ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG,
THỊ TRẤN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
biện pháp tƣ pháp đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng ................................... 21
1.2.2. Phân biệt biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn áp
dụng đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình
sự và trong Luật xử lý vi phạm hành chính ........................................ 25
1.3.
Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam về biện pháp giáo dục tại
xã, phường, thị trấn từ năm 1945 đến nay ..................................... 29
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 trƣớc khi Nhà nƣớc ban hành Bộ luật
hình sự năm 1985............................................................................... 29
1.3.2. Giai đoạn từ khi Nhà nƣớc ban hành Bộ luật hình sự năm
1985 đến năm 1999 ........................................................................... 31
1.3.3. Giai đoạn từ khi Nhà nƣớc ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
đến nay ................................................................................................ 35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 38
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP TƯ
PHÁP GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ...................... 39
2.1.
Thực trạng các quy định về biện pháp tư pháp giáo dục tại
xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội
trong luật hình sự Việt Nam ............................................................ 39
2.1.1. Nguyên tắc áp dụng biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn.... 40
2.1.2. Điều kiện, thời hạn và thủ tục áp dụng biện pháp tƣ pháp giáo
phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội .................. 63
3.1.2. Điểm mới về điều kiện, thẩm quyền áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội ....... 68
3.1.3. Điểm mới về quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời chƣa thành niên
phạm tội đƣợc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn .... 71
3.2.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
đối với người chưa thành niên phạm tội ........................................ 72
3.2.1. Hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị
trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội ..................................... 72
3.2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội ....... 75
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 85
KẾT LUẬN .................................................................................................... 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 88
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống
tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đó ngày càng đƣợc nhân dân ta
giữ gìn, tôn trọng và phát huy. Sự quan tâm đến trẻ em đƣợc thể hiện rõ hơn,
sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ƣớc của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em
năm 1990, đó là sự cam kết mạnh mẽ của Nhà nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đảm
bảo cho mọi trẻ em đƣợc đối xử bình đẳng, có điều kiện thuận lợi nhất để phát
triển thể chất và trí tuệ, bảo đảm đƣợc sống trong môi trƣờng an toàn và lành
mạnh, nhằm làm cho mọi trẻ em đều đƣợc hƣởng các quyền cơ bản và làm
tròn bổn phận của trẻ em.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình hình ngƣời chƣa thành niên
phạm tội ngày càng diễn biến phức tạp, có chiều hƣớng gia tăng về số lƣợng
và tính chất nguy hiểm của hành vi. Chính vì vậy, vấn đề ngƣời chƣa thành
niên phạm tội ngày càng thu hút sự quan tâm của xã hội và các cơ quan bảo
vệ pháp luật. Ngƣời chƣa thành niên là ngƣời đang trong quá trình phát triển
và hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý, nhân cách sống. Ngƣời ở độ tuổi này
chƣa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, nhân cách; có sự
hạn chế về kinh nghiệm sống, kiến thức pháp luật, dễ bị tác động, chi phối bởi
điều kiện sống; chƣa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi mà mình thực hiện, khả năng tự kiềm chế chƣa tốt. Trong tƣ duy của
ngƣời ở độ tuổi này bắt đầu hình thành ý thức độc lập trong việc quyết định
cuộc sống riêng của mình, bắt đầu tự độc lập trong hành động, suy nghĩ, ứng
xử và thiết lập các mối quan hệ riêng biệt, dễ bị ngƣời khác kích động, dụ dỗ,
lôi kéo vào việc thực hiện những hành vi trái pháp luật.
1
Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam luôn coi ngƣời chƣa thành niên, đặc biệt
Trƣớc tình hình tội phạm chƣa thành niên ngày càng gia tăng về số
lƣợng và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi nhƣ hiện nay, có nhiều ý
kiến khác nhau về việc có nên tăng hình phạt, giảm độ tuổi ngƣời chƣa thành
niên phải chịu trách nhiệm hình sự, hay đẩy mạnh áp dụng đồng bộ các biện
pháp phòng ngừa nhằm ngăn ngừa ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Theo ý
kiến của ông Đinh Văn Quế (Thẩm phán, Chánh toà Toà Hình sự, Toà án
nhân dân tối cao) tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII cho rằng: “Nếu sửa
luật để trừng trị người phạm tội tham nhũng thì đây là yêu cầu cấp thiết
nhưng nếu sửa luật để có chế tài nặng hơn đối với người chưa thành niên
phạm tội thì đây lại là quan điểm nóng vội” Nhƣ vậy có thể thấy rằng trên
tinh thần của Công ƣớc Liên Hợp quốc về quyền trẻ em là trẻ em không đƣợc
cách ly khỏi gia đình, trừ khi gia đình “có vấn đề”, biện pháp tƣ pháp giáo dục
tại xã, phƣờng, thị trấn cần phải ƣu tiên áp dụng đối với ngƣời chƣa thành
niên phạm tội nhằm đảm bảo tốt nhất lợi ích cho các em.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật, biện pháp tƣ pháp này
còn tồn tại một số điểm hạn chế nhƣ hiệu quả áp dụng của biện pháp không
cao, cơ chế phân công, theo dõi không chặt chẽ, phạm vi áp dụng còn hạn
chế. Xuất phát từ những điểm hạn chế trên cho thấy cần phải nâng cao hiệu
quả áp dụng của biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với
ngƣời chƣa thành niên phạm tội.
Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định của luật hình Việt Nam về biện
pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên
phạm tội là rất cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống
tội phạm. Vì những lý do đó nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp tư pháp
giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội
trong Luật hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ
Luật học của mình.
3
4
(Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật số 4 năm 2004); “Vai trò của gia đình trong
việc thi hành các hình phạt không tước tự do và các biện pháp tư pháp” của
TS. Trần Quang Tiệp (Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật số 2 năm 2004); “Thực
trạng quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp: Thực tiễn áp
dụng và một số đề xuất” của TS. Trƣơng Quang Vinh (Tạp chí Nhà nƣớc và
pháp luật số 2 năm 2010).
Tuy nhiên, hiện nay trong khoa học luật hình sự Việt Nam vẫn chƣa có
công trình nào đề cập riêng về vấn đề biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã,
phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Do đó việc lựa chọn,
phân tích các nội dung, điều kiện áp dụng của các quy định của pháp luật về
biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn sẽ chỉ rõ đƣợc những bất
cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật. Khi nghiên cứu đề tài này,
song song với việc phân tích các quy định của pháp luật về biện pháp tƣ pháp
giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên, luận văn còn
thông qua việc nghiên cứu, phân tích số liệu thống kê về việc áp dụng biện
pháp tƣ pháp này trong thời gian gần đây. Từ đó đƣa ra những kiến nghị khả
thi, tiến tới xây dựng một hệ thống chính sách hình sự đối với ngƣời chƣa
thành niên phạm tội và giải pháp hoàn thiện biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã,
phƣờng, thị trấn.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu “Biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị
trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam”
nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản
liên quan các quy định về biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn
đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Đồng thời phân tích quá trình phát
triển và nội dung quy định về biện pháp tƣ pháp này trong pháp luật hình sự
việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa
thành niên phạm tội khi BLHS 2015 đƣợc thông qua.
6
Về mặt thực tiễn:
+ Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp tƣ pháp giáo dục
tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong thời
điểm từ năm 2005 đến năm 2015 trên toàn quốc.
+ Nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân hạn chế của việc áp dụng biện
pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên
phạm tội, từ đó có những kiến giải đề xuất những định hƣớng, giải pháp hoàn
thiện quy định về biện pháp này trong luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu
quả áp dụng trong thực tiễn.
4. Phạm vi nghiên cứu
Dƣới góc độ chuyên ngành luật hình sự, trong luận văn này tôi chỉ đi
sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp tƣ pháp giáo dục tại
xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong pháp luật
hình sự Việt Nam cũng nhƣ nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung
quanh việc áp dụng quy định của biện pháp tƣ pháp này trong trong thực tiễn,
đồng thời tìm ra những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị
những giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng
trong thực tiễn trên cả nƣớc.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng biện pháp tƣ pháp
giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trên
cả nƣớc từ năm 2005 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Để có đƣợc kết quả trình bày trong luận văn, tôi đã sử dụng các phƣơng
pháp sau:
pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên
phạm tội trong thời gian qua, những tồn tại, hạn chế của thực tiễn pháp luật và
thực tiễn thực hiện cũng nhƣ nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế đó. Từ đó
đƣa ra giải pháp kiến nghị cho việc hoàn thiện quy định đối với việc xử lý
ngƣời chƣa thành niên phạm tội nhằm tăng cƣờng, nâng cao hiệu quả công tác
8
đấu tranh phòng chống tội phạm cũng nhƣ công tác giáo dục cải tạo ngƣời
chƣa thành niên phạm tội ở nƣớc ta hiện nay.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập
trong các cơ sở đào tạo, trong hoạt động của các cơ quan hữu quan trong việc
áp dụng biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời
chƣa thành niên phạm tội. Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp
các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy
định của pháp luật hình sự về biện pháp tƣ pháp này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liêu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề về lý luận về biện pháp tƣ pháp giáo dục tại
xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội.
Chương 2: Thực trạng các quy định về biện pháp tƣ pháp giáo dục tại
xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong Luật hình
sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời
chƣa thành niên phạm tội.
9
nhiều trong BLHS và BLTTHS. Cả hai văn bản này đều có những chƣơng
riêng quy định về ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, cho đến nay
vẫn chƣa có một định nghĩa chính thức về ngƣời chƣa thành niên phạm tội.
Điều 8 BLHS 1999 quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định
trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã
hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa [32, Điều 8].
Điều 12 BLHS 1999 quy định:
Ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về
mọi tội phạm. Ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên, nhƣng chƣa đủ 16 tuổi
phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [32, Điều 12].
Nhƣ vậy chỉ những ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện những hành vi
nguy hiểm cho xã hội quy định tại Điều 8 BLHS 1999 thì mới có thể bị truy cứu
trách nhiệm hình sự. Theo GS.TSKH Lê Cảm và TS. Đỗ Thị Phƣợng thì ngƣời
chƣa thành niên phạm tội đƣợc hiểu là: “Người chưa thành niên phạm tội là
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy
đủ do hạn chế bởi các đặc điểm tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong
việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” [5, tr. 9]. Theo
đó, các tác giả đã chỉ ra năm dấu hiệu cơ bản về ngƣời chƣa thành niên phạm
tội dƣới khía cạnh pháp lý hình sự là:
12
khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự quy định và đƣợc các
cơ quan tƣ pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố
tụng hình sự tƣơng ứng cụ thể áp dụng đối với ngƣời phạm tội
nhằm hạn chế quyền, tự do của ngƣời đó hoặc hỗ trợ hay thay
thế hình phạt [4, tr. 679].
Theo đó, các biện pháp cƣỡng chế về hình sự khác (ít nghiêm khắc
hơn hình phạt) bao gồm: a) Các biện pháo tƣ pháp chung (các Điều 41-44);
b) Miễn hình phạt (Điều 54) và Các biện pháp tƣ pháp có tính chất giáo dục
đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội - các biện pháp thay thế hình phạt
(Điều 70) [4, tr. 615].
Dựa trên nguyên tắc việc xử lý ngƣời chƣa thành niên pha ̣m tô ̣i
“chủ
yếu nhằm giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc
sống xã hội, giúp đỡ họ có điều kiện sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh
và trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội” [45, tr. 3]. Do vậy,
đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội , Toà án ƣu tiên quyết định áp dụng
một trong các biê ̣n pháp tƣ pháp có tính giáo dục , phòng ngừa, trƣ̀ trƣờng hơ ̣p
viê ̣c áp du ̣ng các hình pha ̣t khác có lơ ̣i hơn cho ho ̣.
Từ khái niệm khoa học trên, ta có thể hiểu khái niệm biện pháp tƣ
pháp áp dụng đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội nhƣ sau: “Biện pháp
tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là biện pháp cưỡng
chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn hình phạt của Nhà nước áp dụng đối với
người chưa thành niên phạm tội, được Tòa án ưu tiên áp dụng khi xét xử nếu
thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt mà vẫn đạt được mục đích giáo
phạm, là quá trình hình thành những cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm
tin, lý tƣởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói
quen cƣ xử đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thể lực.
Nói cách khác đây hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự
14
phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng nào đó, làm cho đối tƣợng ấy
dần dần có đƣợc những phẩm chất và năng lực nhƣ yêu cầu đề ra.
Thông qua các quy định của pháp luật cũng nhƣ thực tiễn áp dụng
biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn đối với ngƣời chƣa thành
niên phạm tội những năm trƣớc đây, ta có thể nhận thấy biện pháp này dựa
trên tinh thần giáo dục và cảm hóa. Để thực hiện biện pháp này những ngƣời
có trách nhiệm giáo dục, giám sát trƣớc tiên tác động về mặt tình cảm, chủ
động gặp gỡ những đối tƣợng bị áp dụng biện pháp này để tìm hiểu nguyên
nhân, hoàn cảnh, động cơ dẫn đến vi phạm pháp luật của các em, từ đó nắm
bắt đƣợc tâm tƣ, nguyện vọng để có thể tiếp cận, hƣớng dẫn các em theo
hƣớng phù hợp nhất. Sau đó là tác động đến mặt nhận thức, phân tích giảng
giải các quy định của pháp luật cũng nhƣ đạo đức để các em thấy rõ đƣợc
hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để các em có thể tự sửa chữa sai lầm,
tránh thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về sau. Đồng thời phải đảm
bảo có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân đƣợc giao
nhiệm vụ giám sát với gia đình, nhà trƣờng, đoàn thanh niên và các tổ chức
có liên quan nơi ngƣời đƣợc giáo dục cƣ trú, học tập để quản lý, cùng giúp
đỡ ngƣời đƣợc giáo dục nhận thức đƣợc việc làm sai trái của mình để sửa
chữa sai lầm, giúp họ có sự tiến bộ trong quá trình chấp hành biện pháp giáo
dục tại xã, phƣờng, thị trấn nơi sinh sống. Những ngƣời có trách nhiệm phải
thƣờng xuyên theo dõi để có thể nắm bắt đƣợc tình hình, sự tiến bộ của các
đối tƣợng này cũng nhƣ biết đƣợc những khó khăn, vƣớng mắc mà ngƣời
tội có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường,
thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội là một trong các biện pháp
cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn hình phạt được quy định trong Bộ
luật hình sự, được Tòa án áp dụng trong giai đoạn xét xử trong thời hạn từ một
đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm
trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có môi trường sống thuận lợi đảm bảo cho
16
việc giúp các đối tượng tự nhận thức và sửa chữa được sai lầm đồng thời giám
sát, ngăn ngừa những hành vi vi phạm để phát triển lành mạnh, ổn định cuộc
sống tại nơi cư trú trên tinh thần không cách ly khỏi cộng đồng.
1.1.3. Các đặc điểm của biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường,
thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội
Với tính cách là một trong các biện pháp tƣ pháp áp dụng đối với ngƣời
chƣa thành niên của luật hình sự, biện pháp tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng,
thị trấn mang những đặc điểm chung của biện pháp tƣ pháp, cụ thể nhƣ sau:
- Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
nói chung và biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nói riêng là
biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn hình phạt của Nhà nước
được quy định trong BLHS.
Về bản chất thì việc áp dụng biện pháp tƣ pháp đối với ngƣời chƣa
thành niên phạm tội không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của ngƣời áp dụng
mà bị giới hạn bởi quy định của Nhà nƣớc về biện pháp tƣ pháp đƣợc thể hiện
trong BLHS. Nhà nƣớc quy định trong BLHS những biện pháp tƣ pháp nào
đƣợc áp dụng đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội, trình tự, thủ tục các
biện pháp đó. Theo đó cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào những quy
định trong BLHS để áp dụng đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong
những vụ án hình sự cụ thể.
phạm tội chỉ do Tòa án áp dụng trong giai đoạn xét xử.
- Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
nói chung và biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nói riêng
nhằm thay thế hình phạt.
Khi xét thấy việc áp dụng hình phạt đối với ngƣời chƣa thành niên là
không cần thiết, Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, nhân thân của ngƣời chƣa thành niên để áp dụng các
biện pháp tƣ pháp mà vẫn đảm bảo đƣợc mục đích giáo dục, cải tạo và phòng
18