Luận văn quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự việt nam - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG THỊ LƯU

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
HÌNH ẢNH TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phùng Trung Tập

HÀ NỘI - NĂM 2016


2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố
trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác. Những nội dung trong luận văn
có sử dụng tài liệu tham khảo đều trích dẫn nguồn đầy đủ.

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn


1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ
QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH

8

1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân

8

1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân

8

1.1.2. Đặc điểm quyền nhân thân

13

1.2. Khái niệm hình ảnh

14

1.3. Khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh

17

1.4. Đặc điểm của quyền nhân thân đối với hình ảnh

18

2.2.3. Biện pháp hành chính

58

2.2.4. Biện pháp hình sự

60

Chương 3 THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ
NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

6261

3.1. Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh ở Việt
Nam hiện nay

6261

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

8584

KẾT LUẬN

9190


5
PHẦN MỞ ĐẦU

Chính các yếu tố đó đã ít nhiều ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền nhân thân đối
với hình ảnh của người bị xâm phạm.
Từ các lý do trên cho thấy, việc nghiên cứu “Quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam” là rất cần thiết, qua đó, góp
phần hiểu rõ và thống nhất các quy định pháp luật liên quan đến quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh cũng như nắm bắt được thực trạng bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh tại Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra giải
phápkiến nghị thích hợp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh. Đây cũng chính là lý do tác giả chọn đề
tài: “Quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt
Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, tại Việt Nam, việc nghiên cứu về quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh còn đang khá hạn chế, chủ yếu là các công trình nghiên cứu
chung về quyền nhân thân, trong đó có đề cập đến quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh hoặc được nghiên cứu dưới dạng là các bài viết, chuyên đề, đề
tài. Rất hiếm có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về
quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu chung về quyền nhân thân,
trong đó đề cập đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh như: Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường “Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền
nhân thân trong pháp luật dân sự” do ThS. Lê Đình Nghị làm chủ nhiệm đề tài,
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, trong đó, có một số chuyên đề như
“Quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân: quyền của cá nhân đối với
họ tên, dân tộc, hình ảnh” của ThS. Nguyễn Minh Oanh, chuyên đề “Bảo vệ
quyền nhân thân theo quy định của Bộ luật dân sự 2005” của TS. Nguyễn Công
Bình,… đã nêu được một số khía cạnh có liên quan như khái niệm hình ảnh, quy
định pháp luật cũng như hạn chế, bất cập trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện
nay liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh; “Quyền bí mật


“Luận bàn về quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân theo quy định của
Bộ luật dân sự năm 2005” của ThS. Phùng Bích Ngọc, trên Tạp chí Nghiên cứu


8
lập pháp số 22/2012 nêu khái niệm, giới hạn của quyền nhân thân đối với hình
ảnh và phân biệt với quyền đối với từng hình ảnh cụ thể.
Trong tình hình đó, đề tài “Quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh
trong pháp luật dân sự Việt Nam” được triển khai ở cấp độ luận văn thạc sỹ sẽ
tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống về một số vấn đề lý luận về quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh; phân tích và làm rõ một số khía cạnh
pháp luật liên quan đến quyền nhân thân đối với hình ảnh; thông qua việc phân
tích một số vụ việc xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh, luận văn làm rõ
thực trạng cũng như hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh trong
thực tiễn tại Việt Nam, từ đó, đưa ra một số đề xuất, giải pháp hoàn thiện hệ
thống pháp luật liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh.
Luận văn đảm bảo không có sự trùng lặp về nội dung so với các bài viết, công
trình nghiên cứu công bố trước đây.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
*Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam hiện hành liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh và thực
tiễn bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh ở Việt Nam hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Trong khả năng của tác giả và trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, đề
tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số nội dung sau: khái niệm
quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh, đặc điểm quyền nhân thân của cá
nhân đối với hình ảnh, nội dung quy định pháp luật dân sự Việt Nam liên quan
đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh như nội dung quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh, giới hạn quyền nhân thân đối với hình ảnh và biện

(3) Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh tại
Việt Nam hiện nay như thế nào? Với thực trạng đó, cần đưa ra giải pháp gì để
hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân
đối với hình ảnh tại Việt Nam?
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: xem xét, phân tích, đánh giá các quan
điểm, nội dung pháp lý về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong


10
pháp luật dân sự Việt Nam và tình hình bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh
trong thực tiễn hiện nay.
- Phương pháp so sánh, tham chiếu: so sánh quy định về quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật Việt Nam theo tiến trình lịch sử lập
pháp và so sánh theo chiều ngang, tức là so sánh giữa pháp luật Việt Nam với
pháp luật một số nước trên thế giới.
- Phương pháp lịch sử: trình bày quá trình phát triển các quy định về quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa khoa học
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật Việt Nam và bảo vệ có hiệu quả quyền nhân thân của cá nhân đối với hình
ảnh. Do đó, luận văn có những đóng góp về mặt khoa học như sau:
- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh;
- Luận văn làm rõ nội dung cũng như các bất cập trong quy định pháp luật
Việt Nam hiện nay về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh;
- Luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện

phát triển, do đó, song song với việc phát triển về mọi mặt của xã hội thì vấn đề
con người cũng ngày càng được tôn trọng và bảo vệ. Tương tự các quốc gia khác
trên thế giới, tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến yếu tố con
người, theo đó, ghi nhận các quyền con người bao gồm: quyền về kinh tế, quyền
về chính trị, quyền về dân sự,... trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Một trong những bộ phận quan trọng của quyền dân sự và được
cụ thể hóa tại các Bộ luật dân sự đó là quyền nhân thân của cá nhân.
Quyền nhân thân với tư cách là một thuật ngữ pháp lý, lần đầu tiên được
nhắc đến trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995, nó ra đời và có ý nghĩa là cơ
sở pháp lý để bảo vệ cho cá nhân tồn tại với tư cách là một thực thể, một chủ thể
độc lập trong cộng đồng. Thông qua việc cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp
năm 1992 về quyền con người về dân sự, BLDS năm 1995 xác định quyền nhân
thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người
khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây được xem là một bước đổi
mới quan trọng trong tư duy, nhận thức của các nhà làm luật Việt Nam, cũng là
bước tiến đáng ghi nhận, có ý nghĩa đặt nền móng cho sự phát triển quy định về
quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.
Về khái niệm quyền nhân thân, hiện nay trong pháp luật thực định cũng như
trong các công trình nghiên cứu khoa học chưa có một định nghĩa nào thống nhất,
cụ thể về quyền nhân thân. Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà lập pháp,
nhà nghiên cứu luật học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Quan điểm thứ nhất: định nghĩa quyền nhân thân được tiếp cận dưới hai
góc độ là góc độ chủ thể và góc độ khách thể. Công trình tiêu biểu sử dụng cách


13
tiếp cận này chính là công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân
dân Tối cao với đề tài “Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền
nhân thân được đề cập trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo
quy định của Bộ luật dân sự”, số đăng ký: 96/98/063/ĐT. Theo đó:

chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định”. Định nghĩa
này có một hạn chế lớn đó là chưa xác định được quyền nhân thân chính là
quyền dân sự. Mặt khác, với cách nhìn nhận chỉ những giá trị nhân thân được
pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân, định nghĩa này đã vô hình
chung thu hẹp phạm vi quyền nhân thân của con người.
Quan điểm thứ ba: theo Tiến sỹ Lê Đình Nghị trong Đề tài nghiên cứu cấp
trường “Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền nhân thân trong pháp
luật dân sự”, “theo nghĩa chủ quan, quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan
gắn liền với cá nhân do nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và các cá nhân
không thể chuyển giao quyền này cho người khác”. So với định nghĩa được nêu
ra trong hai quan điểm trên, định nghĩa này được xem là đầy đủ và toàn diện hơn
khi nêu được các thuộc tính của quyền nhân thân như: là quyền dân sự, gắn liền
với cá nhân, được nhà nước quy định và không thể chuyển giao, đồng thời, định
nghĩa này cũng khắc phục được hạn chế mà quan điểm thứ hai mắc phải.
Quan điểm thứ tư: nhìn nhận quyền nhân thân theo hai vấn đề, đó là quyền
dân sự gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác. Quan
điểm này đã được chuyển hóa vào nội dung quy định trong BLDS năm 2005.
Kế thừa những điểm tiến bộ trong quy định của BLDS năm 1995 về quyền
nhân thân, tại Điều 24 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định
trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao
cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định này phần
nào làm rõ khái niệm quyền nhân thân với hai đặc điểm cơ bản: là quyền dân sự gắn
liền với cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác. Tuy nhiên, với cách
định nghĩa này còn gặp phải một số hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, liên quan đến đặc điểm quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền
với mỗi cá nhân, PGS.TS Bùi Đăng Hiếu đặt ra câu hỏi đó là có hay không
quyền nhân thân của các chủ thể khác (như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác)?
Điều 604 và Điều 611 BLDS năm 2005 có đề cập đến “danh dự, uy tín của pháp
nhân, chủ thể khác”, vậy đây có được coi là quyền nhân thân của pháp nhân và


nghĩa tương đối khái quát, có tính hệ thống và cơ bản đã khắc phục được hạn chế


16
mà quan điểm thứ tư gặp phải, qua định nghĩa này có thể nhận diện và phân biệt
được quyền nhân thân với một số quyền chính trị, quyền dân sự khác.
Như vậy, qua việc tìm hiểu những quan điểm khoa học pháp lý đến luật thực
định về khái niệm quyền nhân thân cho thấy, hiện nay, còn có nhiều cách nhìn
nhận, tiếp cận về quyền nhân thân khác nhau ở nhiều góc độ nhất định. Tuy nhiên,
về cơ bản, các quan điểm nói trên đều thống nhất ở một số điểm chung như sau:
Thứ nhất, quyền nhân thân là một bộ phận của quyền dân sự và quyền này
thuộc về cá nhân.
Thứ hai, quyền nhân thân luôn hướng tới những giá trị tinh thần không định
giá được như quyền đối với họ tên; quyền được khai sinh; quyền được khai tử;
quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền đối với hình ảnh cá nhân; quyền bí mật
đời tư; quyền tác giả… Tất cả những quyền này liên quan mật thiết đến những
nhu cầu cần có của một cá nhân sống trong xã hội và bất cứ ai cũng không
được phép xâm phạm.
Thứ ba, quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, nghĩa là
quyền nhân thân của mỗi cá nhân chỉ do chính cá nhân đó có quyền thực hiện
hoặc do người đại diện của họ thực hiện trong một số trường hợp do pháp luật
quy định.
Xuất phát từ những điểm thống nhất trong một số quan điểm nêu trên và
quy định về quyền nhân thân tại Điều 24 BLDS năm 2005, có thể đưa ra định
nghĩa về quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền
với giá trị tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không
thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
1.1.2. Đặc điểm quyền nhân thân
Với bản chất là một bộ phận quyền dân sự, quyền nhân thân có đầy đủ các
đặc điểm của quyền dân sự nói chung. Ngoài ra, nó còn mang một số đặc điểm

mẫu. Bởi, như đã phân tích ở trên, quyền nhân thân mang giá trị tinh thần, do đó,
không thể định đoạt và chuyển giao cho người khác. Trong nghiên cứu mới đây
về quyền nhân thân, có quan điểm phân loại quyền nhân thân thành quyền nhân
thân cơ sở (hay còn gọi là quyền nhân thân gốc) và quyền nhân thân phái sinh.
Quyền nhân thân cơ sở là quyền nhân thân theo đúng bản chất của nó, không thể
chuyển nhượng. Quyền nhân thân phái sinh là quyền khai thác danh tiếng của


18
một cá nhân với mục đích thương mại. Liên quan đến hình ảnh của cá nhân,
quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân cơ sở, còn quyền đối với
từng bức ảnh cụ thể của cá nhân trong trường hợp ký hợp đồng với công ty
quảng cáo nói trên là quyền nhân thân phái sinh.
1.2. Khái niệm hình ảnh
Trong BLDS năm 1995 cũng như BLDS năm 2005 có đặt ra quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh. Do đó, việc nhận diện khái niệm hình ảnh là gì rất cần
thiết để từ đó xác định thế nào là quyền nhân thân đối với hình ảnh và khi nào thì
một hành vi được xem là vi phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh. Mặc dù vậy,
cho đến nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như hệ thống các công trình
nghiên cứu chưa có một định nghĩa nào thống nhất và khái quát về khái niệm hình
ảnh mà trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực nghiên cứu khác nhau có một cách định
nghĩa riêng phục vụ cho yêu cầu chuyên môn của ngành, lĩnh vực đó.
Trong lĩnh vực văn học, “hình ảnh là hình ảnh ảo của sự vật mà ngôn ngữ
văn chương gợi lên trong óc tưởng tượng của chúng ta qua những khái niệm và
qua những biểu tượng” [2729]. Như vậy, hình ảnh trong văn học được hình thành
không phải do chính mắt thường nhìn thấy mà do người đọc mường tượng qua
ngôn ngữ thơ văn. Tuy nhiên, hình ảnh được đề cập trong BLDS năm 1995 cũng
như trong BLDS năm 2005 là hình ảnh của một cá nhân cụ thể – một thực thể tồn
tại khách quan, do đó, luận văn sẽ không nghiên cứu đối với loại hình ảnh ảo này.
Trong lĩnh vực truyền hình, hình ảnh được hiểu là “những gì mà con

người có thể nhìn thấy bằng mắt, được nhận thức bằng tư duy của con người
hoặc bằng cách sao chụp nguyên mẫu”.
Về cách hiểu về “hình ảnh của cá nhân”, có thể hiểu rằng “hình ảnh của cá
nhân là sự sao chép, tái hiện lại hình dáng, ngoại hình, đặc điểm bề ngoài,…
của một cá nhân cụ thể bằng một cách thức nhất định mà con người có thể nhìn
thấy bằng mắt”. Hình ảnh của cá nhân có thể tồn tại dưới hình thức là các tác
phẩm như ảnh chụp; ảnh vẽ; ảnh họa chép; ảnh do quay phim, ghi hình… thậm
chí cũng có thể là bức tượng của cá nhân đó. Xét về phương diện quyền sở hữu
trí tuệ đối với sản phẩm của hoạt động nghệ thuật là bức ảnh, tấm hình, pho


20
tượng… thì các tác phẩm này được Nhà nước bảo hộ. Người sử dụng tác phẩm
phải xin phép chủ sở hữu tác phẩm hoặc người có quyền sử dụng tác phẩm đó.
Xét về phương diện quyền nhân thân thì người sử dụng hình ảnh phải được sự
đồng ý của người có hình ảnh đó hoặc đại diện của người đó trong trường hợp
pháp luật quy định.
Hình ảnh cá nhân đề cập tại Điều 31 BLDS năm 2005 không hàm chứa
nghĩa rộng là dáng hình, điệu bộ của cá nhân hoặc là sự hình dung về một
người trong trí tưởng tượng, trong tâm tư, tình cảm của người khác. Hình ảnh
cá nhân được pháp luật bảo vệ theo Điều 31 BLDS năm 2005 phải là hình ảnh
được lấy từ một người và giống với người đó [78, tr.77], tức là khi nhìn vào
hình ảnh đó, cá nhân có hình ảnh có thể bị nhận dạng và người xem hình có
thể xác định được cá nhân đó là ai. Có hai căn cứ cơ bản để xác định hình ảnh
của cá nhân đó là: hình ảnh đó được tạo ra (vẽ, chụp, quay phim,...) từ con
người thực cụ thể nào? và hình ảnh đó có giống với người thực đã được vẽ,
chụp, quay phim,... hay không? Trong hình ảnh của cá nhân có thể có ghi tên
hoặc không ghi tên của người có hình ảnh đó.
1.3. Khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh
Trên cơ sở tìm hiểu, và xây dựng khái niệm quyền nhân thân và khái niệm

3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.
Có thể thấy, hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có một quy
định nào đưa ra định nghĩa về khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh. Ngay
cả trong Điều 31 BLDS năm 2005 quy định trực tiếp về quyền của cá nhân đối với
hình ảnh cũng chỉ quy định chung chung “Cá cá nhân có quyền đối với hình ảnh
của mình” mà không chỉ ra cụ thể quyền nhân thân đối với hình ảnh là như thế
nào. Chính điều này đã gây ra không ít khó khăn trong việc xác định khi nào thì
một hành vi được xem là vi phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh, từ đó, ảnh
hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh của các cá
nhân.
Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền do Nhà nước quy định. Mọi
người đều có quyền này kể từ khi họ được sinh ra, không phân biệt giới tính, tôn
giáo, thành phần giai cấp, địa vị xã hội,... Mặc dù quyền nhân thân đối với hình


22
ảnh là quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác
nhưng quyền này không phải tự nhiên mà có, mà nó được pháp luật quy định
làm phát sinh quyền và bảo vệ khỏi sự xâm phạm từ những hành vi vi phạm.
Theo quy định tại Điều 31 BLDS năm 2005 thì cá nhân có quyền quyết định việc
sử dụng, phát tán, công khai cũng như cho phép người khác sử dụng hình ảnh
của mình theo đúng ý chí cá nhân.
Qua những phân tích trên, quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh có
thể được hiểu là “quyền nhân thân gắn liền với cá nhân được pháp luật quy định
và bảo vệ, liên quan đến việc sử dụng và cho phép sử dụng hình ảnh của
chính cá nhân đó”.
1.4. Đặc điểm của quyền nhân thân đối với hình ảnh
Quyền nhân thân đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân của
cá nhân, do đó, quyền này mang đầy đủ các đặc điểm chung của quyền nhân

vệ bởi những chủ thể khác theo quy định pháp luật. Đây là một trong những đặc
điểm quan trọng để phân biệt với một số quyền nhân thân thuộc về chủ thể khác
không phải là cá nhân như quyền được bảo vệ danh dự, uy tín được đề cập đến
tại Điều 604 và Điều 611 BLDS năm 2005.
Trong xã hội, mỗi người có một hình dạng, đặc điểm, hình ảnh riêng. Dù
trong một số trường hợp đặc biệt như đối với các cặp song sinh cùng trứng, hình
ảnh của họ có thể giống nhau, nhưng xét về bản chất, đó hoàn toàn là hai hình
ảnh của hai cá nhân khác nhau và mang những đặc trưng nhất định. Do đó, hình
ảnh chỉ gắn liền và thuộc về một cá nhân xác định.
* Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền cá thể hóa cá
nhân trong xã hội
Với đặc điểm nổi bật là sao chép lại và phản ánh đúng các đối tượng được
thể hiện trong các hình thức nghệ thuật, thông qua việc nhìn vào những hình ảnh
đó dù không ghi rõ tên tuổi, thông tin của người có trong ảnh nhưng người xem
vẫn dễ dàng nhận diện được đối tượng được phản ánh trong ảnh là ai. Do đó, có
thể khẳng định, hình ảnh là một trong các yếu tố có tính chất cá biệt hóa chủ thể
và quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền cá thể hóa cá nhân.
Quyền cá thể hóa cá nhân trong xã hội là quyền nhân thân của cá nhân,
trong đó, ghi nhận những đặc điểm riêng biệt của cá nhân như tên gọi, hình ảnh


24
và các yếu tố lý lịch để phân biệt cá nhân này với các cá nhân, chủ thể khác
trong xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng. Trong xã hội, mỗi
người có một tên gọi, hình ảnh và yếu tố lý lịch khác nhau như dân tộc, giới tính,
quốc tịch, thông tin về khai sinh, khai tử, do đó, quyền cá biệt hoá chủ thể được
xem là các công cụ cá biệt hoá khác nhau ở mỗi chủ thể, làm cho bản thân nhân
thân cá nhân đó không thể bị lặp lại. Thông qua đó, chúng ta dễ dàng hình dung
và phân biệt được chủ thể này với các chủ thể khác.
Quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc nhóm quyền tuyệt đối, biểu hiện

* Hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh là hành vi tác
động vào vật phẩm liên quan đến quyền
Vật phẩm liên quan đến quyền nhân thân đối với hình ảnh chính là hình ảnh
của cá nhân đó. Khác với các quyền nhân thân khác, hành vi xâm phạm quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh là hành vi tác động trực tiếp vào vật
phẩm liên quan đến quyền mà không phải tác động vào chủ thể. Hành vi xâm
phạm đó có thể là hành vi sử dụng hình ảnh của cá nhân khi chưa có sự đồng ý
của cá nhân đó hoặc hành vi sử dụng hình ảnh xâm phạm đến danh dự, nhân
phẩm, uy tín của cá nhân có hình ảnh. Trong trường hợp hành vi xâm phạm có
gây ra thiệt hại thì có thể khắc phục phần nào thiệt hại thông qua việc tác động
đến hình ảnh bị xâm phạm đó. Tùy từng dạng hành vi xâm phạm khác nhau mà
chủ thể có quyền bị xâm phạm hoặc người có hành vi xâm phạm có các cách tác
động khác nhau, ví dụ: khi Tạp chí M có hành vi đăng hình ảnh cá nhân A mà
xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của A, thì để khắc phục thiệt hại, M
phải thu hồi lại cuốn tạp chí đó. Tuy nhiên, nếu hành vi xâm phạm quyền đối với
hình ảnh của A là hành vi nhãn hiệu B sử dụng hình ảnh của A làm poster quảng
cáo khi chưa có sự xin phép, cách tác động nhằm khắc phục thiệt hại là gỡ bỏ
poster quảng cáo đó. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện
và chứng minh một hành vi được coi là hành vi xâm phạm quyền nhân thân của
cá nhân đối với hình ảnh cũng như việc khôi phục lại các giá trị nhân thân bị
xâm phạm. Khi nộp đơn yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ trước những hành vi
xâm phạm quyền nhân thân của mình thì chủ thể quyền phải chỉ ra được hành vi
đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình.
* Phương thức Nhà nước bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh là
bảo vệ khi có yêu cầu
Nếu như đối với các quyền như quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng,
sức khoẻ, thân thể; quyền được bảo vệ nhân phẩm; quyền được hưởng sự chăm




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status