BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ HÀ
PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN
TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS. ĐINH VĂN THANH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn
trích dẫn sử dụng trong luận văn này đều được dẫn nguồn và có độ chính xác
cao trong phạm vi hiểu biết của tôi.
Tác giả luận văn
Trần Thị Hà
: Bộ Luật hình sự
BTTH
: Bồi thường thiệt hại
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
01
Chương 1: Khái quát chung về quyền nhân thân và phương thức
bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt
Nam
08
1.1. Khái quát chung về quyền nhân thân trong pháp luật
08
dân sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân
tinh thần của chủ thể
17
1.1.3.4. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến quan hệ
hôn nhân và gia đình của cá nhân
18
1.1.3.5. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến các đối
tượng của quyền sở hữu trí tuệ
18
1.2. Khái quát chung về phương thức bảo vệ quyền nhân
thân trong pháp luật dân sự Việt Nam
19
1.2.1. Khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân
19
1.2.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật
bảo vệ quyền nhân thân
21
1.2.3. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền nhân thân của các
chủ thể
2.2. Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân
39
2.2.1. Biện pháp tự bảo vệ
39
2.2.2. Biện pháp hành chính
41
2.2.3. Biện pháp hình sự
43
2.2.4. Biện pháp dân sự
44
2.3. Đánh giá việc bảo vệ quyền nhân thân bằng các phương
thức dân sự
45
Chương 3: Thực tiễn và một số kiến nghị về phương thức bảo vệ
quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam
hiện hành
47
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong xã hội hiện nay, nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều thuận lợi
cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng chính nền kinh tế thị trường
đó làm phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, dẫn đến số lượng các vi phạm pháp
luật gia tăng. Đặc biệt, đó là những hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân
của các chủ thể. Thực tiễn cho thấy, những hành vi xâm phạm đến quyền
nhân thân của các chủ thể đã gây ra những hậu quả lớn cho chính đối tượng
mà hành vi đó tác động đến. Hậu quả đó có thể là những thiệt hại đã xảy ra
hoặc đe dọa xảy ra khi hành vi xâm phạm quyền nhân thân được thực hiện.
Những hành vi xâm phạm đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền dân sự nói
chung, quyền nhân thân của các chủ thể nói riêng nên vấn đề đặt ra là cần
phải có phương thức bảo vệ quyền nhân thân cho các chủ thể bị xâm phạm
bởi hành vi không được phép thực hiện.
Đi kèm với vấn đề quyền nhân thân luôn luôn và không thể thiếu được
là vấn đề bảo vệ quyền nhân thân. Bảo vệ quyền nhân thân đòi hỏi không chỉ
ngăn chặn ngay hành vi xâm phạm quyền nhân thân, mà còn cần phải có
những biện pháp chế tài đối với những chủ thể vi phạm và những biện pháp
khôi phục lại những quyền đó. Tuy nhiên, quyền nhân thân sẽ không thể được
bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật. Chỉ khi thông qua
pháp luật, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại
dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc mang tính xử
sự bắt buộc chung cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội. Chính vì thế, pháp luật
là phương tiện hữu hiệu để đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ
thể.
Quyền nhân thân đã được pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ trong
nhiều văn bản pháp luật. Theo Điều 12 Tuyên ngôn thế giới về quyền con
hiện nay còn khiêm tốn chưa tương xứng với thực tế và nhu cầu xã hội. Hiến
3
pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,
xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp
luật” (Điều 14). “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật
bảo đảm an toàn” (Điều 21). Tiếp đó, BLDS 2005 cũng quy định về phương
thức bảo vệ quyền nhân thân tại Điều 25. Tuy nhiên, những quy định trên còn
quá chung chung, chưa thực sự phát huy được khả năng điều chỉnh các quan
hệ xã hội liên quan đến quyền nhân thân của các chủ thể, chưa bảo đảm được
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bởi hành vi xâm phạm quyền nhân
thân.
Để khắc phục tình trạng nêu trên, trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước ta rất quan tâm đến công tác cải cách tư pháp. Ngày 02/01/2002, Bộ
Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; và ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị
tiếp tục ban hành Nghị qu yết số 49-NQ/TW “về Chiến lược Cải cách tư pháp
đến năm 2020”. Qua đó, Đảng và Nhà nước nhấn mạnh việc hoàn thiện các
quy định của pháp luật nói chung và quy định của pháp luật nói riêng để bảo
đảm quyền dân sự, trong đó có quyền nhân thân của các chủ thể. Có thể thấy,
khi nền kinh tế phát triển người ta không chỉ quan tâm đến vấn đề có cơm ăn,
áo mặc mà còn quan tâm đến giá trị tinh thần, đó là giá trị nhân thân. Việc tôn
trọng và bảo vệ quyền nhân thân đang là sự quan tâm của xã hội, cùng với
phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay.
Vì vậy, đây là vấn đề thời sự, được nhiều người quan tâm và là các vấn đề cấp
thiết.
5
các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay về phương thức bảo vệ
quyền nhân thân và kiến nghị cần hoàn thiện pháp luật.
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu có giới hạn nên phạm vi của luận
văn là chỉ tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của phương thức
bảo vệ quyền nhân thân; nội dung các quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam về phương thức bảo vệ quyền nhân thân và thực tiễn thực hiện các quy
định đó.
4. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là
phương pháp luận triết học Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và pháp luật; đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải
cách tư pháp.
Quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học như: phương pháp lịch sử để nắm bắt được sự hình thành và phát
triển các quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay về các
phương thức bảo vệ quyền nhân thân. Trong đó, chú trọng sử dụng các
phương pháp logic pháp lý, phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ các
vấn đề liên quan đến các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật
dân sự Việt Nam. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng phương
pháp tình huống trong từng vấn đề cụ thể.
5. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
a.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, nội dung
các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện vấn đề phương
Luận văn “Phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân
sự Việt Nam” được kết cấu gồm ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Phần
nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền nhân thân và phương thức bảo
vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam.
7
Chương 2: Nội dung các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong
pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Thực tiễn và nội dung kiến nghị về phương thức bảo vệ
quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành.
8
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ
PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Xã hội văn minh ngày càng đề cao con người và những quyền về con
người, bao gồm cả quyền chính trị, quyền dân sự và quyền xã hội. Quyền về
con người như là trung tâm, động lực và mục tiêu của phát triển. Trải qua quá
trình đấu tranh phát triển của xã hội, các quyền của cá nhân ngày càng được
phát triển, mở rộng và trở thành một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô
cùng quan trọng được pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và
bảo vệ. Kể cả trong công ước quốc tế là những văn bản pháp lý có giá trị cao
cũng đã đề cập tới vấn đề quyền nhân thân của con người như: Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người năm 1948; công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Trên cơ sở quy
định của Hiến pháp 1992 và hiện nay là Hiến pháp 2013; Bộ luật dân sự 1995
một người bao gồm các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, dân tộc, thành phần xã
hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, hoàn cảnh gia đình,
quá trình hoạt động chính trị…Tuy nhiên, không phải mọi yếu tố liên quan
đến con người đều là đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự. Luật dân sự
chỉ quy định các quyền nhân thân mang bản chất dân sự.
Khái niệm “Quyền nhân thân” hiện nay, được đề cập trong một số công
trình khoa học. Ví dụ như: Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học”
của trường Đại học Luật Hà Nội có ghi: “Quyền nhân thân là giá trị nhân
thân của cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Chỉ những giá
trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân.
Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người
khác trừ trường hợp pháp luật có quy định…” [28, tr.105]. Hay trong cuốn
10
Luận án Tiến sĩ luật học “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật
dân sự Việt Nam” của Tiến sĩ Lê Đình Nghị có định nghĩa về quyền nhân
thân là:
Theo nghĩa khách quan, Quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù
pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành,
trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn
liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình.
Theo nghĩa chủ quan, Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn
liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể
chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp luật có quy định khác.
[15, tr18].
Còn theo pháp luật dân sự, khái niệm quyền nhân thân được quy định
tại Điều 24 BLDS năm 2005: “Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật
này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho
người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Theo định nghĩa này
phẩm, uy tín..Những lợi ích tinh thần đó cũng có thể là kết quả của hoạt động
sáng tạo của con người (các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học…). Đặc
điểm này cho thấy quyền nhân thân rất khác biệt đối với quyền tài sản. Trong
quan hệ đối với tài sản thì lợi ích vật chất hay tài sản luôn là yếu tố chi phối
trong quan hệ tài sản.
Thứ ba, quyền nhân thân gắn liền với chủ thể, không thể chuyển giao
cho người khác, trừ những trường hợp pháp luật quy định khác.
Phần lớn các quyền nhân thân mang tính chất cá biệt hóa chủ thể hoặc
gắn liền với thân thể của cá nhân nên luôn gắn liền với chủ thể, không thể
chuyển giao cho người khác, không thể là đối tượng của các giao dịch giữa
các chủ thể. Ví dụ: quyền đối với hình ảnh, họ tên không thể đổi từ người này
12
sang người khác được… Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt theo
quy định của pháp luật, cụ thể là theo quy định của pháp luật dân sự về sở hữu
trí tuệ thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác. Ví dụ, theo
quy định tai điểm c, khoản 2 Điều 738 BLDS 2005 “Quyền công bố hoặc cho
phép người khác công bố tác phẩm” của tác giả. Nhưng như đã khẳng định ở
trên quyền nhân thân là một số đối tượng nhất định và chỉ có một số quyền
nhân thân mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng này.
Đặc điểm này của quyền nhân thân cũng cho thấy nó có sự khác biệt rõ
rệt đối với quyền tài sản. Quyền tài sản trong quan hệ tài sản (các tài sản được
phép tham gia giao dịch dân sự) thì các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân
sự được tự do trao đổi, chuyển giao tài sản thông qua các giao dịch dân sự:
mua bán, tặng cho, vay… mà không bị hạn chế như đối với quyền nhân thân.
Nói cách khác, do có những đặc trưng nên việc chuyển giao về phương thức
bảo vệ quyền nhân thân khác với quyền tài sản nên pháp luật có những quy
định riêng.
Thứ tư, quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
đến chủ yếu là bảo vệ cho vua chúa, cụ thể: Điều 22 – chương vi chế quy
định: “Người nào vẽ và cất giấu những chân dung các vua và hoàng hậu bản
triều thì bị xử phạt 50 roi biếm một tư” [29, tr.84]. Hay trong Điều 31 –
chương vi chế: “Dâng thư nói đến triều vua trước, lại có ý chê bai thì phải tội
đồ làm chủng điền binh, nếu nói miệng thì xử phạt 60 trượng, biếm hai tư”
[29, tr.86]…
Thời kỳ Pháp thuộc
Thời kỳ này chúng ta có ba Bộ luật tiêu biểu là Bộ Dân luật Giản yếu
1883; Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931; Bộ Dân luật Trung kỳ 1936. Tất cả các bộ
luật này đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc đại cương của Bộ Dân Luật
Pháp 1804 nhưng lại có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đời sống, sinh hoạt
người Việt.
14
Tuy nhiên, các quy định dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng
được thực dân Pháp quy định chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp
thống trị trong xã hội. Các vấn đề về quyền nhân thân thời kỳ này chưa được
quy định và bảo đảm cho người dân thực hiện các quyền của mình.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của
Hiến pháp 1946, địa vị pháp lý của người dân nước ta đã có sự thay đổi căn
bản. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Hiến pháp đã trang trọng ghi nhận
quyền con người, quyền công dân – một trong những nội dung cơ bản nhất
của Hiến pháp. Đến nay, quyền nhân thân của cá nhân luôn được pháp luật
bảo vệ và ngày càng được coi trọng. Các quyền nhân thân của cá nhân được
quy định trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và được cụ
thể hoá trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005. Hiện nay, bản Hiến pháp
2013 trong chương về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân" cũng có nhiều điểm mới về nhận thức và cách thức thể hiện. Qua mỗi
giai đoạn khác nhau của lịch sử, các quy định pháp luật về nhân thân có
2005), quyền xác định dân tộc (Điều 28 BLDS 2005), Điều 31, 32, 37, 38
BLDS 2005…
Và hiện nay, theo bản Hiến pháp 2013 có thể thấy quyền con người,
quyền công dân nói chung và quyền nhân thân nói riêng là điểm nhấn xuyên
suốt toàn bộ Hiến pháp sửa đổi. Theo đó, mọi người có quyền sống, quyền có
nơi ở hợp pháp, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nhà ở, về đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; pháp luật bảo hộ quyền tự do đi
lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước;
mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác theo quy định
của luật. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn
trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm quyền và cơ hội
bình đẳng giới; công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, có quyền kết hôn, ly
hôn và thực hiện hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, một vợ một chồng, vợ
16
chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình,
bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em…
1.1.3. Các nhóm quyền nhân thân
Trong khoa học pháp lý có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại quyền
nhân thân.
Nếu dựa vào chủ thể mang quyền nhân thân thì có thể chia thành hai
nhóm là: các quyền nhân thân của cá nhân và các quyền nhân thân của các
chủ thể khác. Các quyền của cá nhân được quy định từ Điều 26 đến Điều 51
BLDS 2005 chiếm số lượng chủ yếu. Quyền nhân thân của các chủ thể khác
chỉ được quy định ở Điều 604 và Điều 611 BLDS năm 2005, bao gồm hai
quyền nhân thân là quyền đối với danh dự và uy tín.
Nếu dựa vào căn cứ phát sinh thì các quyền nhân thân được chia thành
các quyền nhân thân gắn với tài sản và các quyền nhân thân không gắn với tài
sau khi chết; Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 33, 34, 35 BLDS 2005).
BLDS 2005 đã bổ sung cho sự hạn chế và thiếu sót của BLDS 1995 khi đã
quy định quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi
chết là quyền nhân thân của cá nhân, thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với
các bộ phận cơ thể, xác của mình sau khi chết. Những quyền này ghi nhận
một loại giá trị nhân thân rất đặc biệt đó là tính mạng, sức khỏe, thân thể nên
loại quyền nhân thân này chỉ có thể là quyền của cá nhân và không thể
chuyển giao cho người khác. Hơn nữa, nhóm quyền này bị vi phạm thì việc
khôi phục là hầu như không thể thực hiện được. Ví dụ: nếu như một người bị
xâm phạm về tính mạng thì việc khôi phục là không thể thực hiện được…
1.1.3.3. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến giá trị tinh thần
của chủ thể
Nhóm này bao gồm các quyền nhân thân: Quyền được bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín (Điều 37 BLDS 2005); Quyền đối với bí mật đời tư (Điều
38 BLDS 2005); Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 46 BLDS 2005);
18
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47 BLDS 2005); quyền tự do đi lại,
tự do cư trú (Điều 48 BLDS 2005); Quyền lao động (Điều 49 BLDS 2005);
Quyền tự do kinh doanh (Điều 50 BLDS 2005); Quyền tự do nghiên cứu,
sáng tạo (Điều 51 BLDS 2005). Việc thực hiện những quyền này luôn mang
lại những lợi ích tinh thần cho chính các chủ thể.
1.1.3.4. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân
và gia đình của cá nhân
Nhóm này bao gồm các quyền nhân thân: Quyền kết hôn (Điều 39
BLDS 2005); Quyền bình đẳng vợ chồng (Điều 40 BLDS 2005); Quyền được
hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (Điều 41 BLDS 2005);
Quyền ly hôn (Điều 42 BLDS 2005); Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con
(Điều 43 BLDS 2005); Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm
tượng đó (Điều 751 BLDS 2005). Trước đây các quy định này được quy định
chi tiết trong BLDS 1995 nay được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ 2006,
sửa đổi, bổ sung 2009.
1.2. Khái quát chung về phương thức bảo vệ quyền nhân thân
trong pháp luật dân sự Việt Nam
1.2.1. Khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân
Cho tới nay, khái niệm bảo vệ quyền nhân thân, chủ thể của quyền
nhân thân, nội dung của bảo vệ quyền nhân thân vẫn là những vấn đề còn
tranh luận giữa các nhà khoa học pháp lý cũng như các cán bộ làm công tác
thực tiễn pháp luật. Để làm rõ khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân
trước hết cần phải làm rõ bảo vệ quyền nhân thân là gì? Theo Từ điển tiếng
Việt “Bảo vệ” là “chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được
nguyên vẹn” [23, tr.40]. Trong BLDS 2005, “Bảo vệ quyền nhân thân” được
quy định tại Điều 25: “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì
người đó có quyền:
1. Tự mình cải chính;