CÂU hỏi ôn tập và gợi ý TRẢ lời môn QUẢN lý HÀNH CHÍNH NHÀ nước và NGÀNH GIÁO dục và đào tạo - Pdf 30

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI
MÔN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
VÀ NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MÃ SỐ: 0991050
PHẦN 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC, QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC VÀ CÔNG VỤ CÔNG CHỨC
Câu 1: Bản chất nhà nước là gì? Trình bày bản chất của nhà nước
CHXHCNVN. Các đặc trưng của nhà nước là gì ?
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp,
một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý
đặc biệt để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, duy trì trật tự xã hội và phục vụ
những nhu cầu thiết yếu cảu đời sống cộng đồng.
Bản chất của nhà nước thể hiện ở 2 tính chất:
1.Tính giai cấp
Tính giai cấp của nhà nước thể hiện ở những đặc trưng sau:
-NN là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp cầm quyền.
-NN là công cụ để thực hiện, củng cố, bảo vệ lợi ích và quyền thống trị của giai cấp
thống trị trong xã hội.
2.Tính xã hội
- NN phải dung hoà lợi ích của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội nhằm bảo vệ lợi
ích chung của cả cộng đồng.
- NN đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược phát triển của đất nước
trong từng giai đoạn và tổ chức thực hiện.
- NN giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
- NN giữ gìn và phát triển những tài sản văn hoá tinh thần chung của xã hội, những
giá trị đạo đức, truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc.
BẢN CHẤT CỦA NN CHXHCNVN
-NN CHXHCNVN là NN dân chủ thực sự và rộng rãi
-NN ta là NN thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ VN
-NN CHXHCNVN là NN pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì

+ Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội : Thông qua các hoạt động của
các tổ chức xã hội, vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân lao động được phát huy.
Ðây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa đối với việc bảo đảm dân chủ và mở
rộng nền dân chủ ở nước ta.
+ Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sởnhư hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ
sinh môi trường.
+ Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân là một hình thức có ý
nghĩa quan trọng để nhân dân lao động phát huy vai trò làm chủ của mình.
2.Nguyên tắc nhà nước CHXHCN VN chịu sự lãnh đạo của Đảng CSVN.
-Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết thông qua việc xây dựng và hoàn chỉnh cương
lĩnh, chiến lược, định ra các chủ trương, chính sách cho hoạt động của nhà nước và
toàn xã hội.
-Văn kiện Đại hội cũng nêu rõ: “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay
Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước
trong quản lý đất nước và xã hội”.
-Ðảng lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Ðảng. Từ đó, khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực
trong công tác lãnh đạo.
-Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân. Sự lãnh đạo của Ðảng là cơ
sởbảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, lôi cuốn nhân
dân lao động tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước.
-Đường lối, chính sách của Ðảng không được dùng thay cho luật hành chính, Ðảng
không nên và không thể làm thay cho cơ quan hành chính nhà nước. Các nghị
quyết của Ðảng không mang tính quyền lực- pháp lý. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu
quả hoạt động quản lý nhà nước không thể tách rời sự lãnh đạo của Ðảng.
3.Nguyên tắc tập trung dân chủ
-Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân
chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo mở rộng
dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.
-Tuy nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với

phương tiện và công cụ để duy trì trật tự xã hội ổn định.
+ Nhà nước là đại diện chính thức cho mọi giai cấp và các tầng lớp nhân dân trong
xã hội
+ Nhà nước sử dụng pháp luật và thông qua pháp luật để quản lý xã hội, thực hiện
các chính sách của Đảng và Nhà nước.
+ Nhà nước là tổ chức chính trị mang chủ quyền quốc gia; là tổ chức duy nhất được
coi là chủ thể của công pháp quốc tế.
+ Nhà nước là chủ sở hữu đối với tư liệu sản xuất quan trọng của xã hội, thông qua
đó nhà nước điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.
+ Kể cả sự lãnh đạo của Đảng cũng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật do nhà
nước quy định.
+ Nhà nước là trung tâm hệ thống chính trị còn ĐCSVN là hạt nhân lãnh đạo hệ
thống chính trị.
Câu 4: Trình bày và giải thích các tính chất chủ yếu của nền hành chính nhà
nước CHXHCN Việt Nam?
1.Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị :
Hành chính phụ thuộc vào chính trị và phục vụ nhiệm vụ chính trị. Nhiệm vụ chính
trị là nhiệm vụ định hướng cho sự phát triển XH, đưa ra đường lối, chính sách.
Chính trị biểu hiện ý chí nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền. nhiệm vụ
hành chính là tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị.
2.Tính pháp luật:
Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước, hành chính nhà nước mang tính cưỡng
chế, yêu cầu mọi tổ chức XH, cơ quan nhà nước và công dân phải tuân thủ các
mệnh lệnh hành chính; thực thi theo pháp luật; đảm bảo và giữ vững kỷ cương, trật
tự XH.
3.Tính thường xuyên, ổn định và thích nghi;
Nền hành chính nhà nước lấy phục vụ công vụ và công dân là công việc hằng ngày
cho nên quản lý hành chính nhà nước phải đảm bảo tính liên tục để thỏa mãn nhu
cầu hằng ngày của nhân dân, của xã hội; và phải ổn định để đảm bảo hoạt động
không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống chính trị xã hội nào.

Câu 5: Giải thích một trong các nguyên tắc hoạt động của nền hành chính
VN?
Nền hành chính nước CHXHCN VN có các nguyên tắc sau:
-Dựa vào dân, do dân và vì dân.
-Quản lý theo pháp luật.
-Tập trung dân chủ.
-Kết hợp chế độ làm việc tập thể với chế độ một thủ trưởng.
-Kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ.
-Phân biệt quản lý nhà nước với quản lý kinh doanh.
-Phân biệt quản lý điều hành với quản lý tài phán.
-Nguyên tắc công khai, minh bạch
Câu 6: Nguyên tắc tập trung dân chủ là gì? Nguyên tắc tập trung dân chủ
được thể hiện như thế nào trong các hoạt động của các cơ quan quản lý hành
chính?
Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân
chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo mở rộng
dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.
Tập trung dân chủ là : nhà nước phải giữ quyền thống nhất quản lý những vấn đề
cơ bản ở cấp trung ương, đồng thời phải giao quyền hạn và trách nhiệm giải quyết
cho các địa phương, các ngành, tức là thực hiện phân cấp quản lý cho các cấp, các
ngành
Trên phương diện quản lý hành chính nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ được
biểu hiện cụ thể như sau:
- Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước
cùng cấp. Ðể thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, hệ thống cơ quan
hành chính nhà nước được thành lập và nó luôn có sự phụ thuộc vào các cơ quan
quyền lực nhà nước cùng cấp.
- Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa phương đối với trung ương.
Sự phục tùng ở đây là sự phục tùng mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của
pháp luật. Mặt khác, trung ương cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới, địa

Quy trình: Bao gồm 7 giai đoạn:
1.Lập kế hoạch: giai đoạn này bao gồm các công việc như xác định đối tượng, mục
tiêu, phương pháp, phương tiện thực hiện, thời gian dự kiến để hoàn thành công
việc.
2.Tổ chức bộ máy hành chính: xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có hiệu lực và hoạt động
hiệu quả, xác định quan hệ chỉ đạo và hợp tác phối hợp liên ngành, quản lý chặt chẽ
sự hoạt động của bộ máy.
3.Bố trí nhân sự: sắp xếp đội ngũ cán bộ công chức chịu trách nhiệm từng cộng
việc cụ thể. Xây dựng hệ thống đánh giá cán bộ để cất nhắc khen thưởng hoặc kỷ
luật.
4.Ra quyết định hành chính:từ việc phân tích và tổng hợp thông tin đề xuất các
phương án khác nhau và lựa chọn phương án tốt nhất. Thẩm định lại phương án và
ban hành văn bản hành chính.
5.Điều hòa, phối hợp: phân công nhiệm vụ của các đơn vị theo một cơ chế điều hòa
phối hợp có hiệu quả. Trên cơ sở đó, thực hiện chỉ đạo dọc, phối hợp ngang. Làm
sao cho hoạt động hành chính có thể thực hiện được.
6.Lập ngân sách: xây dựng và ra quyết định về ngân sách nhà nước từ các nguồn
ngân sách khác nhau: ngân sách nhà nước, vốn từ dân, vốn đầu tư nước ngoài.
7.Kiểm tra, tổng kết, đánh giá: kiểm tra định kỳ để chỉ đạo kịp thời. Tổng kết thực
tiễn để đánh giá hiệu quả thực hiện. Từ đó, rút ra bài học cho những văn bản hành
chính sau.
Câu 8: Ý nghĩa của nội dung quản lý nhà nước về các nguồn nhân lực? Ngành
GD-ĐT phải làm gì để thực hiện nội dung này?
Công nghiệp sản xuất hiện đại luôn đòi hỏi đội ngũ lao động phát huy cao độ trí tuệ
và óc sáng tạo. Điều đó phụ thuộc rất lớn vào cách thức và hình thức quản lý nguồn
nhân lực một cách có hiệu quả. Tổ chức lao động không tốt trước hết không phát
huy được trí tuệ của con người đã được đào tạo và thiếu sáng tạo.
Nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động có trí tuệ ngày càng có ý nghĩa quyết định đối
với sự phát triển sản xuất xã hội. Tuy nhiên lực lượng lao động có trí tuệ có được
đưa vào phát triển kinh tế xã hội hay không lại phụ thuộc rất lớn vào tổ chức quản

vực.
-Mở rộng các trường lớp dạy nghề, các trường cao đẳng, ĐH để đào tạo công nhân
lành nghề, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp giỏi.
Nhanh chóng xây dựng đội ngũ trí thức đồng bộ về các lĩnh vực khoa học và công
nghệ, quản lý kinh tế, qlý Xã hội…Đáp ứng sự nghiệp tiếp tục đổi mới đưa đất
nước vào giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa.
-Hoàn thiện và triển khai việc cải cách các chương trình giáo dục đào tạo.
Câu 9: Tại sao trong quản lý hành chính nhà nước có nội dung: quản lý hành
chính nhà nước và phát triển công nghệ tin học trong hoạt động quản lý hành
chính?
Trong vài năm gần đây, ứng dụng và phát triển CNTT đã có bước phát triển mạnh
mẻ, rộng khắp ở mọi ngành, mọi lĩnh vực từ trung ương đến các tỉnh, thành phố và
nhiều địa phương trong cả nước. Thực tế cho thấy, việc khai thác sử dụng thiết bị
CNTT, ứng dụng tin học vào thực tiễn đã đem lại hiệu quả rỏ rệt, cả trong hoạt
động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế xã hội. việc phát triển công nghệ thông
tin trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước đã đem lại nhiều hiệu quả thiết
thực sau:
-Nền tảng của tất cả các lĩnh vực đều dựa trên CNTT.
-Chính phủ ứng dụng CNTT và truyền thông để đổi mới tổ chức, đổi mới quy trình,
tạo ra một phương thức làm việc mới .Mở ra những kênh tương tác mới giữa chính
phủ và công dân, tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao tinh thần trách
nhiệm của các cấp quản lý.
-CNTT cho phép nhiều dữ liệu hơn được chia sẻ giữa các hệ thống thông tin khác
nhau, qua đó làm giảm lượng thời gian thu thập dữ liệu.
-Cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức
và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ và than gia
quản lý nhà nước, tăng cường tính dân chủ trong xã hội…
-Giải quyết và nâng cao hiệu lực của các công việc hành chính, tiết kiệm thời gian,
công sức, tiền bạc, nhân sự; giảm tham nhũng, tiêu cực, góp phần đẩy mạnh quá
trình cải cách hành chính tạo dựng và giữ gìn niềm tin của nhân dân với chính

tiên cho giáo dục, đầu tư cho giáo dục về cơ sở vật chất, về nhân lực.
Mọi người tham gia vào sự nghiệp giáo dục bằng cách tự mình xây dựng ý thức
học tập. nêu gương học tập phải trở thành truyền thống của mỗi gia đình, mỗi địa
phương và toàn dân tộc.
Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát
triển sự nghiệp giáo dục;
Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực
trong xã hội (kể cả từ nước ngoài ); phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
này.
Một trong những mục tiêu của giáo dục cho đến năm 2020 là xây dựng nền giáo
dục tạo cơ hội học tập cho người dân để có thể hòa nhập với nền giáo dục thế giới,
làm cơ sở đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Câu 2: Để thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng “Giáo dục là sự nghiệp của
Đảng, nhà nước và của toàn dân” cần có giải pháp cụ thể gì?
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD. Vì vậy, nhà nước có
trách nhiệm xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển GD-ĐT, có chính sách phát
huy hiệu quả đầu tư của nhà nước, huy động sự đóng góp của toàn xã hội và phát
huy tiềm lực sẵn có của ngành GD-ĐT.
Nhà nước cần có những chính sách ưu tiên cho giáo dục, đầu tư cho giáo dục về tài
chính, về cơ sở vật chất, về nhân lực; Thực hiện đa dạng hóa các loại hình nhà
trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ
chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.
Cần có sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong sự nghiệp “trồng
người”, không chỉ chú trọng đến giáo dục tri thức mà còn là giáo dục về đạo đức để
có thể xây dựng một xã hội học tập, thực hiện xã hội hóa giáo dục.
Lập ra các quỹ ngân sách như quỹ bảo trợ học đường, quỹ học bổng, quỹ khuyến
học để hỗ trợ cho nhưng học sinh có hoàn cảnh khó khăn, khuyết tật có điều kiện
học tập.
Mỗi gia đình cần quan tâm đến việc học tập của con em mình. Gia đình là nơi có
ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ. Vì vậy,các bậc

từ cao đẳng trở lên 6%, trung học chuyên nghiệp 8%, công nhân kỹ thuật 26%.
Thực hiện phổ cập trung học cơ sở trong cả nước. Cụ thể:
- Giáo dục mầm non: đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục
bằng những hình thức thích hợp. Tăng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ từ 12% năm
2000 lên 15% năm 2005 và 18% năm 2010. Đối với trẻ 3-5 tuổi tăng tỷ lệ đến
trường, lớp mẫu giáo từ 50% năm 2000 lên 58% vào năm 2005 và 67% vào năm
2010; riêng trẻ em 5 tuổi tăng tỷ lệ huy động đến mẫu giáo để chuẩn bị vào lớp 1 từ
81% năm 2000 lên 85% vào năm 2005 và 95% vào năm 2010. Giảm tỷ lệ suy dinh
dưỡng của trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non xuống dưới 20% vào năm 2005 ,
dưới 15% vào năm 2010.
- Giáo dục phổ thông: thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí , thể, mỹ. Cung cấp
học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các
nước phát triển trong khu vực. Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến
trường từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010.
- Trung học cơ sở: Cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau trung học cơ
sở , tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động. Đạt
chuẩn phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố , đô thị, vùng kinh tế phát triển vào
năm 2005, trong cả nước 2010. Tăng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi từ
74% năm 2000 lên 80% vào năm 2005 và 90% vào năm 2010.
- Trung học phổ thông: Tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào trung học phổ thông
từ 38% năm 2000 lên 45% vào năm 2005 và 50% vào năm 2010.
- Giáo dục nghề nghiệp: nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ
luật lao động và tác phong lao động hiện đại. Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, với
việc làm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.
- Trung học chuyên nghiệp: thu hút học sinh trong độ tuổi vào các trường trung học
chuyên nghiệp đạt 10% năm 2005, 15% năm 2010. Dạy nghề : thu hút học sinh sau
trung học cơ sở vào học các trường dạy nghề từ 6% năm 2000 lên 10% năm 2005,
15% năm 2010. Dạy nghề bậc cao: thu hút học sinh sau trung học phổ thông, trung
học chuyên nghiệp vào học các chương trình này đạt 5% năm 2005, 10% năm

sách giáo khoa. Mời người ngoài ngành giáo dục đến tham gia giảng dạy trong
trường, trong trung tâm.
-Đầu tư ngân sách về cơ sở vật chất để người học tiếp cận được với những cộng
nghệ mới. Đặc biệt là với các ngành kỹ thuật, cần đầu tư trang thiết bị máy móc
hiện đại, để kiến thức mà người học tiếp thu không bị lạc hậu.
-Cần quan tâm bồi dưỡng một lực lượng lao động lành nghề, những chuyên gia
khoa học- công nghệ có tài năng và những nhà quản lý giỏi. GD-ĐT kết hợp với
các doanh nghiệp, các cơ sở sử dụng lao độngnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
đào tạo và đồng thời tiếp cận với thực tiễn sản xuất kinh doanh.
-Các doanh nghiệp, các cơ sở SX, dịch vụ phải dành một phần kinh phí đầu tư đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân lực của mình và tham gia phát triển GD-ĐT trên địa
bàn.
-GD-ĐT cùng với các ngành cơ sở hạ tầng khác như điện lực, giao thông, cần phải
đi trước một bước trong các chương trình phát triển kinh tế-xã hội của các vùng,
các địa phương. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến miền núi và những vùng khó
khăn.
-Nhà nước có chính sách để người lao động được đào tạo khi ra trường có việc làm
phù hợp với trình độ và được trả công xứng đáng để tạo động lực cho sự phát triển
GD-ĐT.
Câu 5: Trình bày các giải pháp nhằm hạn chế yếu kém trong giáo dục về mất
cân đối trong đào tạo về trình độ, ngành nghề, vùng miền?
-Trường cần xây dựng cơ chế liên kết với tỉnh, thành phố để biết rõ nhu cầu thực tế
về trình độ, chuyên môn của người lao động trong tương lai của địa phương và có
kế hoạch đào tạo cho phù hợp.
-Bộ có chính sách hỗ trợ cho các trường có số sinh viên hưởng chế độ chính sách,
trợ cấp xã hội lớn; phân bổ chỉ tiêu sẽ theo hướng ưu tiên cho các ngành mới, các
trường thuộc khối nông lâm ngư, kỹ thuật, công nghệ thông tin; đặc biệt hạn chế tối
đa việc các trường đại học “lấn sân” đào tạo bậc cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp.
-Với các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, cần có chính sách đặc

biệt.
-Tổ chức, tạo điều kiện cho người dân và các tổ chức tham gia góp ý vào các quyết
sách liên quan đến giáo dục như chiến lược phát triển giáo dục đào tạo, chương
trình, sách giáo khoa, cải tiến thi cử…; khuyến khích người có trình độ tham gia
viết sách giáo khoa, tài liệu tập huấn, tham gia giảng dạy theo các hình thức chính
quy và không chính quy
-Người làm việc trong các cơ sở ngoài công lập, người có công với giáo dục dưới
nhiều hình thức khác nhau cũng được nhà nước xét tặng các huân huy chương và
danh hiệu các loại, được hưởng tiền thưởng từ ngân sách nhà nước.
-Nhà nước điều tiết ngân sách và điểm chuẩn thi tuyển theo hướng ưu tiên cho các
vùng khó khăn, vùng giáo dục kém phát triển, thành phần nghèo đi học, nâng cao
thêm tính bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục và dạy nghề ở các cấp học, bậc
học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status