Tóm tắt luận án tiến sĩ vốn xã hội với tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp (nghiên cứu trường hợp cựu sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia hà nội) của NCS phạm huy cường - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Phạm Huy Cường
VỐN XÃ HỘI VỚI TÌM KIẾM VIỆC LÀM
CỦA SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỰU SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)
Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC
Mã số: 62 31 30 01
DỰ THẢO TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2015
1
Công trình được hoàn thành tại:
Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Phản biện 1: ………………………………….
…………………………………
Phản biện 2: ………………………………….
…………………………………
Phản biện 3: ………………………………….
…………………………………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận
án tiến sĩ họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm 20…
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
2

Khách thể nghiên: Những sinh viên đã tốt nghiệp của Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Khung thời gian tiếp cận khách thể nghiên cứu được tiến
hành từ tháng 7/2013 đến tháng 9/2013 đối với điều tra bằng bảng hỏi; từ
tháng 11/2013 đến tháng 4/2014 đối với các phỏng vấn bán cấu trúc.
- Không gian: Do đặc điểm phân tán về địa bàn làm việc và cư trú của
sinh viên sau khi tốt nghiệp, hầu hết các cuộc tiếp cận thu thập thông tin được
tiến hành thông qua liên lạc bằng điện thoại và sự hỗ trợ của hệ thống thư
điện tử và mạng xã hội.
4. Ý nghĩa của luận án
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung thêm những bằng chứng
thực nghiệm góp phần phát triển thêm hai hệ thống lý thuyết lựa chọn hợp lý
và vốn xã hội.
- Tổng quan các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về chủ đề vốn xã
hội và vốn xã hội trong thị trường lao động có thể hữu ích cho những nghiên
cứu tiếp theo về chủ đề vốn xã hội và vốn xã hội trong thị trường lao động.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Bổ sung nhận thức về nguồn vốn xã hội trong thị trường lao động nói
chung và vai trò của nó với nhóm lực lượng lao động là sinh viên tốt nghiêp
nói riêng.
- Một số gợi ý chính sách.
4
5. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Sinh viên tốt nghiệp nhận thức như thế nào về vốn xã hội đối với họ và
đã tích luỹ và vận dụng vốn xã hội ra sao trong quá trình tìm kiếm việc làm?
- Sử dụng vốn xã xã hội có tác động gì đến các quả tìm kiếm việc làm
của sinh viên tốt nghiệp?

vận dụng hệ thống luận điểm này vào nghiên cứu nhận thức, cải biến thực
tiễn đời sống xã hội đã khẳng định vốn xã hội là một khái niệm khoa học
thực thụ.
- Trên thực tế, khái niệm vốn xã hội ra đời chỉ là sự định danh cho một
hiện tượng đã tồn tại từ lâu trong đời sống cộng đồng loài người [Harpel,
2005, tr.3-5].Tuy nhiên, xu hướng nghiên cứu mang tính học thuật về khái
niệm này được ghi dấu vào cuối những năm 1980 bởi các nhà xã hội học tiêu
biểu: Pierre Bourdieu và James Coleman [Harpel, 2005, tr.6]. Từ những năm
90 trở lại đây vốn xã hội trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên
cứu ở nhiều quốc gia. Có thể nhắc tới các học giả tiêu biểu đã nghiên cứu và
có những đóng góp cụ thể ở góc độ lý luận cũng như thực nghiệm về vốn xã
hội như: Fukuyama, Lin, Portes, Putnam, Burt, Halpern…
- Cũng giống như sự phát triển lý thuyết về vốn xã hội trên thế giới,
trước khi khái niệm vốn xã hội được các học giả du nhập và giới thiệu ở Việt
Nam, những biểu hiện của vốn xã hội cũng đã được nhắc đến dưới những lớp
vỏ khái niệm khác phản ánh lợi ích từ các mối quan hệ liên cá nhân trong đời
sống. Các nhà xã hội học là những người đi đầu giới thiệu khái niệm vốn xã
hội, trước hết, trong cộng đồng học thuật Việt Nam vào cuối những năm
1990 và đầu những năm 2000.
- Các học giả trong nước nghiên cứu về vốn xã hội ở nhiều góc độ, cấp
độ khác nhau: Nguyễn Quang A, Nguyễn Tuấn Anh, Phan Đình Diệu, Trần
7
Hữu Dũng, Phạm Như Hổ, Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Vạn Phú, Trần Hữu
Quang, Nguyễn Quý Thanh, Hoàng Bá Thịnh, Lê Minh Tiến…
1.2. Nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động
- Nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động trên thế giới phát
triển từ những năm 80. Tiêu biểu là nghiên cứu của Granovetter về vai trò
của mạng quan hệ xã hội và tìm kiếm việc làm (1974, 1995). Ba giả thuyết cơ
bản của ông đã bắt đầu cho các nghiên cứu kế thừa cũng như phản biện của
các học giả trên thế giới góp phần quan trọng định hình những nhận thức

bổ sung nguồn nhân lực hiệu quả đối với những người thuê nhân công. Luận
điểm này được hầu hết các học giả chia sẻ cũng như được khẳng định bằng
các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong thực tiễn[Try, 2005], [Granovetter,
1995].
- Bên cạnh chức năng thông tin, các mối quan hệ xã hội còn mang lại sự
hỗ trợ, thúc đẩy quá trình các cá nhân đạt được công việc.
1.2.3. Tác động của vốn xã hội đến kết quả tìm kiếm việc làm
- Các tranh luận giữa các học giả khi nghiên cứu về vốn xã hội trong thị
trường lao động chủ yếu xoay quanh tác động của nó đến kết quả tìm kiếm,
thể hiện ở các đặc điểm: chi phí tìm kiếm, thời gian tìm kiếm, mức lương, sự
phù hợp với chuyên môn được đào tạo…
- Có ba xu hướng quan điểm chủ đạo: (1) Cho rằng vốn xã hội có tác
động tích cực đến khía cạnh kinh tế của công việc (Granovetter và những
người ủng hộ ông: Corcoran (1980), Staiger (1990), Wegener (1991),
Coverhill (1994), Jann (2003), 1995, tr.354]. (2) Phủ nhận tác động tích cực
của vốn xã hội đến khía cạnh kinh tế của công việc [Lin, 2001], [Mouw,
2003]. (3) Lý giải các mâu thuẫn giữa (1) và (2) và đưa ra các hướng tiếp cận
9
theo xu hướng đa chiều hơn: Tác động của vốn xã hội đến cách khía cạnh phi
kinh tế của công việc [Franzen, 2006], mối liên hệ giữa vốn xã hội và các
dạng vốn khác [Montgomery, 1992]…
1.2.4. Gợi mở từ “sức mạnh của các liên kết yếu”
- Luận điểm của Granovetter về “sức mạnh của các liên kết yếu” gợi mở
các hướng nghiên cứu sâu sắc hơn về vốn xã hội. Các dạng vốn xã hội, ở
từng thời điểm trong sự nghiệp của cá nhân, trong các bối cảnh kinh tế, văn
hóa, chính trị, xã hội khác nhau có tác động thay đổi như thế nào đến công
việc của các cá nhân.
1.3. Các định hướng tiếp tục nghiên cứu
- Tiếp tục bổ sung các bằng chứng thực nghiệm nhận thức về vốn xã hội
trong thị trường lao động trong nước thông qua trường hợp tìm kiếm việc làm

2.2. Các lý thuyết vận dụng trong luận án
2.2.1. Lý thuyết lựa chọn hợplý
- Luận đề trung tâm của thuyết lựa chọn hợp lý là “các tác viên cá thể và
tập thể suy tính đến ý thích (preferences) của mình và các điều kiện khách
quan và sẽ hành xử để tối đa hóa ích lợi (utility) hoặc lợi thế (advantage) của
họ."[Smelser, 1997 tr.1].
11
- Hành vi lựa chọn hợp lý trong trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh
viên sau khi tốt nghiệp được xem như một quá trình tích lũy, cân nhắc và ra
quyết định của mỗi cá nhân nhằm đạt được công việc phù hợp nhất với tiêu
chí và theo cách cá nhân mong đợi.
2.2.2. Lý thuyết về vốn xã hội
2.2.2.1. Các tác giả quan trọng
Bourdieu (1986), Coleman (1988), Fukuyama (2001), Putnam (1995,
2000), Lin (2001) và Portes (1996)là những học giả quan trọng (key
aouthors) có những đóng góp mang ý nghĩa nền tảng đối với hệ thống lý
thuyết về vốn xã hội. Mỗi học giả tiếp cận vốn xã hội ở một chiều cạnh khác
nhau.
2.2.2.2. Sự thống nhất và khác biệt trong các luận điểm về vốn xã hội
- Sự thống nhất: (1) Vốn xã hội gắn liền với các mạng lưới xã hội;
(2)Vốn xã hội được xem như một nguồn lực (resource): (3)Vốn xã hội gắn
liền với hai yếu tố: lòng tin (trust) và sự có đi có lại (reciprocity); (4) Có thể
đầu tư tích luỹ vốn xã hội; (5) Có thể khai thác, sử dụng vốn xã hội để tìm
kiếm lợi ích; (6) Có sự chuyển đổi giữa vốn xã hội và các dạng vốn khác.
- Sự khác biệt:(1) Mỗi tác giả định nghĩa khác nhau về vốn xã hội; (2)
Mỗi tác giả tiếp cận vốn xã hội ở cấp độ và quy mô khác nhau; (3) Quan
điểm khác nhau vè vốn là hàng hóa công, hàng hóa tư, vừa là hàng hóa công
vừa là hàng hóa tư.
2.2.2.3. Vận dụng các quan điểm lý thuyết về vốn xã hội trong luận
án

phân tầng tỉ lệ
13
- Xử lý số liệu: Các số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS.
Bên cạnh các phân tích thống kê mô tả dạng tần suất và tỉ lệ, để kiểm định
mối liên hệ và tác động giữa các biến số các kiểm định Chi - bình phương ()
và các tính toán đại lượng thống kê Cramer’V và Gamma; giải pháp kiểm
định giả thuyết về sự bằng nhau giữa trunh bình hai tổng thể (Independent-
sample T-test); tương quan hạng Spearman; mô hình hồi quy tuyến tính bội
và hồi quy Binary Logistic.
2.5.4. Phân tích số liệu thứ cấp
- Số liệu thư cấp: Khảo sát thông tin cựu sinh viên tốt nghiệp các năm
2008 đến 2010 của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội.
14
Chương 3: THỰC TRẠNG VIỆC LÀMVÀ THỰC TẾ VỐN XÃ
HỘICỦA SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP
3.1. Thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
- Trong vòng 1 đến 2 năm sau khi tốt nghiệp đa số sinh viên đã tìm được
việc làm (90,2%). Sinh viên tốt nghiệp có nhiều kinh nghiệm làm việc, các
ngành khoa học ứng dụng, có thời gian tốt nghiệp ra trường dài hơn có tỉ lệ
tìm được một công việc cao hơn các nhóm còn lại.
3.1.1. Thời gian tìm kiếm việc làm
- 41,0% sinh viên tốt nghiệp có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp; trong
khoảng thời gian từ 1 đến 6 tháng tiếp theo, 48,8% sinh viên tốt nghiệp còn lại
tìm kiếm được việc làm. Sinh viên từng làm thêm công việc đúng chuyên môn
ở đại học, tốt nghiệp các ngành khoa học ứng dụng tìm được việc làm sớm
hơn.
3.1.2. Khu vực làm việc
- Sinh viên tốt nghiệp hiện đang làm việc chủ yếu thuộc hai khu vực:
Nhà nước và tư nhân.Những sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học cơ

các vấn đề trong cuộc sống[Nguyễn Quý Thanh, 2006, tr.36-37]. Trung bình
số đầu mối quan hệ trong mạng của sinh viên tốt nghiệp có khoảng 8 thành
viên (8,44, bao gồm các thành viên trong gia đình, nhóm bạn, thành viên
cùng tham gia tổ chức xã hội) có thể sẵn sàng hỗ trợ sinh viên giải quyết các
vấn đề của họ, trong đó có mục tiêu tìm kiếm một công việc. So với quy mô
trung bình mạng quan hệ xã hội của người Việt là 5,9, tức là mỗi người Việt
có khoảng 6 người bạn được coi là thân [Nguyễn Quý Thanh, 2006, tr.37] là
phong phú hơn.
16
3.2.2.1.Các mối quan hệ trong gia đình
- Các mối quan hệ trong gia có vai trò hỗ trợ các nguồn lực có ý nghĩa
quyết định đến sự thành công trong tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt
nghiệp.Những sinh viên có cha đạt trình độ học vấn cao hơn, tốt nghiệp các
ngành khoa học cơ bản, xuất thân từ khu vực đô thị có quy mô mạng quan hệ
trong ra đình rộng hơn.
3.2.2.2. Các mối quan hệ trong nhóm bạn bè
- Thành viên trong nhóm bạn chiếm tỉ trọng lớn nhất cấu thành quy mô
mạng quan hệ của sinh viên tốt nghiệp.Những sinh viên có cha với trình độ
học vấn cao, đạt kết quả học tập giỏi và tích cực tham gia các tổ chức xã hội
có mạng quan hệ bạn bè rộng hơn.
3.2.2.3. Các mối quan hệ thành viên trong các tổ chức xã hội
- Sau khi tốt nghiệp sinh viên tham gia rất ít các tổ chức xã hội, 78,0%
sinh viên tốt nghiệp chỉ tham gia 01 tổ chức xã hội, thâm chí có thiểu số các
trường hợp không tham gia vào bất kỳ tổ chức xã hội nào.
3.2.3. Các nguồn lựccó thể huy động từmạng quan hệ xã hội của sinh
viên tốt nghiệp
3.2.3.1. Nguồn lực thông tin
- Một trong những nguồn lực quan trọng đối với quá trình tìm kiếm việc
làm của sinh viên tốt nghiệp là thông tin về các công việc. Mạng quan hệ xã
hội là kênh mang lại nguồn thông tin phong phú và hữu ích bên cạnh các kênh

học vấn cao hơn, sinh viên tốt nghiêp các ngành khoa học cơ bản, sinh viên
không có kinh nghiệm làm các công việc chuyên môn có xu hướng tìm kiếm
và nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn từ các thành viên trong mạng quan hệ cao
hơn.
- Sinh viên tốt nghiệp càng tích luỹ được nhiều mối quan hệ trong mạng
lưới càng nhận được nhiều hơn sự hỗ trợ từ các mối quan hệ xã hội trong tìm
kiếm việc làm.
- Sinh viên tốt nghiệp có thể khai thác một cách thuận lợi và vô điều
kiện các nguồn lực từ các thành viên trong gia đình. Trong khi đó các mối
quan hệ bên ngoài đôi khi đòi hỏi những điều kiện đi kèm: nguồn vốn con
người, sự có đi có lại.
19
4.1.3. Vốn xã hội vớithời gian tìm kiếm việc làm
- Sử dụng vốn xã hội làm giảm thời gian tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên
sự hỗ trợ từ các mối quan hệ truyền thông lại khiến thời gian tìm kiếm tăng
lên. Những sinh viên có kinh nghiệm làm việc, tốt nghiệp các ngành khoa
học ứng dụng tìm được việc làm sớm hơn.Vốn con người có tác động mạnh
mẽ hơn đến thời gian tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp và theo xu
hướng tích cực, trong khi nguồn vốn xã hội (gia đình) khiến thời gian tìm
kiếm tăng lên.
4.2. Vốn xã hội với đặc điểm công việc
4.2.1. Vốn xã hội với mức thu nhập
- Đa số sinh viên mới tốt nghiệp có mức thu nhập thấp, những sinh viên
tốt nghiệp tìm kiếm việc làm nhờ các mối quan hệ xã hội gặp bất lợi hơn về
thu nhập. Tác động chủ yếu tới mức thu nhập thuộc về vốn con người
4.2.2. Vốn xã hội với đặc điểm chuyên môn của công việc
- Tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ bên ngoài gia đình giúp
tăng khả năng tìm được các công việc phù hợp với chuyên môn được đào
tạo.Sinh viên có kinh nghiệm làm việc phù hợp với chuyên môn, đạt kêt quả
học tập giỏi sẽ tìm được công việc phù hợp chuyên môn hơn.

thông qua các đơn vị dịch vụ, tự ứng tuyển) sinh viên tốt nghiệp đã khai thác
hiệu quả tổng hợp các mối quan hệ trong và ngoài gia đình của họ để đạt
được các công việc. Trong mạng quan hệ của sinh viên tốt nghiệp, các nguồn
lực khai thác từ thành viên trong gia đình vẫn chiếm vai trò chủ đạo, có ý
nghĩa quyết định đối với sinh viên tốt nghiệp.Các mối quan hệ chức năng với
các thành viên bên ngoài gia đình có ý nghĩa hỗ trợ thêm giúp sinh viên gặp
thuận lợi hơn trong quá trình đạt được công việc của mình.
Bên cạnh ý nghĩa tích cực, vốn xã hội cũng có những ảnh hưởng tiêu cực
trong thị trường lao động. Tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ xã
hội mang lại các lợi ích:giảm thời gian tìm kiếm, đạt được công việc một
cách thuận lợi hơn, công việc phù hợp hơn với chuyên môn được đào tạo và
22
là lựa chọn phù hợp nếu định hướng công việc là khu vực nhà nước. Tuy
nhiên, tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ xã hội mang lại bất lợi
về thu nhập, sự thiếu năng động trong lựa chọn công việc, sự bất bình đẳng
nguồn lực thông tin và cơ hội việc làm giữa các cá nhân …
Thứ ba, có sự tương tác giữa vốn xã hội với các dạng vốn khác, đặc biệt
là vốn con người trong mối quan hệ với tìm kiếm và kết quả tìm kiếm việc
làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mối quan hệ giữa vốn xã hội và các
dạng vốn khác có lúc là tương hỗ, có lúc là xung đột, cũng có sự chuyển đổi
giữa các dạng vốn với tầm ảnh hượng thay đổi trong từng điều kiện xã hội,
hay từng khía cạnh đặc điểm công việc thực tế của sinh viên tốt nghiệp.
Thực tiễn cho thấy khinghiên cứu về mạng quan hệ xã hội như làvốn xã
hội trong thị trường lao động cần được tiếp cận dưới góc nhìn đa chiều. Xét
về mức độ tương tác đó có thể là các liên kết yếu và liên kết mạnh.Xét về
quan hệ xã hội đó là các quan hệ trong gia đình và ngoài gia đình gắn với
dạng vốn xã hội kế thừa và vốn xã hội đạt được.Xét ở các đầu mối tương tác
có các quan hệ trực tiếp và gián tiếp.Các nguồn lực cá nhân có thể huy động
được phản ánh ở các đặc điểm (kinh tế, văn hoá, biểu trưng…) và quy mô lớn
nhỏ khác nhau.Ở các thời điểm khác nhau và gắn với các mục đích công việc

và sự tham gia xã hội của các cá nhân vào các hoạt động chung cũng như các
tổ chức xã hội có ảnh hưởng ra sao đến quy mô mạng lưới và nguồn lực của
sinh viên tốt nghiệp.Tuy nhiên những phát hiện này mới chỉ là sự gợi mở cho
một nguồn lực thực tế mà các học giả trên thế giới đã nghiên cứu từ lâu. Đã
đến lúc chúng ta quan tâm đánh giá các “chỉ số niềm tin”, “chỉ số tham gia xã
hội”, “chỉ số đoàn kết xã hội”…bên cạnh các chỉ số kinh tế, phát triển xã hội
hay con người như hiện nay.
24
Mạng quan hệ xã hội là kênh kết nối nhanh chóng và hiệu quả giữa
người lao động với các công việc phù hợp.Tuy nhiên điều này chỉ đúng với
cá mối quan hệ chức năng bên ngoài gia đình.Các mối quan hệ truyền thống
hiện vẫn chiếm ưu thế ngoài ý nghĩa tích cực không thể phủ nhận đang tạo
nên sự bất bình đẳng cơ hội và duy trì trạng thái đó giữa các cá nhân. Khía
cạnh này của vốn xã hội rõ ràng sẽ không còn phù hợp với môi trường kinh tế
xã hội hiện đại đòi hỏi sự chuyên môn hóa và phân hóa chức năng cao độ.Cơ
hội giành cho các cá nhân là đồng đều như nhau trong mối liên hệ với các
mối quan hệ ngoài gia đình.Các mối quan hệ chức năng bên ngoài gia đình
ngoài ý nghĩa là dạng nguồn lực cá nhân còn là sản phẩm của một quá trình
tích luỹ nguồn lực tập thể, tạo cơ hội tiếp cận khai thác đồng đều cho các
thành viên.Vì vậy việc tích luỹ, gia tăng nguồn vốn xã hội bên cạnh nỗ lực cá
nhân còn có vai trò của các tập thể. Khuyến khích sự tham gia xã hội của các
thành viên, gia tăng “bán kính niềm tin” giữa các cá nhân, tăng cường mối
quan hệ giữa các nhóm, tổ chức xã hội dự báo khả năng tích luỹ và gia tăng
nguồn vốn xã hội của tập thể, tạo cơ hội khai thác ngày càng lớn hơn cho các
thành viên.
Sự tồn tại và ý nghĩa của vốn xã hội trong đời sống nói chung và trong
thị trường lao động nói riêng là một thực tế. Vốn xã hội có ý nghĩa với tất cả
các cá nhân, tổ chức có từ ít nhất một mối liên hệ bất kỳ với đối tác khác
trong đời sống hàng ngày. Vấn đề đặt ra là phải làm sao để mỗi cá nhân, các
nhóm xã hội, các tổ chức xã hội và lớn hơn là quốc gia có thể phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status