ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN THỊ THU HẰNG
QUYỀN CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Trần Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký tự các từ viết tắt
Danh mục hình ảnh
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ
QUYỀN NHÂN THÂN GẮN VỚI HÌNH ẢNH CỦA CÁ NHÂN 6
1.1. Khái niệm chung về quyền nhân thân của cá nhân 6
1.1.1. Khái niệm nhân thân 6
3.1. Các trách nhiệm do vi phạm quyền nhân thân của cá nhân
về hình ảnh 57
3.1.1. Trách nhiệm xin lỗi hoặc công khai xin lỗi 58
3.1.2. Trách nhiệm đền bù tài chính 59
3.2. Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh của
cá nhân 63
3.2.1. Biện pháp tự bảo vệ 65
3.2.2. Biện pháp kiện dân sự 69
3.2.3. Biện pháp hành chính 76
3.2.4. Biện pháp hình sự 79
3.3. Nhận xét về việc áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền nhân
thân của cá nhân về hình ảnh 83
3.4. Một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân của
cá nhân đối với hình ảnh 86
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt
Giải thích
BLDS
VDC
Bộ luật dân sự
Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
NĐ
CP
ACLU
NSW
ta là Hiến pháp năm 1946, tại thời điểm này hiến pháp đã khẳng định quyền
làm chủ và các quyền cơ bản của nhân dân ta. Sau này trong các bản Hiến
pháp tiếp theo lần lượt là hiến pháp 1959, hiến pháp năm 1980 và hiến pháp
năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001. Nội dung các hiến pháp đã quy
định các quyền cơ bản của công dân, sau này đã được phát triển và mở rộng
thành chế định quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong các quyền của công
dân thì không thể không nhắc đến “Quyền cá nhân về hình ảnh”.
Nhưng có một vấn đề đặt ra hiện nay là việc sử dụng hình ảnh như thế
nào? Vài năm trước đây dư luận nước ta từng xôn xao về đoạn quay cảnh
quan hệ giữa một nữ diễn viên tuổi học trò và bạn trai, thì thời gian gần đây
cư dân mạng lại rộ lên những clip quay lén lút cảnh nữ sinh và bạn trai vào
nhà nghỉ. Bên cạnh vấn đề về đạo đức, lối sống của thanh niên hiện nay thì
câu hỏi về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật Việt
Nam cũng đang được đặt ra? Điều này cũng đặc biệt có ý nghĩa quan trọng
bối cảnh các thiết bị quay phim, chụp ảnh ngày càng hiện đại hơn: có khả
năng ghi hình từ xa, ghi hình trong bóng đêm, được thiết kế nhỏ, gọn để dễ
ngụy trang, cất giấu. Hơn nữa, với sự trợ giúp của Internet thì những hình
ảnh, những đoạn clip đó đã được phát tán với một tốc độ nhanh chóng. Vì vậy
2
mà việc ngăn chặn và tìm thủ phạm trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Có thể
nói chưa bao giờ nguy cơ bị xâm phạm hình ảnh cá nhân lại cao như hiện nay,
bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân bị xâm phạm về quyền hình ảnh.
Đối với vấn đề quyền cá nhân đối với hình ảnh của mình thì Bộ luật
Dân sự năm 2005 cũng đã quy định khá cụ thể. Tuy vậy, có vẻ những quy
định đấy vẫn chưa đủ “mạnh” để buộc mọi người từ bỏ thói quen sử dụng
không xin phép hình ảnh của người khác. Vậy đâu mới là giải pháp cho vấn
đề này? Trước thực tế trên, bản thân tôi xin chọn đề tài “Quyền cá nhân đối
với hình ảnh theo pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu, tìm hiểu, với mong
muốn làm rõ thêm về quyền cá nhân về hình ảnh, cũng như thực trạng phương
định về quyền cá nhân về hình ảnh, cũng như việc áp dụng chế định luật này
trong thực tiễn.
3. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử: Vật chất quyết định ý thức, đời sống kinh tế xã hội
quyết định đời sống chính trị, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và sự
tác động ngược trở lại của thượng tầng kiến trúc với hạ tầng cơ sở, pháp
luật dân sự nói chung, chế định nhân thân, và quyền các quy định về quyền
các nhân đối với hình ảnh nói riêng thuộc phạm trù của kiến trúc thượng
tầng nên tất yếu chịu sự chi phối của đời sống kinh tế, văn hóa xã hội. Do
đó việc nghiên cứu đề tài sẽ không tách khỏi nguyên lý trên. Luận văn sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật với tình huống
thực tế, với các quy định của luật pháp các nước trên thế giới để tìm ra những
hợp lý, bất cập trong quy định của pháp luật.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích phản ảnh các vụ việc trong thực tiễn
4
xét xử liên quan đến quy định của pháp luật hiện hành về quyền cá nhân đối
với hình ảnh.
- Phương pháp điều tra xã hội: Phỏng vấn, khảo sát.
4. Tính mới và ý nghĩa của luận văn
Là một trong nhiều người tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp
luật về dân sự nói chung và chế định về quyền cá nhân đối với hình ảnh
theo pháp luật Việt Nam nói riêng, bằng phương pháp phân tích, so sánh đã
nói ở trên, cùng với thực tiễn trong quá trình áp dụng các quy định pháp
luật luận văn đã hệ thống hóa các quy định của pháp luật Việt Nam về
quyền cá nhân về hình ảnh, ngoài ra luận văn còn nêu bật lên thực tế của
các hành vi xâm phạm hình ảnh, thực trạng áp dụng các biện pháp bảo vệ
quyền cá nhân về hình ảnh trong thực tiễn hiện nay. Từ đó đưa ra các kiến 6
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ QUYỀN NHÂN
THÂN GẮN VỚI HÌNH ẢNH CỦA CÁ NHÂN
1.1. Khái niệm chung về quyền nhân thân của cá nhân
1.1.1. Khái niệm nhân thân
Có thể nói rằng trong các vấn đề của xã hội loài người thì quyền con
người nói chung và quyền công dân nói riêng là những vấn đề có tính lịch sử
lâu đời cả về phương diện lí luận cũng như thực tiễn. Quyền công dân nói
chung được chia làm năm nhóm: Nhóm các quyền chính trị, nhóm các quyền
dân sự, nhóm các quyền kinh tế, nhóm các quyền văn hóa và nhóm các quyền
xã hội và pháp luật dân sự là công cụ để thực hiện nhóm các quyền dân sự của
công dân. Mỗi cá nhân đều luôn có nhu cầu đảm bảo sự tồn tại và phát triển,
kéo theo đó là các nhu cầu về tư tưởng, tinh thần, nó gắn liền với hai loại quyền
đó là quyền về tài sản và các quyền về nhân thân. “Quyền nhân thân” là thuật
ngữ pháp lý dùng để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người,
gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân và quyền này có liên quan mật
thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín Do đó quyền nhân thân là một quyền rất
quan trọng trong các quyền dân sự, cũng bởi chính lý do này mà quyền nhân
thân là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người đã được pháp
luật thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo vệ.
Để hiểu rõ hơn về quyền nhân thân của cá nhân thì trước hết chúng ta
cùng làm rõ khái niệm “nhân thân”.
Khái niệm “nhân thân” được hiểu theo hai khía cạnh sau đây. Một là:
theo từ điển Tiếng Việt “Nhân thân được hiểu là tổng hợp các đặc điểm về
ích hợp pháp của người khác [25].
8
Bên cạnh đó, lần đầu tiên cá nhân có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền
nhân thân của mình không bị người khác vi phạm (Điều 27). Lần đầu tiên
quyền nhân thân của cá nhân được quy định thành một hệ thống các quyền, có
20 quyền được quy định chi tiết trong 20 Điều luật.
BLDS năm 1995 đã góp phần làm ổn định các quan hệ dân sự nói
chung, quan hệ nhân thân nói riêng, các chủ thể có được công cụ pháp lý hữu
hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, cùng với sự phát
triển của các quan hệ xã hội, các quan hệ dân sự ngày càng phức tạp hơn, đặc
biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi những giá trị thuộc về tinh thần đang dần
tìm được chỗ đứng quan trọng trong đời sống cá nhân. Với những quyền nhân
thân được quy định trong BLDS năm 1995 so với thực tiễn đã có những sự
thiếu hụt rất lớn, việc sửa đổi BLDS năm 1995 là tất yếu xảy ra.
Từ đó sự ra đời của BLDS 2005 đã kế thừa những quy định về nhân
thân trong BLDS năm 1995 và đã quy định cụ thể về quyền nhân thân tại
Điều 24: "Quyền nhân thân được quy định trong Bộ Luật này là quyền dân sự
gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác” [28, Điều 24]. Theo quy định tại điều luật
này thì quyền nhân thân sẽ có hai đặc điểm:
Một là: Quyền nhân thân mang đặc tính quyền cá nhân, không bị chi
phối, phụ thuộc bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như: Độ tuổi, trình độ văn
hóa, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội cũng bởi điều này mà pháp luật quy
định mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân.
Hai là: Quyền nhân thân của chủ thể không thể chuyển dịch cho chủ
thể khác được. Nghĩa là: Quyền nhân thân không thể là đối tượng trong
giao dịch dân sự (mua, bán, tặng, cho ). Tuy nhiên trong một số trường
hợp quyền nhân thân có thể được chuyển giao cho người khác theo quy
định của pháp luật.
10
Một là: Trong bài viết “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân” của
Tiến sĩ Bùi Đăng Hiếu – Trường Đại học Luật Hà Nội đăng trên tạp chí luật
học số 7 năm 2009 thì: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với đời
sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể
chuyển giao cho chủ thể khác, trừ tường hợp pháp luật có quy định khác” [13].
Hai là: Trong đề tài nghiên cứu cấp trường “Quyền nhân thân của con
người và bảo vệ quyền nhân thân của con người và bảo vệ quyền nhân thân
theo quy định của pháp luật” của tiến sĩ Lê Đình Nghị đã đưa ra khái niệm
quyền nhân trên hai phương diện như sau:
Theo nghĩa khách quan, quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp
các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, trong đó có nội dung
quy định rõ các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân
mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện các quyền của mình.
Theo nghĩa chủ quan, quyền nhân thân là quyền dân sự chủ
quan gắn liền với cá nhân do nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và
các cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác [20].
Ba là: Trong luận văn thạc sĩ luật học “Quyền nhân thân liên quan đến thân
thể của cá nhân theo quy định trong BLDS năm 2005” của tác giả Lê Thị Hoa đã
đưa ra khái niệm: “Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự gắn liền với đời
sống tinh thần của cá nhân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ” [15].
Qua việc phân tích, cũng như tham khảo các khái niệm trên chúng ta có
thể hiểu khái niệm quyền nhân thân như sau:
Quyền nhân thân là quyền dân sự cho nhà nước quy định gắn liền với
giá trị tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể
chuyển giao trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
Từ khái niệm trên đây rút ra một số đặc điểm của quyền nhân thân là
11
cô đẹp lên trong mắt mọi người.
Ba là: Thiệt hại về quyền nhân thân không có tiêu chí định lượng
Vì trên thực tế trong các quyền nhân thân thì quyền nhân thân liên quan
tới đời sống tinh thần của các chủ thể luôn chiếm số lượng lớn. Quyền nhân
thân gắn liền với đời sống tinh thân của cá nhân là toàn thể các hoạt động nội
tâm của con người như: Ý nghĩ, tình cảm
Đối với tổ chức thì danh dự, uy tín của là những yếu tố gắn liền với
giá trị tinh thần của tổ chức. Danh dự là sự đánh giá của xã hội và sự tín
nhiệm của mọi người đối với hoạt động của tổ chức đó, uy tín là những giá
trị tốt đẹp mà tổ chức đó đạt được trong quá trình hoạt động mà được công
chúng biết đến.
Cả hai phương diện quyền nhân thân của cá nhân và quyền nhân thân
của tổ chức thì đều không có một chuẩn mực chung nào để cụ thể nó gia thành
một giá trị. Vì thế, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền nhân thân không được
cân, đo, đong, đếm bằng một đại lượng cụ thể. Đặc trưng này không loại trừ
nghĩa bồi thường thiệt hại khi hành vi bị xâm phạm tới quyền nhân thân. Bởi
vì, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được xác định là chủ thể thực
hiện hành vi vi phạm phải có nghĩa vụ bù đắp những tổn thất về tinh thần đã
gây ra cho chủ thể bị thiệt hại. Các thiệt hại về tinh thần này thể hiện bằng việc
chủ thể bị thiệt hại phải chịu những đau đớn, lo lắng về mặt tinh thần, mà sự
đau khổ này ở mỗi chủ thể là không giống nhau, do đó không trách nhiệm bồi
thường thiệt hại cũng không cụ thể hóa được bằng một con số cụ thể, đặc điểm
này của quyền nhân thân khác hắn so với quyền tài sản. Bởi vì, trách nhiệm
pháp lý khi vi phạm quyền tài sản được xác định bằng những khối lượng cụ
thể. Hay nói cách khác tài sản khi bị xâm phạm thiệt hại tới đâu thì người gây
ra hành vi vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tới đó.
13
1.2. Khái quát chung về quyền nhân thân gắn với hình ảnh của cá nhân
1.2.1. Khái niệm hình ảnh
hình ký hiệu khác nhau.
Trong từ điển tiếng việt đã giải thích hình ảnh là: “Hình người, vật,
cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh hoặc để lại ấn
tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động
trong cách diễn đạt” [24].
Theo từ điển tiếng việt thì chúng ta sẽ có một cách hiểu sau đây: Hình
ảnh chính là sự sao chép lại những hình ảnh, biểu tượng, được nhận thức bằng
tư duy của con người hoặc bằng các cách thức sao chụp nguyên mẫu. Tuy
nhiên hình ảnh lúc này phải đảm bảo yếu tố không chỉ đơn thuần là sự sao
chép nguyên mẫu mà còn phải để lại dấu ấn riêng cho từng bức ảnh. Hay nói
cách khác hình ảnh không tồn tại độc lập với đối tượng được phản ánh mà
phải bảo đảm nội dung của đối tượng phản ánh. Từ các phân tích trên đây,
cùng với quy định về quyền đối với hình ảnh của cá nhân tại Điều 31 BLDS
năm 2005 thì chúng ta có thể hiểu: “Hình ảnh của cá nhân bao gồm mọi hình
thức tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người cụ thể như ảnh
chụp, ảnh vẽ, ảnh họa chép và suy luận rộng ra có thể có cả bức tượng của cá
nhân đó nữa” [28, Điều 31].
Ví dụ như: Ảnh chụp có thể bao gồm: ảnh chân dung, ảnh nghệ thuật,
ảnh tư liệu, ảnh phóng sự
Ảnh vẽ có bao gồm: vẽ truyền thần, vẽ ký họa
Từ quy định của điều luật này chúng ta có thể hiểu hình ảnh cá nhân là
những hình ảnh mang tính chất riêng tư, hạn chế ở những nơi riêng tư. Điều
này trái ngược với hình ảnh ở những nơi công cộng, nơi đông người
Ví dụ như: Hình ảnh của một người đứng trên một bãi biển, nếu chỉ
riêng người đó thì có thể xem là ảnh riêng tư, ảnh cá nhân. Nhưng nếu là một
tấm ảnh chụp quang cảnh của số đông bộ phận người trên bãi biển, có nhiều
15
đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi
dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng,
con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ
trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp
luật có quy định khác.
2. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm
phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh [28, Điều 31].
Nhìn vào điều luật trên cho chúng ta thấy pháp luật Dân sự 2005 chưa
đưa ra khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh.
BLDS 2005 chỉ đưa ra một khía cạnh của quyền nhân thân đối với hình
ảnh, quy định mọi cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình và chế tài áp
dụng khi có hành vi xâm phạm về hình ảnh diễn ra mà không quy định rõ về
khái niệm quyền nhân đối với hình ảnh của cá nhân.
Hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau về cách hiểu quyền cá
nhân đối với hình ảnh xong theo cá nhân tôi thì quyền nhân thân đối với hình
ảnh được hiểu là quyền nhân thân tuyệt đối đối với hình ảnh của riêng một cá
nhân đó mà thôi. nên chỉ có cá nhân đó mới có quyền quyết định việc thay đổi
hình ảnh hay vẻ bề ngoài của mình. Trừ trường hợp người chưa thanh niên
hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự đồng ý của người đại diện
cho họ là cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con cái.
Quyền nhân thân đối với hình ảnh được hiểu là quyền nhân thân
tuyệt đối đối với hình ảnh của riêng một cá nhân đó mà thôi. Nên chỉ có cá
nhân đó mới có quyền quyết định việc thay đổi hình ảnh hay vẻ bề ngoài
của mình. Trừ trường hợp người chưa thanh niên hoặc mất năng lực hành
vi dân sự thì phải có sự đồng ý của người đại diện cho họ là cha, mẹ, vợ,
chồng hoặc con cái.
17
Ví dụ: Quyền riêng của cá nhân đó đối với hình ảnh bên ngoài như việc
thay đổi phong cách thời trang, sự lựa chọn cách trang điểm, kiểu tóc. Khi có
pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Trên thực tế thì quyền nhân thân gắn với
hình ảnh chỉ thuộc về chủ thể là cá nhân mà thôi vì nếu nói tới hình ảnh của tổ
chức thì rất khó có thể hình dung hình ảnh cụ thể đó là gì? Hơn nữa pháp luật
thừa nhận hình ảnh của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thông qua cơ chế
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà cụ thể là nhãn hiệu được bảo hộ.
Mặt khác, khi chúng ta sống trong một xã hội với nhiều biến động như
ngày nay thì mỗi cá nhân là một tế bào của xã hội xong họ lại là một chỉnh thể
riêng biệt, không ai giống ai. Từ hình dạng, đặc điểm cho đến hình ảnh cụ thể
bên ngoài, nếu có xuất hiện sự giống nhau thì cũng chỉ là sự tương đồng rất
nhỏ, trong các trường hợp sinh đôi cũng không hoàn toàn giống nhau. Do vậy
hình ảnh của cá nhân là một đặc tính không thể tách rời mà nó luôn gắn liền
với một cá nhân cụ thể.
Hai là: Quyền nhân thân gắn với hình ảnh của cá nhân là quyền nhân
thân không gắn với tài sản
Theo cách hiểu thông thường thì nhóm quyền nhân thân được chia ra
làm hai loại: Đó là quyền nhân thân không gắn liền với tài sản bao gồm từ
Điều 26 đến Điều 51 BLDS năm 2005, còn quyền nhân thân gắn liền với tài
sản gồm hai điều quy định Khoản 2 Điều 738 và mục a khoản 1 Điều 751
BLDS năm 2005. Như vậy, quyền nhân thân gắn với hình ảnh thuộc nhóm
quyền nhân thân không gắn liền với tài sản. Nhưng có một vấn đề hiện nay là
khi mà xu thế toàn cầu hóa, giao lưu thương mại phát triển thì các hình ảnh
của cá nhân đang được đem ra khai thác, sử dụng với mục đích thương mại
ngay càng cao, nhất là trong hoạt động in sách báo, ấn phẩm tranh ảnh.