Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
Lời mở đầu
Nghề kinh doanh ngân hàng cũng giống như bất kì một hoạt động kinh
doanh nào khác nó cũng luôn ẩn chứa những rủi ro. Hoạt động ngân hàng có đối
tượng kinh doanh là tiền tệ, nên rủi ro có tính đa dạng, mức độ cao và sự lan
truyền rộng khắp khi rủi ro xảy ra. Điều này có nguồn gốc từ đặc điểm đối tượng
kinh doanh, nguồn vốn kinh doanh, về sử dụng vốn và các đặc trưng trong lĩnh
vực kinh doanh ngân hàng. Vì vậy các ngân hàng thương mại cần có các biện
pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro hữu hiệu để giảm tới mức thấp nhất rủi ro có
thể xảy ra. Hạn chế rủi ro cùng đồng thời là hạn chế cơ hội sinh lãi, vì vậy ngân
hàng cần thiết phải chấp nhận rủi ro nhưng phải kiểm soát được.
Ngân hàng có thể quản lí rủi ro một cách tích cực như hạn chế rủi ro bằng
cách giảm thiểu các hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro, hay cải thiện việc đa
dạng hoá rủi ro (đa dạng hoá rủi ro có nghĩa là đa dạng các hoạt động kinh
doanh, lỗ và lãi sẽ bù trừ nhau).
Ngân hàng có thể quản lí rủi ro một cách thụ động như tăng khả năng chịu
đựng rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro, hay lập dự trữ vốn tự có và vốn
khả dụng (vốn tự có được coi như là cái đệm để bù đắp rủi ro khi ngân hàng thua
lỗ là điều kiện để ngân hàng tồn tại và tiếp tục phát triển).
Rủi ro tín dụng của các ngân hàng cần phải được tập trung, theo dõi và quản
lý sát sao, nhất là đối với đối tượng khách hàng mà ngân hàng tập trung hướng
đến, ở ngân hàng Thương Mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam nói chung và chi
nhánh Techcombank Hai Bà Trưng nói riêng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, trong quá trình thực
tập tại chi nhánh Techcombank Hai Bà Trưng, em đã quyết định chọn đề tài
“Quản lý rủi ro tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Kỹ
thương Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng” cho chuyên đề thực tập của em tại
ngân hàng. Nội dung chính của chuyên đề thực tập được chia thành 3 chương:
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
1
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
của nền kinh tế. Ngân hàng có nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng
các ngân hàng.
Ngày nay hệ thống ngân hàng thương mại là bộ phận không thể tách rời,
tồn tại tất yếu trong đời sống kinh tế xã hội. Trình độ phát triển của một hệ
thống ngân hàng của một quốc gia phản ánh trình độ phát triển kinh tế của
nước đó. Các thông tin liên quan đến hoạt động ngân hàng là mối quan tâm
hàng đầu của chính phủ, của các doanh nghiệp, của tầng lớp dân cư .
Không phải ngẫu nhiên mà ngân hàng lại ở vào vị trí trụ cột quyết định sự
tồn vong của nền kinh tế đất nước như vậy. Chính bề dày lịch sử thai nghén, ra
đời, tồn tại và phát triển chất đặc thù là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ đã
đương nhiên đặt ngân hàng vào vị trí huyết mạch đó.
Hoạt động của NHTM đa dạng, phức tạp và luôn thay đổi để bắt kịp sự đổi
thay đến chóng mặt của nền kinh tế. Mỗi một nền kinh tế có một đặc thù riêng,
và tập quán, luật pháp ở mỗi quốc gia một khác nên đã nảy sinh nhiều quan
niệm, nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng. Luật Tổ chức tín dụng Việt
Nam ghi rõ: “Ngân hàng là một loại hình Tổ chức tín dụng được phép thực
hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.
Trong khái niệm này, hoạt động ngân hàng được giải thích tại Luật Ngân hàng
nhà nước “ là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung
ứng các dịch vụ thanh toán”.
Nhưng dù có được xem xét định nghĩa như thế nào thì tựu trung lại có thể
nói Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện 3
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
4
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán
cho khách hàng.
5
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và
lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay
ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng
tiền cung ứng. Các nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng
tạo ra chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự
trữ vượt mức, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi
không phải tiền gửi thanh toán …
Chức năng trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế: các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu với
cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, nói cách khác, ngân hàng thương
mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay,
vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch
giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các
bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.
Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi
dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn
đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh
toán tiện lợi.
Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện
lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức
lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ. Đặc biệt là
đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản
xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.
Chức năng trung gian tài chính được xem là chức năng quan trọng nhất
1.1.3. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn.
Đây là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất , ảnh hưởng tới chất lượng hoạt
động của ngân hàng .Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác
nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi , đi vay , phát hành giấy tờ có giá . Mặt
khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được , ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ
cho nhu cầu phát triển sản xuất , cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương
và cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín
của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh
doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư,
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
7
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứ
vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương . Từ đó
đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn
nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước .
Hoạt động huy động vốn hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn trong ngân
hàng, làm tăng giá trị nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, cơ
bản gồm các hình thức sau:
Nhận tiền gửi:
- Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán)
- Tiền gửi có kỳ hạn của doanh ngiệp, các tổ chức xã hội
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
- Tiền gửi của các ngân hàng khác
Đi vay và nghiệp vụ đi vay
- Vay NHNN
- Vay các tổ chức tín dụng khác
- Phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu)
Các nguồn khác
việt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói
chung là cao song lợi nhận lớn.
Hoạt động đầu tư
Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhu
cầu khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi
Ngân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp
đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay,
ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng
thương mại có thể tiến hành là:
- Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các
doanh nghiệp, các công ty khác.
- Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Hoạt động quản lý ngân quỹ.
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và
nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách
hàng. Do đó kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân,
nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó
ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành
đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng
ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
9
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
1.2. Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp Vừa và nhỏ của ngân
hàng thương mại
1.2.1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.1. Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ
bé bề mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chia
cao.
Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng
ít lao động nên có khả năng sẵn sàng mạo hiểm. Nếu thất bại thì cũng không bị
thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có khả năng làm lại từ đầu được.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các lĩnh vực
mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh
nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt, họ phải dựa vào lợi nhuận thu
được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm.
(3) Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu
quả với chi phí cố định thấp.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố
định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép.
Bên cạnh đó doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn.
Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của
mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được hiệu quả kinh tế- xã hội
cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh
tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp có nhiều hạn chế.
(4) Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người
lao động.
Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không lớn. Số lượng lao
động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí
nghiệp chưa quá mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người
lao động khá gắn bó. Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn cũng sẽ không khó khăn
trong việc dàn xếp.
Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tuy nhiên, bên cạnh một số ưu điểm trên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Việt Nam hiện nay còn khá nhiều hạn chế. Có thể thấy hạn chế của loại hình
doanh nghiệp này đến từ hai nguồn. Các hạn chế khách quan đến từ thực tế
bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế của doanh nghiệp vừa và
lượng, số lượng và chủng loại
Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp
Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương
Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn
Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng
trưởng kinh tế
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
12
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
1.2.2. Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng
trong việc cấp tín dụng. Trong đó, các giai đoạn cụ thể được xây dựng theo
một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đến khi
chấm dứt quan hệ tín dụng. Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn
mang tính chất liên hoàn theo một trật tự nhất định đồng thời có quan hệ chặt
chẽ gắn bó với nhau.
Quy trình này có thể cụ thể hóa theo sơ đồ sau:
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
Tiếp xúc khách hàng,
hướng dẫn lập và tiếp
nhận hồ sơ vay vốn
Thẩm định khách
hàng và phương án
dự án kinh doanh
Hồ sơ trình ban tín dụng,
hội đồng tín dụng
Hoàn thiện hồ sơ tín
dụng và thực hiện cấp
tín dụng
Kiểm tra và xử lý nợ vay
soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
- Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay dựa trên luân chuyển
của hàng hóa. Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay
vốn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm. Cho vay luân chuyển rất
thuận tiện cho khách hàng. Thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều
lần vay. Tuy nhiên nếu khách hàng gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa thì
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
14
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay
không được quy định rõ ràng.
- Cho vay thấu chi: Thấu chi là phương thức cho vay trong đó ngân
hàng cho phép khách hàng được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của
mình đến một giới hạn nhất định và trong khoản thời gian xác định.
b. Cho vay trung và dài hạn
Là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho tài sản cố
định và tài sản lưu động thường xuyên hay nhu cầu tài trợ cho các dự án riêng
biệt. Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm trang
thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ…Về nguyên tắc, doanh
nghiệp có thể sử dụng vốn dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn để
tài trợ cho những loại tài sản này. Nhưng do vốn chủ sở hữu có giới hạn nên
thường doanh nghiệp phải sử dụng đến nguồn vốn vay dài hạn. Doanh nghiệp
có thể vay dài hạn thông qua ngan hàng hoặc phát hành trái phiếu huy động
vốn trên thị trường.
Nhu cầu theo = Nhu cầu đầu tư vào + Nhu cầu đầu tư vào
DA TSCĐ TSLĐ
Số tiền có thể cho vay = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia tài trợ
Cho vay trung và dài hạn có thể bao gồm nhiều phương thức khác nhau như
cho vay trả góp, cho vay theo các dự án…
gặp phải rủi ro cho vay, ngân hàng cũng thường rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh toán, ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của ngân hàng và lòng tin của
khách hàng, là hoàn cảnh mà không một ngân hàng nào muốn rơi vào.
Rủi ro tín dụng ở mỗi ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau.
Mức độ nhẹ nhất là khi ngân hàng không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất
là khi ngân hàng không thu được cả vốn và lãi, nợ thất thu ở tỷ lệ cao dẫn đến
ngân hàng mất vốn và thua lỗ. Kéo dài tình trạng này sẽ đẩy nhanh ngân hàng
đến bờ vực phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng đến cả nền kinh tế nói chung và
hệ thống ngân hàng nói riêng.
Đối với nền kinh tế, hoạt động nhịp nhàng của hệ thống ngân hàng là
vô cùng quan trọng, liên quan đến các cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp.
Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp cần vay vốn
vì ngân hàng là một kênh dẫn vốn quan trọng, doanh nghiệp không thể phát
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
16
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
triển, đời sống công nhân khó khăn, nền kinh tế cũng phải chịu hậu quả nặng
nề, giá cả tăng, sức mua giảm, tình trạng thất nghiệp gia tăng mạnh, mất ổn
định kinh tế và xã hội. Một ngân hàng phá sản hay gặp khó khăn trong thanh
khoản cũng có thể làm cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế rơi vào khủng
hoảng nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời. Đối với các ngân hàng
lớn, ở các quốc gia lớn, khủng hoảng có thể lan ra toàn cầu như khung hoảng
tài chính Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008.
1.3.1.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro
Nguyên nhân bên ngoài:
- Do thị trường biến động không thể dự đoán
Nền kinh tế của Việt Nam còn non trẻ và chưa thể đứng vững trước các biến
động tiềm ẩn của thị trường khu vực và thế giới, vấn đề xuất nhập khẩu còn
gặp nhiều khó khăn. Doanh nghiệp Việt Nam tất nhiên không thể thoát ra
ngoài vòng xoáy của giá thành nguyên vật liệu tăng cao, sản phẩm khó tiêu thụ
hàng còn chưa theo kịp, vai trò kiểm toán chưa được phát huy và hệ thống
thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Thanh tra ngân hàng còn thụ
động xử lý vụ việc đã phát sinh chứ ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa
rủi ro hay vi phạm. Thực tế cho thấy hàng loạt những sai phạm chứa đựng
nhiều rủi ro ở một số ngân hàng thương mại đe dọa đến cả hệ thống đáng lẽ đã
có thể được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý
sớm hơn.
- Hệ thống thông tin quản lý chung còn nhiều bất cập.
Ở Việt Nam, trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng CIC của ngân hàng
Nhà nước là địa chỉ đầu tiên các chuyên viên khách hàng tìm đến tham khảo
khi xuất hiện khoản vay, vì nó cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt
động tín dụng, cũng như uy tín khách hàng trong quan hệ tín dụng với các
ngân hàng trước đó. Tuy nhiên thông tin trung tâm này cung cấp còn đơn điệu,
thiếu cập nhật, không phản ánh hay đánh giá gì về tiềm lực cũng như uy tín
trong kinh doanh của khách hàng, chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm
doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả. Nếu các ngân hàng vì chạy theo
lợi nhuận, mở rộng hoạt động cho vay trong điều kiện môi trường thông tin
không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu.
Nguyên nhân chủ quan:
• Từ phía người đi vay:
- Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm và năng lực hoạt động kinh
doanh còn đang ở trình độ thấp, hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắm
bắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh. Vì vậy, khi dự án
vay vốn gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề, rủi ro tín
dụng là điều không thể tránh khỏi.
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
18
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
- Thông thường khi vay vốn, các doanh nghiệp phải xuất trình các
phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Ngân hàng xét duyệt sau đó quyết định
hơn. Hơn nữa, nhiều ngân hàng thương mại do quá chú trọng đến lợi nhuận
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
19
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
nên đã chấp nhận rủi ro cao, bất chấp những khoản vay không lành mạnh,
thiếu an toàn.
- Quy chế cho vay chưa chặt chẽ, quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đều khiến
cho ngân hàng thương mại gặp phải rủi ro tín dụng.Việc đánh giá giá trị tài sản
thế chấp, cầm cố cũng là vấn đề rất lớn, hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trong
quy chế tín dụng tại các ngân hàng thương mại.
-Việc giám sát sau khi cho vay cũng là trách nhiệm tuy quan trọng nhưng
thường bị xem nhẹ bởi các chuyên viên khách hàng, các cán bộ tín dụng.
Thường ngân hàng chỉ tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi
cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, giám sát đồng vốn sau khi cho vay.
Công việc theo dõi hoạt động kinh doanh của khách hàng này nhằm đảm bảo
sự tuân thủ các điều khoản đã ghi trên hợp đồng tín dụng, đồng thời tìm ra
những cơ hội mới để phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Ngoài ra, còn rất nhiều nhân tố khác thuộc về ngân hàng thương mại
gây ra rủi ro tín dụng như: chất lượng thông tin và xử lý thông tin trong ngân
hàng thương mại, cơ cấu tổ chức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực công
nghệ
1.3.2. Quy trình giám sát, quản lý rủi ro
Giám sát rủi ro tín dụng là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục và
được thực hiện với từng khoản vay của khách hàng để đảm bảo thông tin và độ
rủi ro của khách hàng luôn được ngân hàng nắm vững, đồng thời có biện pháp
xử lý kịp thời khi có nguy cơ xảy ra rủi ro.
Quy trình giám sát tín dụng được xem xét ở 3 giai đoạn: trước, trong và
sau tín dụng.
Trước tín dụng:
- Thu thập hồ sơ, thông tin khách hàng, xác minh tính chân thực của
BBB
Có khả năng trả đầy đủ các khoản nợ. Tuy nhiên
sự
thay đổi bất lợi của các yếu tố bên ngoài có
thể
tác
động giảm khả năng trả
nợ.
BB
Có ít nguy cơ mất khả năng trả nợ. Đang phải đối
mặt
với nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể tác động giảm
khả
năng
trả
nợ.
B
Có nhiều nguy cơ mất khả năng trả
nợ.
CCC
Đang bị suy giảm khả năng trả nợ. Trong trường
hợp
có các yếu tố bất lợi xảy ra thì nhiều khả năng s
ẽ
không
trả được
nợ.
CC
Đang bị suy giảm nhiều khả năng trả
nợ
vay vốn. Để đảm bảo doanh nghiệp dùng vốn vay đúng mục đích, chuyên
viên khách hàng phải tiến hành kiểm tra định kì hoặc đột xuất tình hình
kinh doanh của doanh nghiệp, tình trạng hàng tồn kho, phải thu phải trả,
hóa đơn nhập – xuất…Những theo dõi của chuyên viên khách hàng cần
phải được ghi chép lại thành báo cáo để theo dõi và phát hiện xử lý những
sai lệch do doanh nghiệp vô ý hoặc cố tình làm trái các điều khoản ghi trên
hợp đồng tín dụng.
• Theo dõi tình hình các khoản nợ khác của doanh nghiệp, vì doanh
nghiệp thường vay vốn từ nhiều nguồn, hoặc có nhiều hơn 1 khoản vay
ở 1 ngân hàng. Khi một khoản vay của khách hàng không được thanh
toán khi đến hạn hoặc đến lịch trả nợ thì ngay lập tức không chỉ khoản
nợ đó mà tất cả các khoản vay khác của khách hàng cần phải được tiến
hành theo dõi chặt chẽ và bị đẩy xuống nợ xấu. trong quá trình theo dõi,
nhân viên ngân hàng nhận thấy nhiều khoản cho vay đang có dấu hiệu
kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn. Khoản cho vay có vấn
đề được xây dựng dựa trên quy định của ngân hàng.
Phân loại nợ
- Nhóm 1:Nợ đủ tiêu chuẩn
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
22
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
+ Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ
khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
- Nhóm 2:Nợ cần chú ý
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn
nợ đã cơ cấu lại.
- Nhóm 3:Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90-180 ngày.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
nghiệp vẫn cần được thực hiện để đảm bảo được nguồn thông tin kịp thời và
chính xác. Trong trường hợp rủi ro xay ra, ngân hàng cần phải kết hợp với
khách hàng tìm biện pháp giải quyết cho vấn đề, chứ không phải là bán ngay
tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vì đó chỉ là biện pháp cuối cùng, trước khi sử
dụng quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất. Các khoản nợ quá hạn cần được ghi
chép, theo dõi trên hệ thống kiểm soát rủi ro và thu hồi nợ của ngân hàng, đây
cũng là căn cứ để xếp loại uy tín khách hàng, áp dụng từng chính sách tín
dụng riêng biệt đối với từng khách hàng riêng biệt đảm bảo đưa rủi ro đến
mức thấp nhất hoặc lấy lợi nhuận bù đắp vào khoản rủi ro mà ngân hàng sẵn
sàng đương đầu.
Việc xử lý nợ xấu cần thực hiện theo đúng quy trình, thông báo nhắc nhở
khách hàng, tiến hành xem xét gia hạn nợ nếu khách hàng có yêu cầu, cùng
khách hàng nghiên cứu giải quyết vấn đề, bán tài sản đảm bảo để bù đắp tổn
thất và sử dụng các quỹ dự phòng rủi ro.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.4.1. Dấu hiệu nhận biết rủi ro
Nhận biết rủi ro là bước đầu tiên trong việc quản lý rủi ro, nhận biết
được rủi ro, ngân hàng sẽ có các giải pháp đề phòng ngừa hay hạn chế nó.
• Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng:
Đối với mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng:
- Khi ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp các báo cáo tài chính
thì khách hàng chậm trễ, lấy nhiều lý do để trì hoãn nhưng không có lý do nào
thuyết phục.
- Khách hàng có dấu hiệu không thực hiện đủ các quy định, nghĩa vụ
tài chính, pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng.
- Có những yêu cầu về gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ vay nhiều lần
mà lý do đưa ra là thiếu căn cứ và không thỏa đáng.
- Thanh toán các khoản lãi vay và nợ gốc không đầy đủ và đúng hạn.
- Có dấu hiệu sử dụng các tài khoản ngắn hạn để tài trợ cho các hoạt
- Sẵn sàng ký kết các hợp đồng có giá trị quá lớn, không phù hợp với
năng lực của doanh nghiệp, hoặc bỏ qua các hợp đồng nhỏ nhưng tỷ suất lợi
nhuận cao.
- Có những thay đổi bất thường trong cơ cấu vốn, khả năng thanh
toán hay các chỉ số hoạt động.
- Phát sinh những chênh lệch lớn giữa dòng tiền thực tế với mức dự
kiến khách hàng đưa ra khi đề nghị vay vốn.
Nguyễn Minh Thu Tài chính doanh nghiệp 48C
25