Nam,
nghiên cứu trường hợp.
SUMMARY
SOLID MEDICAL WASTE MANAGEMENT IN
VIETNAM A CASE STUDY OF DAK LAK GENERAL
HOSPITAL IN 2012
It is undeniable that the health sector has
contributed enormously for medical examination and
treatment. However, along with its development,
medical waste is still a matter in medical waste
management and is a concern of governments,
Keywords: Solid medical waste management,
Vietnam, case study.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, lượng chất thải rắn tại nhiều quốc gia
trên thế giới đang gia tăng đáng kể, trong đó phải kể
việc tăng lượng chất thải rắn y tế (CTRYT) mỗi năm.
Tại Việt Nam, từ năm 2003 đến nay, tổng lượng
CTRYT phát sinh hàng năm có sự gia tăng rất mạnh,
từ 21.500 tấn (2003) tới khoảng 164.250 tấn (2012)
(gấp 7,6 lần) [2], [7]. Năm 2012, cả nước ta có 1.361
cơ sở khám chữa bệnh, tăng 1,08 lần so với năm
2010 (1.263 cơ sở), nhưng chỉ có 50% trong số này
thực hiện phân loại, thu gom CTRYT đạt yêu cầu của
Quy chế quản lý chất thải y tế (CTYT) trong Quyết
định số 43/2007/QĐ-BYT. Nhiều bệnh viện (BV) tới
nay vẫn sử dụng công nghệ thiêu đốt thủ công hoặc
các lò đốt chưa đạt tiêu chuẩn, gây ô nhiễm môi
trường và chưa đem lại hiệu quả cao trong xử lý chất
thải. Phần lớn BV tuyến huyện và một số BV chuyên
khoa các tỉnh miền núi còn sử dụng phương pháp
chôn lấp không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật trong khuôn
viên BV [2], [7]. Với thực trạng gia tăng số lượng BV
như hiện nay, việc quản lý CTRYT đang là gánh nặng
lớn của nước ta.
Bài báo tổng quan này nhằm cung cấp các thông
tin về ảnh hưởng của CTRYT tới sức khỏe con người
và môi trường, đồng thời mô tả thực trạng quản lý
CTRYT tại các cơ sở khám chữa bệnh tại Việt Nam
và liên hệ với thực trạng tại BV Đa khoa (BVĐK) Đắk
Lắk. Dựa trên kết quả rà soát, bài báo sẽ chỉ ra
2. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế
Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
57
CTRYT, đặc biệt là các CTRYTNH, nếu không
được quản lý chặt chẽ, không chỉ gây sức ép tới môi
trường, gây ô nhiễm đất, nước và không khí cũng
như mất mỹ quan đô thị [13]; mà còn có thể gây ra
các tổn thương tới nhân viên y tế (NVYT) và nhân
viên làm công tác quản lý CTYT khác [14]; tạo điều
kiện thuận lợi cho việc lây lan, nhiễm chéo các bệnh
truyền nhiễm (tả, lỵ, nhiễm trùng da, viêm gan…)
[13], tạo môi trường cho vi sinh vật gây bệnh kháng
thuốc và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng [9], [19].
2.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi
trường
Môi trường không khí trong BV hiện đang chịu sự
tác động rất lớn của công tác quản lý CTRYT, khi các
chất thải BV không được quản lý tốt gây rơi vãi, tồn
đọng, thùng đựng không có nắp đậy, làm bốc mùi hôi
thối [12]. Quan trọng hơn, công tác xử lý CTRYT
không được thực hiện triệt để, đúng kỹ thuật; các lò
đốt hầu hết không có bộ phận kiểm soát ô nhiễm
không khí; thêm vào đó, do thiết kế, khả năng vận
sinh; chất tro trong lò đốt CTYTNH cũng như chất ô
nhiễm từ các bãi rác không đạt chuẩn cũng có thể có
trong môi trường đất, gây ô nhiễm nghiêm trọng nếu
không được tiêu hủy và bảo đảm thiết kế an toàn [9].
Ô nhiễm trứng giun trong đất là kết quả thu được qua
nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích, so sánh tại
các bệnh viện huyện thuộc Hải Dương của Trần Thị
Minh Tâm (2006) [12]. Số lượng trứng giun trong 1 kg
đất tại bãi rác của các bệnh viện có xử lý chất thải y
tế thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với các bệnh viện
chưa xử lý chất thải (giun đũa: 108 ± 18 và 220 ± 32;
giun tóc: 20 ± 9 và 40 ± 6, p< 0,05) [12].
2.2. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức
khỏe con người
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với CTRYT nguy hại là
những người có nguy cơ tiềm tàng. Trong đó, các
nhóm người sau đây có nguy cơ cao hơn [10]: Cán bộ
y tế (NVYT); nhân viên thu gom và xử lý chất thải
(trong BV, nhân viên vận chuyển, nhân viên xử lý ở
khâu cuối), lao công; bệnh nhân nội trú; người nhà,
khách đến thăm bệnh nhân; những người bới rác thải.
Các CTRYT sắc, nhọn được đánh giá là có nguy
cơ gây tổn thương kép (gây chấn thương và truyền
bệnh) nên được coi là rất nguy hại [12]. Nguy cơ từ
loại này được quan tâm nhiều hơn đối với đội ngũ
NVYT. Nghiên cứu của Helal và cộng sự (2011) tại
Abu-Dhabi cho kết quả 7,4% chấn thương trong
NVYT là do các vật sắc nhọn từ CTRYT. Sự tổn
thương do vật sắc nhọn sử dụng trong y tế có khả
năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như
hoặc mãn tính qua đường da, niêm mạc, hô hấp, tiêu
hóa sẽ dẫn đến sự tổn thương ở da, mắt và niêm mạc
đường hô hấp. Các loại thuốc điều trị ung thư có khả
năng gây độc tế bào, kích thích hay gây tổn thương
cục bộ, gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu và viêm da
[9], [12]. Chất phóng xạ có khả năng gây ảnh hưởng
đến chất liệu di truyền. Cách thức tiếp xúc và thời gian
tiếp xúc với chất thải phóng xạ là các yếu tố quyết
định, ảnh hưởng đối với sức khỏe được biểu hiện
bằng các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, buồn
nôn cho đến các vấn đề bị đột biến về gen sau này [9].
3. Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y
Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
58
tế ở các bệnh viện Việt Nam
3.1. Thực trạng phát sinh CTRYT
Khối lượng CTRYT phát sinh có sự thay đổi rất
khác nhau tùy theo từng khu vực, điều kiện kinh tế,
tùy theo từng cách phân loại BV hoặc quy mô BV,
loại hình BV và các thủ thuật chuyên môn, số vật tư
tiêu hao. Song, nhìn chung, lượng CTRYT phát sinh
tại các BV Việt Nam ở mức cao và có xu hướng tăng
hàng năm tại hầu hết các tỉnh trong cả nước [2]. Năm
chưa được thực hiện triệt để. Theo nghiên cứu của
Ngô Kim Chi (2010), tiến hành tại 172 BV của 5 thành
phố: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và TP. Hồ
Chí Minh, 100% BV đã tiến hành phân loại CTYT;
hầu hết các BV đã chú trọng đến phân loại và cô lập
vật sắc nhọn (loại A), sử dụng các thùng chứa, hộp
đựng vật sắc nhọn, nhưng chỉ 30,1% BV sử dụng
hộp theo quy định, 49,7% tận dụng các chai nhựa,
hộp kim loại, 3,7% dùng hộp carton, 16,4% dùng các
loại hộp; có 1,7% BV không sử dụng túi chứa rác lây
nhiễm màu sắc theo quy định [6]. Đến nay vẫn còn
hiện tượng phân loại nhầm chất thải gây tốn kém
trong việc xử lý. Nhiều đơn vị chỉ ghi chất thải lây
nhiễm (đưa đi đốt) và chất thải sinh hoạt thông
thường [1], [6]. Toàn bộ 17 BV tại miền Bắc trong
danh sách các cơ sở gây ô nhiễm tại Quyết định
64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 đã thực hiện phân
loại và thu gom ngay tại các khoa/ phòng. Tuy nhiên,
túi và thùng đựng chất thải lây nhiễm không sắc nhọn
là các thùng nhựa thông thường, chỉ đáp ứng màu
sắc, nắp kín và không có biểu tượng hay vạch báo
nào [17].
Thực trạng này tương tự ở BVĐK tỉnh Đắk Lắk.
Hầu hết các khoa phòng đều có đầy đủ dụng cụ
thu/phương tiện cho thu gom phân loại CTYT thu
gom rác thải và tần suất thu gom là 1-2 lần/ngày, tùy
theo khối lượng CTRYT phát sinh. Các tiêu chí như
có túi/thùng thu gom chất thải riêng biệt, thể tích của
túi và độ dày của túi đều đạt 100%, riêng chỉ tiêu về
màu sắc cho dụng cụ thu gom thì chưa có túi mầu
Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
59
Nội dung đánh giá
Kết quả đạt được
Tần số Tỷ lệ (%)
Túi đựng chất thải được buộc kín
trên đường vận chuyển
25 100
CTYTNH và chất thải thông thường
phải được vận chuyển riêng về nơi
lưu trữ của bệnh viện
0 0
Có xe chuyên dụng cho việc vận
chuy
ển CTRYT
15 60
Có quy định giờ vận chuyển chất
thải
25 100
Có quy định đường vận chuyển chất
thải, tránh vận chuyển qua các khu
vực sạch
Nội dung đánh giá
Kết quả đạt
được
Tần số
Tỷ lệ
(%)
Thời gian lưu trữ chất thải tại khoa
phòng không quá 24 giờ
25 100
Có phương tiện rửa tay, bảo hộ, dụng
cụ, hóa chất làm vệ sinh cho nhân viên
thu gom
25 100
Chất thải lây nhiễm, chất thải sinh hoạt,
chất thải tái chế phải được lưu trữ riêng
25 100
Thời gian lưu trữ chất thải tại bệnh viện
không quá 48 giờ
25 100
3.5. Hình thức xử lý CTRYT
Hình thức xử lý CTRYT trong BV nước ta hiện
nay rất đa dạng, phụ thuộc vào quy mô và điều kiện
của từng BV; song, đa số còn lạc hậu. Tỷ lệ BV xử lý
CTRYT bằng lò đốt 2 buồng hoặc sử dụng công nghệ
vi sóng/ nhiệt ướt khử khuẩn CTRYTNH là 29,4%, số
BV hợp đồng với công ty môi trường thuê xử lý là
huấn phân loại, thu gom và vận chuyển CTRYT được
thực hiện thường xuyên; kết hợp sự giám sát và kiểm
tra của phòng Điều dưỡng BV và Phòng chống nhiễm
khuẩn bệnh viện, nên việc thực hiện của nhân viên,
nhìn chung, đã đáp ứng đúng quy chế. Ngoài ra, sự
ủng hộ của ban lãnh đạo và nhân viên y tế là thuận
lợi rất lớn cho công tác quản lý CTRYT của BVĐK
Đắk Lắk. Đặc biệt, năm 2007, BV được đầu tư hệ
thống xử lý chất thải bằng công nghệ hấp ướt và một
máy nghiền nhỏ rác sau khi đã hấp xong. Với công
nghệ này tình trạng khí thải gây nguy cơ ô nhiễm môi
trường đã cơ bản được giải quyết [16].
Về khó khăn, với cách bố trí khoa/phòng chưa
được hợp lý, kiến trúc cũ với số lượng giường bệnh
chưa đáp ứng đủ với nhu cầu chăm sóc sức khỏe
ngày một tăng của nhân dân thì gánh nặng quản lý
lượng chất thải phát sinh cũng như công tác phân
loại, thu gom và vận chuyển là khó tránh khỏi. Các
trang thiết bị phục vụ việc thu gom, vận chuyển của
BV hiện nay đã có tương đối đủ nhưng bị xuống cấp
nhiều, không đáp ứng được trong bối cảnh lưu lượng
bệnh nhân ngày một tăng thì trong tương lai cần có
sự đầu tư thêm, nếu không cơ sở trang thiết bị sẽ
thiếu và xuống cấp [16].
Bên cạnh khó khăn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị,
còn có sự hạn chế về nhân lực và tài chính. Nhân
viên quản lý chất thải bệnh viện hiện nay là kiêm
nhiệm nên hoạt động xử lý chất thải cũng gặp khó
khăn. Như đã trình bày trong phần kết quả, bệnh viện
còn thiếu kinh phí để mua mới các xe vận chuyển
tái chế; khâu thu gom còn để lẫn lộn rác sinh hoạt
vào rác thải lây nhiễm, túi đựng không có vạch giới
hạn ¾; khâu vận chuyển không có lối đi riêng và
phương tiện, xe chuyên dụng chưa đạt yêu cầu; thiếu
nhà lạnh lưu trữ CTRYTNH.
Nguyên nhân của thực trạng này, qua kết quả
điều tra, có nhiều nét tương đồng với các BV khác
trong cả nước. Đó là sự hạn chế cơ sở hạ tầng, trang
thiết bị; sự yếu kém về nhân lực phụ trách chuyên về
quản lý CTRYT; sự thiếu thốn kinh phí vận hành hệ
thống xử lý chất thải.
Từ các kết quả phân tích ở trên, chúng tôi đưa ra
một số khuyến nghị dành cho ban lãnh đạo bệnh
viện:
1. Tận dụng hệ thống xử lý CTRYT vào việc liên
hệ đề xuất hỗ trợ các đơn vị khác xử lý chất thải, qua
đó, tự túc được kinh phí vận hành và bảo quản hệ
thống.
2. Dành kinh phí nhằm cung cấp đầy đủ các
phương tiện vận chuyển (xe chuyên dụng, thùng
đựng rác kín), thay thế các phương tiện thu gom
không đạt yêu cầu (thiếu vạch kẻ).
3. Tập huấn và kiểm tra thường xuyên việc phân
loại, thu gom CTRYT của NVYT các khoa/phòng,
nhấn mạnh việc phân loại riêng biệt CTRYTNH, bổ
sung việc phân loại chất thải tái chế tại nguồn.
4. Xây dựng đường vận chuyển CTRYT riêng,
tránh tình trạng vận chuyển qua khu điều trị hoặc
thang máy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
11. Nguyễn Huy Nga (2005), "Nguy cơ từ khí thải
của lò đốt chất thải y tế", Thông tin Làng văn hóa sức
khỏe. 7 (3/2005), tr. 20-21.
12. Trần Thị Minh Tâm (2007), Thực trạng quản lý,
ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường trong
các bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương, Luận án Tiến sỹ y
học, trường Đại học Y Hà Nội.
13. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số
256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 về việc phê duyệt
chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020.
14. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định
30/2008/QĐ-TTG ngày 22/2/2008 về phê duyệt Quy
hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm
2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
15. Thủ tướng Chính phủ (2012), "Quyết định số
170/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 về việc phê duyệt Quy
hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
đến năm 2025".
16. Nguyễn thị Bích Trang (2012), Thực trạng quản
lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk,
luận văn thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Trường đại học Y tế
công cộng.
17. Viện Pasteur Nha Trang, (2012), Báo cáo tình
hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại các
bệnh viện của các tỉnh duyên hải miền Trung, những tồn
tại và giải pháp.
18. Viện Trang thiết bị và Công trình y tế (2006), Kết
quả điều tra, đánh giá thực trạng tác động môi trường của
hệ thống lò đốt chất thải bệnh viện và một số thiết bị phát