BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THU HUYỀN
HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Cao Thị Oanh
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các trích dẫn và số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,
đã công bố theo đúng quy định. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự
tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan nhất.
Xác nhận của GV hướng dẫn
Tác giả luận văn
thành niên phạm tội .......................................................................................... 18
CHƯƠNG 2: HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM
TỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ................ 23
2.1. Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự
năm 1985 .......................................................................................................... 23
2.2. Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ
luật Hình sự năm 1985 ..................................................................................... 28
2.3. Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ
luật Hình sự năm 1999 ..................................................................................... 38
2.4. Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ
luật Hình sự năm 2015 ..................................................................................... 51
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI ................................................................................. 57
3.1. Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ........... 57
3.1.1. Thực tiễn xét xử và áp dụng hình phạt của Tòa án đối với người chưa
thành niên phạm tội ...................................................................................... 57
3.1.2. Những tồn tại, hạn chế ....................................................................... 62
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội ....................................................................... 73
3.2.1.
Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam ...................... 73
3.2.2.
Một số kiến nghị đối với hoạt động của các cơ quan pháp luật..... 76
chưa thật sự phù hợp với yêu cầu của xu thế hội nhập cũng như yêu cầu đấu
tranh phòng chống tội phạm chưa thành niên.
2
Nghiên cứu một cách có hệ thống các hình phạt áp dụng đối với người
chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam không chỉ là vấn đề
có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc nhằm từng bước hoàn
thiện các quy định về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội,
góp phần nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt, giáo dục họ trở thành
người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa họ phạm tội
mới đồng thời đảm bảo hiệu quả của việc phòng ngừa chung đối với cộng đồng.
Với nhận thức trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là một vấn đề phức tạp.
Trong khoa học pháp lý hình sự đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình phạt
nói chung và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng như: 1)
Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Trách nhiệm hình sự và Hình phạt, NXB Công an
Nhân dân; 2) Nguyễn Thị Tiệp (2010), Hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự Việt
Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học
Luật Hà Nội; 3) Đỗ Ngọc Thùy (2011), Hình phạt tù đối với người chưa thành
niên phạm tội – Lý luận và thực tiễn áp dụng, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa
luật Đại học Quốc gia Hà Nội; 4) Nguyễn Thị Thu Huyền (2012), Hình phạt tù
có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo Luật hình sự
Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội;… và
một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí khoa học pháp lý về lĩnh vực này có
thể kể đến: 1) Nguyễn Ngọc Hòa (1999), “Mục đích của hình phạt”, Luật học
(1); 2) Hoàng Quảng Lực (2000), “Về hình phạt cải tạo không giam giữ qua một
4
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là tìm hiểu về các loại hình phạt được áp dụng
đối với người chưa thành niên phạm tội; căn cứ áp dụng từng loại hình phạt theo
quy định của Bộ luật hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng ở nước ta hiện nay,
trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong xử lý người
chưa thành niên phạm tội, góp phần cải tạo, giáo dục người chưa thành niên
phạm tội có nhận thức đúng đắn, hạn chế tình trạng người chưa thành niên phạm
tội đang ngày một gia tăng ở nước ta hiện nay.
Trên cơ sở phân tích các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội của luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay và nghiên cứu tình
hình phạm tội thực tế hiện nay, làm rõ những vấn đề tồn tại trong lý luận và thực
tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết, xử lý
đối với người chưa thành niên phạm tội, từng bước hoàn thiện các quy định về
hình phạt áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt trên thực tế.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn phải trả lời cho các câu hỏi sau
đây:
- Khái niệm người chưa thành niên phạm tội, các đặc điểm tâm, sinh lý
của người chưa thành niên phạm tội?
- Khái niệm, mục đích của hình phạt đối với người chưa thành niên phạm
tội là gì?
- Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định trong
từng giai đoạn của luật hình sự Việt Nam thế nào?
- Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được áp dụng trên
thực tiễn thế nào? Những tồn tại, hạn chế là gì? Cần hoàn thiện, kiến nghị những
nội dung gì?
6
Chương 2. Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 3. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
7
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1. Một số vấn đề chung về người chưa thành niên phạm tội
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên là một vấn đề phổ biến ở tất cả các quốc gia trên
thế giới. Tuy nhiên, tùy thuộc vào trình độ kinh tế - xã hội, văn hóa, nhận thức,
phong tục, tập quán, mỗi quốc gia lại có một cách hiểu khác nhau về vấn đề thế
nào là người chưa thành niên.
Trước hết, khái niệm người chưa thành niên được đề cập trong nhiều văn
bản pháp luật quốc tế dưới nhiều tên gọi khác nhau: người chưa thành niên, trẻ vị
thành niên, trẻ em. Tuy xem xét vấn đề người chưa thành niên dưới những góc
độ và tên gọi khác nhau nhưng các văn bản pháp luật quốc tế này đều ghi nhận
độ tuổi cụ thể để được coi là người chưa thành niên.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp
quốc thông qua ngày 20/11/1990 đã quy định như sau: “Trẻ em được xác định là
người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm
hơn”.
Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành
niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) được Đại hội đồng Liên hợp quốc
Việc quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi cũng được ghi
nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam. Theo đó, người chưa thành niên phạm
tội chỉ bao gồm những người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm. Bộ luật
Hình sự Việt Nam năm 1999 cũng đã dành một chương riêng để đề cập đến
những quy định đối với người dưới chưa thành niên phạm tội. Điều 68 Bộ luật
này quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội
2
3
Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội, Điều 18
Quốc hội (2002), Bộ luật Lao động, Hà Nội, Điều 161
9
phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời
theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy
định của Chương này.”
Căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và trên cơ sở tham
khảo kinh nghiệm của một số nước khác, Bộ luật Hình sự Việt Nam đã quy định
người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những người chưa
thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới có thể phải chịu trách nhiệm hình
sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi thì
không phải chịu trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự 1999 còn
quy định rõ người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng; người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều
12).
Trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự, một số tác giả đã đưa ra khái
niệm người chưa thành niên phạm tội tương đối đầy đủ trong khoa học pháp lý
trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Trước hết, ở người chưa thành niên có sự phát triển cơ thể mất cân bằng
nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc. Tim phát triển
nhanh hơn các mạch máu đã gây ra sự thiếu máu trong từng bộ phận trên vỏ não,
và đôi khi còn làm rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch. Đồng
thời, tuyến nội tiết ở người chưa thành niên hoạt động mạnh, gây ra sự mất cân
bằng trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương, do đó dễ đưa đến cho người
chưa thành niên những cơn xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ và
những hành vi bất thường. Trạng thái thần kinh, trạng thái cảm xúc không cân
bằng ở người chưa thành niên có thể là yếu tố gây nên các hành vi lệch chuẩn
của họ.
Một đặc điểm tâm lý nổi bật, đặc trưng nữa mà ta thường thấy ở lứa tuổi
này là sự biểu hiện nhu cầu độc lập. Sự hình thành và phát triển nhu cầu độc lập
ở lứa tuổi chưa thành niên là sự phát triển tâm lý có tính chất tất yếu của trẻ.
5
Đỗ Ngọc Thùy (2011), Hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội – Lý luận và thực tiễn áp dụng,
Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội , tr. 13
11
Người chưa thành niên muốn tự khẳng định những phát triển của mình về nhân
cách trên con đường trở thành người lớn. Trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, họ
không muốn phụ thuộc vào người lớn, trước hết là cha mẹ, ông bà và những
người khác. Họ muốn suy nghĩ và hành động theo cách thức riêng của mình và
thường có xu hướng “phóng đại” các khả năng của mình, đánh giá chúng cao
hơn hiện thực. Tuy nhiên, khi nhu cầu độc lập được biểu hiện một cách thái quá
ra bên ngoài dưới dạng các hành vi ngang bướng, cố chấp, bảo thủ, tự ái, phô
trương, mạo hiểm, côn đồ thì người chưa thành niên dễ thực hiện các hành vi
lệch chuẩn, thậm chí là hành vi phạm tội.
nên dễ bị bắt chước, làm theo. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới
hành vi phạm tội của người chưa thành niên, nếu họ thiếu sự hướng dẫn, kiểm
tra, giám sát của gia đình và xã hội; nếu họ không làm chủ được bản thân và
không phân biệt được phải trái, đúng sai.
1.2. Khái niệm và mục đích của hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội
1.2.1. Khái niệm
Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, hình phạt là một trong những đối
tượng nghiên cứu chủ yếu. Việc làm sáng tỏ và nắm bắt một cách sâu sắc, cũng
như lập luận mang tính khoa học khái niệm hình phạt nói chung và khái niệm
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng là một vấn đề hết sức
quan trọng.
Kế thừa những tư tưởng tiến bộ, nhân đạo về hình phạt của các nhà khoa
học pháp lý trên thế giới, các học giả ở Việt Nam đã đưa ra những quan niệm về
hình phạt mà về cơ bản là thống nhất, mặc dù trong mỗi quan niệm đó có những
sự khác nhau nhất định, chẳng hạn như:
GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong LHS, do Tòa án áp dụng cho
chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào
13
việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng
như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân"7.
Theo TS. Uông Chu Lưu và TS. Nguyễn Đức Tuấn thì hình phạt được
hiểu là "biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Toà án áp dụng đối với người
thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế những
quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo, giáo dục
người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm"8.
Còn PGS.TSKH. Lê Cảm thì coi: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
15
người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong Bộ luật hình sự, tước bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của người đó
nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội
phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân.”
1.2.2. Mục đích
Mục đích của hình phạt nói chung và hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội là vấn đề quan trọng trong luật hình sự. Đây là cơ sở để nhà làm
luật quy định về từng loại hình phạt, hệ thống hình phạt áp dụng đối với người
chưa thành niên phạm tội cũng như quyết định hình phạt trong luật. Mặt khác, nó
cũng là cơ sở để nhà làm luật áp dụng trên thực tế.
Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội mang đầy đủ các mục
đích của hình phạt nói chung. Trong khoa học pháp lý, phần lớn các nhà luật học
cho rằng mục đích của hình phạt nói chung và hình phạt đối với người chưa
thành niên phạm tội nói riêng là giáo dục cải tạo người phạm tội để họ trở thành
người lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật. Còn trừng trị
chỉ là biện pháp để đạt được mục đích giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm.
Một số tác giả với quan điểm nghiêng về trấn áp hình sự lại coi mục đích của
hình phạt chỉ là trừng trị.
Để thống nhất trong các hiểu giữa các nhà làm luật, Bộ luật hình sự đã quy
định một cách cụ thể như sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm
tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo
pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội
mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm.”11.
11
Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự, Hà Nội, Điều 27
Nguyễn Ngọc Hòa (1999), “Mục đích của hình phạt”, Luật học , (1), tr. 10
17
tâm lí của các thành viên khác trong xã hội, làm cho các thành viên “không vững
vàng” thấy trước hậu quả pháp lý mà họ phải chịu nếu thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, qua đó răn đe, ngăn ngừa họ phạm tội. Đối
với các thành viên khác trong xã hội, hình phạt có mục đích giáo dục và nâng
cao ý thức pháp luật cho họ, động viên toàn xã hội tích cực tham gia vào công
cuộc ngăn ngừa và chống tội phạm.13
Có thể thấy rằng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cũng
mang đầy đủ các mục đích của hình phạt nói chung. Tuy nhiên, với đối tượng
phải chịu hình phạt là người chưa thành niên có nhiều đặc điểm về tâm sinh lý
khác so với đối tượng là người đã thành niên, vì vậy mục đích của hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội cũng mang những đặc điểm đặc trưng riêng.
Trước hết, người chưa thành niên là người đang ở lứa tuổi phát triển về
mọi mặt, khả năng nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế, dễ bị tác động
bởi các yếu tố môi trường. Bởi vậy, tuy các hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội vẫn mang mục đích trừng trị, nhưng tính chất trừng trị của những
hình phạt đối với họ nhẹ hơn nhiều so với những hình phạt được áp dụng với
người đã thành niên phạm tội tương ứng. Mục đích trừng trị thể hiện sự lên án,
thái độ nghiêm khắc của Nhà nước, xã hội đối với người phạm tội khi họ thực
hiện tội phạm. Thái độ này được biểu hiện cụ thể bằng sự khiển trách công khai
của Nhà nước; tước bỏ một số quyền, lợi ích hợp pháp hoặc tước tự do của người
bị kết án. Tuy nhiên, với đặc điểm chưa phát triển đầy đủ về nhận thức, hiểu biết
cũng kinh nghiệm sống, hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm
tội chủ yếu nhằm đề cao vấn đề giáo dục, giúp người chưa thành niên nhận thức
rõ được sai lầm của mình, từ đó cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội,
ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục người chưa thành niên khác
tội bao gồm: phạt tiền; tước quyền làm công việc nhất định; lao động bắt buộc;
lao động cải tạo; hạn chế tự do và tù có thời hạn, đồng thời quy định rõ điều kiện
và thời hạn áp dụng đối với mỗi loại hình phạt nêu trên.
14
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga (2011), NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 126
19
Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định người từ đủ 14
tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm nhất định
và ngay cả đối với những tội này thì khi quyết định hình phạt Tòa án cũng giảm
nhẹ hình phạt cho họ. Điều 17 Bộ luật Hình sự Trung Hoa quy định:“Người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết
người, cố ý gây thương tích nặng, vô ý gây thương tích nặng hoặc gây chết
người, hiếp dâm, cướp, buôn bán ma túy, đốt nhà, phá hoại, đầu độc. Người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ bị xử theo khung hình phạt nhẹ hơn hoặc được
giảm nhẹ hình phạt”15. Với quy định như trên, Bộ luật này không chỉ rõ giới hạn
giảm nhẹ hình phạt áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội, điều này dẫn
đến tình trạng tùy tiện trong áp dụng. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự Trung Hoa đã
thể hiện đúng nguyên tắc nhân đạo trong đường lối xử lý khi quyết định hình
phạt cho người chưa thành niên với mức nhẹ hơn so với khung bình thường.
Độ tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm hình sự ở Nhật Bản tương đồng với
Việt Nam khi đều quy định: “Hành vi của người dưới 14 tuổi không bị xử
phạt”16 (Điều 41 Bộ luật Hình sự Nhật Bản). Tuy nhiên, hệ thống hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội ở Nhật Bản lại có một số điểm khác biệt.
Điều 9 Chương II Bộ luật Hình sự Nhật Bản quy định, hình phạt áp dụng đối với
người chưa thành niên bao gồm: Tử hình; Tù có lao động bắt buộc; Tù không có
lao động bắt buộc; Phạt tiền; Phạt giam hình sự; Phạt tiền về tội hình sự nhỏ;
áp dụng hình phạt riêng18. Theo đó, hệ thống hình phạt được áp dụng với người
chưa thành niên phạm tội từ 14 tuổi đến dưới 21 tuổi bao gồm: phạt tiền, các chế
tài liên quan đến cộng đồng (gồm tha có thử thách, buộc làm một số dịch vụ
công cộng, giám sát, quản chế, tham dự các trung tâm nhất định), các chế tài
giam giữ. Tuy nhiên, theo pháp luật hình sự Anh, người chưa thành niên phạm
tội không bị giam giữ tại nhà tù mà hình phạt này được thực hiện ở các Trại dành
cho người chưa thành niên phạm tội hoặc ở những nơi đảm bảo an ninh (một
dạng như trẻ ở nhà có khóa ngoài). Thời hạn giam giữ tùy thuộc vào tội phạm:
đối với tội giết người và ngộ sát thì trẻ em từ 10 đến dưới 18 tuổi có thể bị giam
17
Xem: Điều 3 Chương 1, Điều 7 Chương 29, Bộ luật Hình sự Thụy Điển (2010), NXB. Công an nhân dân, Hà
Nội, tr. 10, 282
18
Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1999), Chuyên đề về Tư pháp hình sự so sánh, Hà Nội, tr.
294