I. KHÁI NIỆM VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN.
1. Người chưa thành niên
Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân
cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Pháp luật ở mỗi quốc gia
quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người
dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên
sớm hơn”.
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến
Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật
Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm
pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành
niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành
niên trong từng lĩnh vực cụ thể.
Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em. Theo Điều 1 Luật
Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16
tuổi”.
Như vậy, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển
về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong
các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo đó, người ta quy định những quyền và
nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên.
Tóm lại, có thể khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa
phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ
pháp lý như người đã thành niên.
2. Đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên
Thực tế cho thấy, lối sống, đạo đức và nhân cách của mỗi người được hình thành
từ tuổi ấu thơ và định hình rõ nét từ tuổi vị thành niên. Tuổi vị thành niên hàm chứa trong
mình nó rất nhiều những yếu tố vừa ghi nhận, vừa loại bỏ, vừa định dạng vừa biến động
trong nhận thức, tâm lý, tình cảm, suy nghĩ của con người trong giai đoạn này rồi trở
thể dễ dàng từ bỏ những tệ nạn này.
II. BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM
TỘI.
1. Khái niệm và các đặc điểm của biện pháp tư pháp đối với người chưa thành
niên phạm tội
1.1. Khái niệm biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội
Hiện nay chưa có một khái niệm chính thức nào định nghĩa về biện pháp tư pháp.
Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội, biện pháp tư
pháp được hiểu là "các biện pháp hình sự được Bộ luật Hình sự quy định, do các cơ quan
tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc
thay thế hình phạt".
Theo TSKH. GS Lê Cảm, biện pháp tư pháp được hiểu đầy đủ hơn, đó là: "Biện pháp
cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự
quy định và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng
hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của
người đó hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt". Như vậy, qua khái niệm trên có thể
hiểu một cách tương đối cụ thể về biện pháp tư pháp với những dấu hiệu sau:
1. Đây là biện pháp thể hiện trách nhiệm hình sự của một cá nhân khi người đó có
hành vi phạm tội.
2. Là một chế tài ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do pháp luật hình sự quy định;
là kết quả của sự phân hóa trách nhiệm hình sự nhìn từ góc độ hình phạt.
3. Có thể được áp dụng trong những giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau.
4. Là biện pháp mang tính thay thế hoặc hỗ trợ cho hình phạt.
Từ khái niệm khoa học trên về biện pháp tư pháp, ta có thể hiểu một cách đơn giản
biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội như sau: "Biện pháp tư pháp
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là biện pháp cưỡng chế về hình sự của
Nhà nước áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, ít nghiêm khắc hơn hình
phạt, được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng nhằm hỗ trợ hay thay thế cho
hình phạt".
1.2. Đặc điểm của biện pháp tư pháp
+ Nguyên tắc thứ ba, việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên
phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết
và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và
yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
+ Nguyên tắc thứ tư, ưu tiên áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị
trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng thay thế cho hình phạt trong trường hợp không cần
thiết
+ Nguyên tắc thứ năm là Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người
chưa thành niên phạm tội.
Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng
hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được
hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội
+ Nguyên tắc cuối cùng, án đã tuyên đối với người chưa thành niên khi chưa đủ 16
tuổi, thì không để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. người chưa thành niên
phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên.
2. Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên quy định trong
BLHS 1999.
Theo quy định Bộ luật Hình sự 1999, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa
thành niên bao gồm:
+ Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
+ Đưa vào trường giáo dưỡng.
Bên cạnh đó, trong một số trường hợp nếu không trái với quy định tại Chương X Bộ
luật Hình sự 1999, người chưa thành niên phạm tội còn có thể bị áp dụng các biện pháp
tư pháp quy định tại phần chung của Bộ luật.
2.1. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tư pháp áp dụng đối với
người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng trong thời gian từ
làm ăn lương thiện và tham gia chung của cộng đồng dân cư nơi mình cư trú.
Ngoài ra, người chưa thành niên còn có nghĩa vụ:
- Làm bản tự kiểm điểm về quá trình rèn luyện, tu dưỡng của mình gửi Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc người đứng đầu tổ chức được giao giám sát, giáo
dục khi đã chấp hành một phần hai thời gian thử thách;
- Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với người được giao giám sát, giáo dục về
kết quả rèn luyện, tu dưỡng của mình, trong trường hợp đi khỏi nơi cư trú trên 30 ngày,
thì báo cáo và trong thời gian tạm trú phải có nhận xét của cảnh sát khu vực hoặc công an
xã nơi người chưa thành niên phạm tội đến cư trú".
2.2. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên phạm
tội (sau đây gọi tắt là biện pháp giáo dưỡng) được quy định trong Bộ luật hình sự, là biện
pháp do Tòa án quyết định, áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới
18 tuổi phạm tội, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ, nhưng do
tính chất của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần
phải đưa người đó vào trường giáo dưỡng.
So với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì biện pháp giáo dưỡng nghiêm
khắc hơn. Tính nghiêm khắc của biện pháp này thể hiện ở chỗ người chưa thành niên
phạm tội khi chấp hành biện pháp này sẽ bị cách ly khỏi môi trường xã hội trong một thời
hạn nhất định để vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ. Biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng nhằm giúp các em phạm tội có môi trường tốt hơn để khắc phục những sai
lầm của mình, tách họ khỏi những điều kiện xấu tác động đến việc phạm tội của họ.
Biện pháp giáo dưỡng được áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi. Biện pháp giáo dưỡng có tính nghiêm khắc hơn so với biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn nên áp dụng khi tội phạm mang tính nguy hiểm hơn vì người từ
đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
Để áp dụng biện pháp giáo dưỡng, ngày 23/8/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 52/2001/NĐ-CP hướng dẫn thi hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Theo đó, người chưa thành niên đang chấp hành biện pháp giáo dưỡng (sau đây gọi là
Biện pháp buộc người phạm tội công khai xin lỗi người bị hại được áp dụng trên cơ
sở tự nguyện của người phạm tội và sự đồng ý của người bị hại.
3.2. Biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp được bộ luật Hình sự quy định, do Tòa án
hoặc Viện kiểm sát áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong
khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình.
Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng tùy trong trường hợp khác nhau:
+ Trong trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang
mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình, thì tùy từng giai đoạn Tòa án, Viện Kiểm sát nhân dân căn cứ
theo giám định pháp y để đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa chữa bệnh bắt buộc hoặc
giao cho gia đình, người quản lý trong nom, giám sát dưới sự quản lý của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền. Trường hợp này người phạm tội không phải chịu TNHS.
+ Trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi có năng lực TNHS,
nhưng khi kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của hội đồng giám định, Tòa án ra quyết định
đưa họ đi điều trị bệnh. Sau khi khỏi bệnh người đó có thể phải chịu TNHS.
+ Trường hợp cuối là người đang chấp hành hình phạt bị mắc bênh tới mức mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, căn cứ vào kết quả giám định pháp y,
Tòa án ra quyết định đưa họ vào một cơ sở chữa trị. Sau khi khỏi bệnh, người này phải
tiếp tục chấp hành hình phạt nếu không có lý do miễn chấp hành hình phạt.
III. BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM
HÀNH CHÍNH.
1. Một số khái niệm về vi phạm hành chính.
- Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy
định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình
thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính:
Là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan
trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm
trọng do người chưa thành niên thực hiện, với lỗi cố ý.
Hình thức này có thể là hình thức phạt chính nếu được áp dụng độc lập, hình thức này
cũng có thể là hình thức phạt bổ sung nếu áp dụng kèm theo hình thức phạt chính.
b. Các biện pháp khắc phục hậu quả
- Buộc khôi phục lại hiện trạng ban đầu: Người chưa thành niên vi phạm hành chính
phải khôi phục lại hiện trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính của mình gây
ra, nếu họ không thực hiện thì sẽ bị cưỡng chế thực hiện; nếu họ không có khả năng thực
hiện thì cha mẹ hoặc người giám hộ thực hiện thay, hoặc bị cưỡng chế thực hiện.
- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch
bệnh: Người chưa thành niên vi phạm hành chính phải thực hiện biện pháp để khắc phục
tình trạng ô nhiễm môi trường lây lan dịch bệnh; nếu người chưa thành niên vi phạm
hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện, nếu họ không có khả
năng thực hiện thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay hoặc bị cưỡng chế
thực hiện.
- Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây
trồng và môi trường; văn hóa phẩm độc hại: Người chưa thành niên vi phạm hành chính
phải tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và
môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu
hủy theo quy định của pháp luật. Nếu người chưa thành niên không tự nguyện thực hiện
thì bị cưỡng chế thực hiện; nếu họ không có khả năng thực hiện thì cha mẹ hoặc người
giám hộ phải thực hiện thay hoặc bị cưỡng chế thực hiện.
- Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hoặc
buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái
với quy định của pháp luật: Người chưa thành niên vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp
pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ vi phạm hành chính mà người chưa
thành niên đó đã thực hiện để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng
bị chiếm đoạt; phải nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành
- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 2 lần trở lên trong 6 tháng thực hiện hành vi
trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng. Thời hạn áp dụng biện pháp này từ 6 tháng đến 24 tháng.
3. Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
được thực hiện khi có đủ điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Bao gồm biện
pháp nhắc nhở và quản lý tại gia đình.
a. Biện pháp nhắc nhở
Nhắc nhở là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính để chỉ ra những vi phạm
hành chính do người chưa thành niên thực hiện, được thực hiện đối với người chưa thành
niên vi phạm hành chính mà theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành
chính khi có đủ các điều kiện sau:
- Vi phạm hành chính theo quy định bị phạt cảnh cáo;
- Người chưa thành niên vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật, hối lỗi về hành
vi vi phạm của mình.
Biện pháp nhắc nhở được thực hiện bằng lời nói, ngay tại chỗ, do người có thẩm
quyền xử phạt quyết định.
b. Biện pháp quản lý tại gia đình
Quản lý tại gia đình là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với
người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 2 lần trở lên trong 6 tháng có hành
vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách
dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có
dấu hiệu của một tội phạm rất
nghiêm trọng do cố ý quy định tại
Bộ luật hình sự .
- Người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có
dấu hiệu của một tội phạm nghiêm
trọng do cố ý quy định tại Bộ luật
hình sự.
- Người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi 2 lần trở lên trong 6
tháng có hành vi trộm cắp, lừa
đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công
cộng nhưng chưa đến mức truy
Loại tội
phạm áp
dụng
- Tội ít nghiêm trọng
- Hoặc tội nghiêm trọng
cứu trách nhiệm hình sự.
Thẩm
quyền
quyết
định áp
dụng
- Tòa án
- Chủ tịch UBND cấp xã
Thời hạn
áp dụng
- Từ một năm đến hai năm - Từ 3 tháng đến 6 tháng.
định tại bộ luật hình sự mà trước đó đã
bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18
tuổi 2 lần trở lên trong 6 tháng thực hiện
hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây
rối trật tự công cộng mà chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó
đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn.
Thẩm
quyền áp
dụng
- Tòa án - Tòa án nhân dân cấp huyện
Thời hạn
áp dụng
- Từ một năm đến hai năm - Từ 6 tháng đến 24 tháng