Quyền nhân thân của cá nhân đối với tính mạng, sức khỏe, thân thể trong pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT BÙI THỊ THANH THẢO

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TÍNH
MẠNG, SỨC KHOẺ, THÂN THỂ TRONG PHÁP LUẬT
DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ: 60.38.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN HÀ NỘI - NĂM 2006

4

MỤC LỤC
Trang


5

2.2. Quyền hiến bộ phận cơ thể; hiến bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi
chết; quyền nhận bộ phận cơ thể 51
2.2.1. Những vấn đề chung 51
2.2.2. Quyền hiến bộ phận cơ thể 59
2.2.3. Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết 63
2.2.4. Quyền nhận bộ phận cơ thể ngƣời 68
2.3. Quyền xác định lại giới tính 70
2.3.1. Cơ sở quy định 71
2.3.2. Những vấn đề chung về giới tính 73
2.3.3. Nội dung quyền xác định lại giới tính 76
Chƣơng 3. BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TÍNH
MẠNG, SỨC KHOẺ, THÂN THỂ BẰNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ Ở NƢỚC TA
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 82
3.1. Khái quát chung về bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với tính
mạng, sức khoẻ, thân thể bằng pháp luật dân sự 82
3.1.1. Khái niệm 82
3.1.2. Đặc điểm của việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối
với tính mạng, sức khoẻ, thân thể bằng pháp luật dân sự 86
3.1.3. Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với
tính mạng, sức khoẻ, thân thể trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành. 89
3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự về bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân đối với tính mạng, sức khoẻ, thân thể trong giai đoạn
hiện nay 96
3.2.1. Nhu cầu khách quan của việc hoàn thiện quy định của pháp
luật dân sự về bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với tính mạng, sức
khoẻ, thân thể trong giai đoạn hiện nay 96
3.2.2. Một số giải pháp tăng cƣờng hiệu quả bảo vệ quyền nhân

hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau đặt ra cho hoạt động
nghiên cứu lập pháp những nhiệm vụ mới.
Hơn nữa, việc nghiên cứu các quyền nhân thân của cá nhân đối với tính mạng,
sức khỏe, thân thể và bảo vệ các quyền này theo quy định của pháp luật dân sự có ý
nghĩa rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn.
Chính từ những lý do trên đây, chúng tôi đã quyết định chọn vấn đề “Quyền
nhân thân của cá nhân đối với tính mạng, sức khỏe, thân thể trong pháp luật dân sự
Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình.
7

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bộ luật dân sự Việt Nam ra đời tƣơng đối muộn, vì vậy có rất nhiều nội dung kế
thừa luật dân sự của một số nƣớc phát triển trên thế giới nhƣ Pháp, Liên Xô, Đức…
Tuy nhiên, Bộ luật dân sự Việt Nam lại đƣợc coi là mẫu mực và rất tiến bộ so với
Bộ luật dân sự của các nƣớc đi trƣớc chính là ở chỗ Bộ luật dân sự Việt Nam dành
hẳn một chƣơng quy định về quyền nhân thân trong khi ở Bộ luật dân sự ở các nƣớc
khác không có mục riêng cho quyền nhân thân. Mặc dù vậy, đối với Việt Nam, đây
vẫn là vấn đề còn nhiều mới mẻ, phức tạp. Đặc biệt cùng với sự ra đời của Bộ luật
dân sự 2005, trong lĩnh vực quyền nhân thân nói chung và quyền nhân thân của cá
nhân đối với tính mạng, sức khoẻ, thân thể nói riêng đã có rất nhiều sửa đổi, bổ
sung quan trọng đặt ra cho khoa học pháp lý những nhiệm vụ nghiên cứu mới.
Cho đến nay chúng ta đã tổ chức đƣợc khá nhiều các cuộc hội thảo, toạ đàm
trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế liên quan đến Bộ luật dân sự nói chung và quyền nhân
thân nói riêng. Trong đó phải kể đến nhƣ: Hội thảo quyền nhân thân và bảo vệ
quyền nhân thân bằng pháp luật dân sự do Nhà pháp luật Việt Pháp tổ chức tại Hà
Nội các ngày 24, 25, 26 tháng 11 năm 1997; Hội thảo Bộ luật dân sự sửa đổi do
Nhà pháp luật Việt Pháp tổ chức tại Hà Nội từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 8 năm

Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin
và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Cơ sở phƣơng pháp luận của luận văn là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số phƣơng pháp khoa học khác nhƣ phân
tích, tổng hợp, so sánh. Trong luận văn chúng tôi chủ yếu sử dụng phƣơng pháp
phân tích, đánh giá.
5. Ý nghĩa và mục đích của luận văn
Thực hiện đề tài nghiên cứu này giúp ngƣời viết hiểu sâu sắc hơn về một vấn đề
rất quan trọng trong luật dân sự và là vấn đề mới đang đƣợc xã hội hết sức quan
tâm. Đồng thời cùng với việc nghiên cứu để viết luận văn này, bản thân ngƣời viết
sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức khi giải quyết những vấn đề có liên
quan đến hoạt động nghề nghiệp của mình.
Với luận văn này, chúng tôi chỉ hy vọng sẽ đem đến cho ngƣời đọc một cái nhìn
tƣơng đối khái quát và tổng hợp về một mảng rất nhỏ trong nội dung các quyền
nhân thân đƣợc pháp luật dân sự điều chỉnh, đó là quyền nhân thân của cá nhân đối
9

với tính mạng, sức khoẻ, thân thể. Đồng thời đem đến cho ngƣời đọc những hiểu
biết và nhận thức đúng đắn về bảo vệ những quyền này trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3
chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quyền nhân thân của cá nhân đối với tính mạng, sức
khoẻ, thân thể
Chƣơng 2: Nội dung của pháp luật dân sự hiện hành về các quyền nhân thân của
cá nhân đối với tính mạng, sức khoẻ, thân thể
Chƣơng 3: Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với tính mạng, sức khoẻ,

luật dân sự.
Để hiểu rõ hơn về bản chất của quyền nhân thân, chúng ta sẽ xem xét nó với
tính chất là một loại quyền trong hệ thống các quyền nói chung, để từ đó tìm ra
những nét đặc trƣng cơ bản của quyền nhân thân.
Quyền nhân thân là một loại quyền nằm trong hệ thống các quyền nói chung. Hệ
thống này bao gồm các khái niệm về quyền có phạm vi từ rộng đến hẹp hơn: quyền
con người quyền công dân quyền dân sự quyền nhân thân và có thể biểu
hiện mối quan hệ đó bằng sơ đồ khái quát:
11 * Quyền con ngƣời
Con ngƣời là chủ thể của xã hội. Bản chất của con ngƣời chính là tổng hoà của
các mối quan hệ xã hội. Giá trị của con ngƣời luôn luôn là giá trị cao nhất. Thừa
nhận các giá trị của con ngƣời chính là thừa nhận các quyền của con ngƣời. Việc
thừa nhận và đảm bảo các quyền con ngƣời có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Lời nói
đầu của bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền ngày 10/ 12/ 1948 đã khẳng
định “Nhận định rằng sự thừa nhận những phẩm giá vốn có của tất cả thành viên
thuộc gia đình nhân loại cũng nhƣ các quyền bình đẳng, không thể tƣớc bỏ đƣợc
của họ, là nềân tảng của tự do, công lý và hoà bình trên thế giới”
[26,Tr.142]
.
“Quyền con ngƣời (nhân quyền hoặc quyền làm ngƣời) là những quyền mặc
nhiên khi đƣợc sinh ra cho đến trọn đời mà không ai có quyền tƣớc bỏ. Đó là những
quyền cơ bản của con ngƣời nhƣ quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền
mƣu cầu hạnh phúc ”
[23,Tr.399]

đời của quyền công dân.
* Quyền công dân
“Quyền công dân là những quyền cơ bản mà hiến pháp của mỗi nƣớc quy định
cho công dân và ngƣời mang quốc tịch của nƣớc mình.
Ở những nƣớc có chế độ chính trị xã hội khác nhau, có nền kinh tế, khoa học
kỹ thuật, văn hoá khác nhau thì phạm vi và mức độ quyền công dân cũng rộng hẹp
khác nhau”
[23,Tr.399]
.
Quyền công dân mang tính xác định hơn so với quyền con ngƣời, nó gắn liền
với mỗi quốc gia và đƣợc pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Nội dung quyền
công dân ở từng quốc gia là không giống nhau nhƣng bất luận là ở quốc gia nào thì
cũng không có sự đối lập giữa quyền con ngƣời và quyền công dân.
Quyền công dân thực chất chính là những quyền con ngƣời đƣợc ghi nhận
trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Với ý nghĩa đó, quyền công dân là sự thể hiện
mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và công dân thông qua cơ chế Nhà nƣớc ghi nhận và
đảm bảo cho các quyền của công dân đƣợc thực hiện. Tuy nhiên để các quyền này
đƣợc thực thi trên thực tế thì nó phải đƣợc rất nhiều ngành luật khác nhau nhƣ lao
động, hôn nhân gia đình, dân sự cụ thể hoá bằng việc quy định các quyền cụ thể
tƣơng ứng với từng quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh. Và đó chính là cơ
sở cho sự ra đời của khái niệm Quyền dân sự.
* Quyền dân sự
13

Với ý nghĩa là sự cụ thể hoá các quyền công dân đƣợc ghi nhận trong Hiến
pháp, quyền dân sự đƣợc hiểu là “những quyền công dân đƣợc thể hiện trong mối
quan hệ giữa các cá nhân và đƣợc bảo đảm bằng pháp luật dân sự”

14

luật có quy định khác”
[23,Tr.407]
Tuy nhiên những cách định nghĩa này chƣa nói lên
đƣợc những vấn đề bản chất nhất của khái niệm quyền nhân thân. Theo cách định
nghĩa này, quyền nhân thân chỉ đƣợc nhận định ở hai khía cạnh: quyền nhân thân là
một loại quyền dân sự và một đặc điểm của quyền nhân thân là gắn với cá nhân và
không thể chuyển giao cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác.
Cách định nghĩa nhƣ vậy sẽ không giúp ta hiểu đƣợc vậy đối tƣợng cơ bản của
quyền nhân thân là gì - vấn đề quan trọng nhất để xác định đó là quyền nhân thân
mà không phải là quyền tài sản. Trong thực tế có những loại quyền là quyền dân sự,
là quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho ngƣời khác nhƣng
lại không phải là quyền nhân thân mà là một loại quyền tài sản ví dụ quyền đƣợc
cấp dƣỡng, quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
thân thể, quyền thừa kế tài sản Bên cạnh đó, khẳng định quyền nhân thân là quyền
dân sự gắn liền với mỗi cá nhân có nghĩa là ngoài cá nhân, các chủ thể khác nhƣ tổ
chức sẽ không thể có quyền nhân thân. Giáo sƣ Lê Đình Nghị cho rằng “quyền nhân
thân đƣợc quy định trong Bộ luật dân sự là quyền của cá nhân. Tuy nhiên không
phải chỉ có cá nhân mới có quyền nhân thân. Với ý nghĩa quyền nhân thân là quyền
gắn liền với một chủ thể thì tổ chức cũng có quyền đó”
[51,Tr.31]

Nhƣ vậy nếu xem xét khái niệm quyền nhân thân ở phƣơng diện lí luận cần
phải khẳng định trƣớc hết quyền nhân thân là một loại quyền dân sự. Nếu quyền tài
sản có đối tƣợng là tài sản thì đốùi tƣợng của quyền nhân thân chính là các giá trị
nhân thân đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Hiện nay pháp luật chƣa có một khái

ta cần phải nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện.
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi có thể đƣa ra định nghĩa nhƣ sau:
“Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự ghi nhận và bảo vệ các quyền của
cá nhân đối với các giá trị nhân thân của mình trong quan hệ dân sự; gắn liền với
mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác”
Quyền nhân đƣợc coi là quyền đầu tiên của con ngƣời và gắn liền với mỗi cá
nhân. Với tính chất nhƣ vậy, về nguyên tắc quyền nhân thân là gắn liền với chủ thể
và không thể chuyển giao cho ngƣời khác trong giao lƣu dân sự. Tuy nhiên có một
số trƣờng hợp ngoại lệ quyền nhân thân vẫn có thể chuyển giao cho chủ thể khác.
Đây là trƣờng hợp đặc biệt ví dụ tác giả có quyền nhân thân là quyền công bố tác
phẩm của mình nhƣng tác giả cũng có thể chuyển giao quyền công bố tác phẩm cho
ngƣời khác.
1.1.2. Đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân
16

Quyền nhân thân là một loại quyền dân sự đặc biệt, bởi vậy chúng có nhiều
đặc điểm riêng. Trong khoa học pháp lí, việc nghiên cứu các đặc điểm của quyền
nhân thân là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi nó trực tiếp liên quan đến cơ
chế điều chỉnh của pháp luật, đặc biệt là các biện pháp để bảo vệ khi nhóm quyền
này bị xâm phạm. Trong thực tiễn, để xem xét các đặc điểm của quyền nhân thân
ngƣời ta thƣờng đặt chúng trong mối tƣơng quan với các quyền về tài sản bởi vì đây
là hai nhóm quyền chính của quyền dân sự đồng thời giữa chúng có những điểm
khác biệt rất căn bản.
Ở đây chúng tôi dùng khái niệm “quyền về tài sản” để so sánh với quyền nhân
thân chứ không sử dụng khái niệm “quyền tài sản”. Bởi lẽ quyền tài sản đƣợc định
nghĩa tại Điều 181 Bộ luật dân sự 2005 đƣợc xác định là một loại tài sản và là đối

chỉ ở dạng khả năng đƣợc hƣởng quyền mà là một thực tế. Đối với một số quyền
nhân thân của cá nhân, bản thân cá nhân không phải bằng hành vi của mình thì
quyền đƣợc pháp luật ghi nhận mới thực sự đƣợc thực hiện ví dụ nhƣ các quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh, bí mật đời tƣ, tên gọi, quyền đƣợc bảo đảm
an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể Trong khi đó đa số các quyền về tài sản
đƣợc quy định trong luật dân sự chỉ với ý nghĩa là khả năng hƣởng quyền của cá
nhân. Để các quyền đó trở thành hiện thực, cá nhân phải bằng hành vi cụ thể của
mình biến khả năng hƣởng quyền đó thành quyền một cách thực thụ. Ví dụ luật quy
định mọi cá nhân đều có quyền sở hữu nhƣng nếu không có tài sản thì cá nhân
không thể thực hiện quyền sở hữu trên thực tế
1.1.2.2 Quyền nhân thân của cá nhân có tính chất phi tài sản
Đặc điểm này xuất phát từ đối tƣợng của quyền nhân thân là các giá trị nhân
thân - bản thân nó là các giá trị phi tài sản. Giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là
những đại lƣợng tƣơng đƣơng và không thể trao đổi ngang giá. Trong thực tế có
một số quyền nhân thân có thể làm phát sinh một lợi ích vật chất nhất định ví dụ
nhƣ quyền tác giả nhƣng “Quyền nhân thân không phải là tài sản, chỉ có quyền nhân
thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi”
[51,Tr.31]
. Quyền nhân thân
không mang tính tài sản đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh đặc trƣng: thứ nhất là chúng
không có nội dung kinh tế, không gắn với tài sản của chủ thể và thứ hai là quyền
nhân thân cũng không thể mang lại cho chủ thể quyền một lợi ích vật chất nào vì
chúng không thể là đối tƣợng để có thể trao đổi, mua bán, tặng cho…
Đây là đặc điểm khác về cơ bản với các quyền về tài sản. Do đối tƣợng của
quyền về tài sản là một lợi ích về tài sản nên quyền về tài sản luôn luôn có thể xác
định đƣợc bằng một giá trị vật chất nhất định. Sự định giá này có thể là định giá một
18
19

pháp luật Việt Nam) không đƣợc quyền từ bỏ mạng sống (tính mạng) của mình
Điều này có nghĩa là về nguyên tắc chỉ bản thân chủ thể hƣởng các quyền nhân thân
mà pháp luật đã quy định cho họ mà không thể chuyển quyền đó cho ngƣời khác.
Đây cũng là một đặc điểm khác cơ bản với những quyền về tài sản. Đối với quyền
về tài sản, cá nhân có thể chuyển giao quyền cho ngƣời khác nhƣ quyền đòi nợ…
hoặc cá nhân cũng có thể từ bỏ quyền của mình nhƣ từ chối nhận di sản thừa kế, từ
bỏ quyền sở hữu với tài sản…
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những giao dịch liên quan đến quyền nhân mà
theo đó một chủ thể chuyển một quyền nhân thân của mình cho chủ thể khác. Đây
vẫn còn là một vấn đề hiện nay còn có nhiều tranh cãi. Điều 738 Bộ luật dân sự
2005 quy định về các quyền nhân thân của tác giả trong đó có quyền công bố tác
phẩm nhƣng đồng thời lại quy định tác giả có quyền “cho phép ngƣời khác công bố
tác phẩm”. Điều đó có nghĩa là pháp luật đã thừa nhận việc tác giả đƣợc chuyển
giao quyền nhân thân của mình cho ngƣời khác. Nhƣ vậy, có thể thấy tính chất
không thể chuyển giao quyền nhân thân của cá nhân chỉ có ý nghĩa tƣơng đối bởi vì
vẫn có những trƣờng hợp ngoại lệ. Để dung hoà đặc điểm không thể chuyển giao
quyền nhân thân với những trƣờng hợp ngoại lệ trên, theo nghiên cứu mới về quyền
nhân thân của Pháp, họ đã phân biệt hai loại: quyền nhân thân cơ sở và quyền nhân
thân phát sinh. Theo đó “Quyền nhân thân cơ sở là quyền nhân thân theo đúng bản
chất của nó. Không thể chuyển nhƣợng quyền đối với hình ảnh hoặc quyền đối với
đời tƣ. Quyền nhân thân phát sinh là quyền khai thác danh tiếng của một cá nhân
với mục đích thƣơng mại”
[44,Tr.10]

Đồng thời, cần thấy rằng tính không thể chuyển giao chỉ là một đặc điểm của
quyền nhân thân mà không phải là một căn cứ để phân biệt quyền nhân thân với các

* Quyền nhân thân gắn với tài sản đƣợc hiểu là “quyền nhân thân khi đƣợc xác
lập thì làm phát sinh các quyền tài sản. Quyền nhân thân gắn với tài sản là tiền đề
làm phát sinh quyền tài sản khi có những sự kiện pháp lý nhất định”
[14,Tr.105]
. Quyền
nhân thân gắn với tài sản cũng có thể đƣợc hiểu là những quyền nhân thân có thể
mang lại cho chủ thể những giá trị nhân nhân và giá trị vật chất nhất định. Hay nói
cách khác, đó là những quyền mà “trong đó có cả yếu tố nhân thân và yếu tố tài
sản”
[17,Tr.15]
. Nhƣ vậy tính chất đặc trƣng của loại quyền nhân thân này là bản thân
chúng không phải là tài sản, không trị giá đƣợc bằng tiền bởi vì giá trị nhân thân là
cơ sở để quy định về quyền nhân thân bản thân chúng là những giá trị phi tài sản.
21

Tuy nhiên, các quyền nhân thân đó lại có thể là cơ sở để ngƣời có quyền có đƣợc
những lợi ích vật chất nhất định. Trong luật dân sự Việt Nam, các quyền nhân thân
gắn với tài sản đƣợc thể hiện rõ nét nhất trong “Phần thứ sáu của Bộ luật dân sự” -
tức là các quy định về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp (gọi chung là
quyền sở hữu trí tuệ).
* Quyền nhân thân không gắn với tài sản đƣợc hiểu là “quyền nhân thân tồn
tại một cách độc lập không liên quan đến tài sản”
[14,Tr.105]
. Hay nói cách khác quyền
nhân thân không gắn với tài sản là những quyền nhân thân không mang đến cho chủ
thể của những giá trị nhân thân đó bất kỳ một lợi ích vật chất nào. Đối với loại
quyền nhân thân này chúng có những nét đặc trƣng cơ bản:

* Nhóm quyền nhân thân liên quan đến các yếu tố tinh thần của cá nhân:
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh; Quyền đƣợc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín; Quyền bí mật đời tƣ.
* Nhóm quyền nhân thân liên quan đến tự do cá nhân: Quyền tự do tín
ngƣỡng, tôn giáo; Quyền tự do đi lại, tự do cƣ trú; Quyền lao động; Quyền tự do
kinh doanh; Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo.
* Nhóm quyền nhân thân liên quan đến các yếu tố sở hữu trí tuệ.
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền nhân thân của cá nhân đối
với tính mạng, sức khoẻ, thân thể
1.2.1 Khái niệm
Quyền nhân thân của cá nhân đối với tính mạng, sức khoẻ, thân thể là nhóm
quyền nhân thân đặc biệt quan trọng bởi nó trực tiếp liên quan đến sự sống của con
ngƣời - giá trị cao nhất của mỗi con ngƣời. Ngoài những tính chất chung của quyền
nhân thân, nhóm quyền này còn mang những nét đặc thù riêng biệt. Nhóm quyền
này quan tâm đến các giá trị mang tính tự nhiên của con ngƣời (tính mạng, thâ thể,
sức khoẻ, giới tính…) trƣớc khi quan tâm đến các giá trị mang tính xã hội nhƣ hình
ảnh, tên gọi, căn cƣớc, quan hệ xã hội khác. Bởi vậy, ở một phƣơng diện nào đó,
đây là nhóm quyền mang nhiều yếu tố quyền tự nhiên. Có thể định nghĩa “Quyền
nhân thân của cá nhân đối với tính mạng, sức khoẻ, thân thể là quyền dân sự ghi
nhận và bảo vệ các quyền của cá nhân đối với tính mạng, sức khoẻ, thân thể của
mình và không thể chuyển giao cho người khác”
23

Đối tƣợng của nhóm quyền nhân thân này là Tính mạng, sức khoẻ và thân thể.
Việc phân biệt ba khái niệm này chỉ có ý nghĩa tƣơng đối bởi giữa chúng có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau. Tuy nhiên việc tách rời ba khái
niệm này cũng có một ý nghĩa nhất định khi quy định các loại quyền nhân thân cụ

ra cho pháp luật nhiệm vụ phải có một hành lang pháp lý đầy đủ và chặt chẽ để vừa
đảm bảo các quyền của cá nhân, vừa đảm bảo trật tự xã hội.
Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý xã hội cũng là một trong những yếu tố quan trọng
nhất ảnh hƣởng đến sự ghi nhận cũng nhƣ thực hiện các quy định pháp luật liên
quan đến nhóm quyền này. Theo quan niệm truyền thống của phƣơng Đông nói
chung và Việt Nam nói riêng, con ngƣời là sự thống nhất của hai phần: thể xác và
linh hồn. Phần thể xác của con ngƣời đƣợc nhận thức giống nhƣ nhận thức về vũ
trụ: “Trong vũ trụ có âm- dƣơng và con ngƣời cũng vậy”
[13,Tr.80]
. Bất kỳ bộ phận nào
trên cơ thể con ngƣời cũng là sự biểu đạt cho một trong hai yếu tố âm hoặc dƣơng,
vì vậy nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cũng làm ảnh hƣởng đến sự cân bằng
âm - dƣơng đó. Phong tục của ngƣời Việt Nam cũng nhƣ nhiều nƣớc Đông Nam Á
vẫn quan niệm dù sống hay chết, cơ thể con ngƣời cũng cần đƣợc bảo vệ vẹn toàn.
Bên cạnh đó, trong đời sống tâm linh của ngƣời Việt có quan niệm chết không phải
là đã hết, con ngƣời sống trên trần thế là “sống gửi, thác về”, cái chết chỉ là cái bắt
đầu của một sự sống vĩnh hằng. Bởi vậy mà ngƣời Việt mới có phong tục “tắm cho
ngƣời chết” - còn gọi là cải cát, để làm sạch sẽ phần thể xác - là nơi trú ngụ vĩnh
hằng của linh hồn ngƣời chết. Những ngƣời chết mất xác, mất các bộ phận cơ thể
luôn làm cho ngƣời thân và gia đình day dứt và áy náy khôn nguôi. Mặc dù ngày
nay quan niệm này đã có nhiều thay đổi (ví dụ sử dụng hình thức hoả táng thay
bằng trôn ngƣời chết), nhƣng nó vẫn có những ảnh hƣởng rất lớn đến việc quy định
quyền hiến, nhận bộ phận cơ thể, hiến xác của cá nhân trong pháp luật dân sự Việt
nam.
* Thứ ba, Đây là nhóm quyền nhân thân liên quan đến tính mạng, sức khoẻ,
thân thể của con ngƣời nên khi nhóm quyền này bị vi phạm thì việc khôi phục là
hầu nhƣ không thể thực hiện đƣợc. Ví dụ nhƣ khi một cá nhân bị vi phạm quyền về
hình ảnh, họ có thể yêu cầu ngƣời vi phạm xin lỗi, cải chính công khai để đảm bảo
cho quyền lợi và danh dự của mình, hoặc cũng có thể thay thế hinh ảnh bị vi phạm
bằng một hình ảnh khác. Tuy nhiên, đối với Quyền nhân thân của cá nhân đối với

trong nhóm quyền này. Tuy nhiên việc phân loại đó chỉ mang tính tƣơng đối và cho
đến nay cũng chƣa có một công trình nghiên cứu nào phân loại nhóm quyền nhân
thân này. Quyền nhân thân có thể đƣợc phân loại theo đối tƣợng - giá trị nhân thân
26

đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Theo tiêu chí này, các Quyền nhân thân của cá
nhân đối với tính mạng, sức khoẻ, thân thể có thể đƣợc chia thành:
- Quyền nhân thân của cá nhân đối với tính mạng: Nhóm quyền này đề cao
việc bảo vệ giá trị cao nhất của con ngƣời là tính mạng - mạng sống của con ngƣời.
Trên thế giới, có rất nhiều quan điểm khác nhau của các quốc gia khác nhau trong
việc ghi nhận các quyền nhân thân liên quan đến vấn đề này. Ví dụ có quốc gia ghi
nhận cá nhân có “quyền đƣợc chết”, quyền này cho phép cá nhân đƣợc định đoạt
giá trị cao nhất là chính sự sống - tính mạng của mình. Hoặc có quốc gia cấm nạo
thai - thực chất đó là việc ghi nhận quyền đƣợc bảo toàn tính mạng của thai nhi, coi
thai nhi cũng là một thực thể sống, một cá nhân với quyền cao nhất của con ngƣời là
quyền đƣợc sống.
Ở Việt Nam, quyền nhân thân liên quan đến tính mạng của cá nhân đƣợc ghi
nhận ở quyền đƣợc đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể.
- Quyền nhân thân của cá nhân đối với thân thể: đây là nhóm quyền nhân thân
quan trọng mà giá trị nhân thân đƣợc bảo vệ chính là “thân thể con ngƣời”. Khái
niệm thân thể con ngƣời đƣợc hiểu là một chỉnh thể thống nhất đƣợc tạo thành bởi
hệ thống các mô, cơ, các bộ phận khác nhau. Nhóm quyền này bao gồm các quyền:
quyền đƣợc đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến bộ phận
cơ thể; quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết; quyền nhận bộ phận cơ
thể.
- Quyền của cá nhân đối với giới tính: Giới tính là một giá trị nhân thân quan
trọng của cá nhân. Đặc biệt, trong điều kiện xã hội hiện nay, những vấn đề liên quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status