Phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên ngành sư phạm giáo dục công dân phần 2 - Pdf 30

29
Chương 3
CÁC HÌNH THỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Viết bài là công việc mà bất kì nhà nghiên cứu nào cũng phải làm và càng
nghiên cứu nhiều thì càng phải viết nhiều. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để người đọc
có thể hiểu được nội dung, tư tưởng tác giả là điều không kém phần quan trọng như
việc nghiên cứu. Tuy nhiên không phải ai cũng viết tốt, viết đúng ngay mà phải luyện
tập. Chính vì vậy công việc nghiên cứu khoa học cũng phải được rèn luyện ( kể cả
nghiên cứu và viết ) từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó. Thông thường có các
hình thức NCKH sau :
1. Tóm tắt khoa học.
2. Tổng luận khoa học.
3. Nhận xét khoa học.
4. Bài báo khoa học.
5. Báo cáo khoa học.
6. Luận văn, luận án.
7. Tài liệu giáo khoa, sách giáo khoa.
8. Tác phẩm khoa học ( công trình khoa học ).
Ở đây chúng ta chỉ tập trung vào nghiên cứu loại 1,2,4,5,6 và đây cũng là những
loại NCKH gần gũi, thực tế với người học. Riêng phần 5,6 sẽ được trình bày riêng ở
chương 4.
3.1. Tóm tắt khoa học ( TTKH ).
TTKH là nghiên cứu khoa học đơn giản nhất, trong đó tác giả viết ngắn gọn lại
nội dung một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học hay một cuốn sách. Mục đích
của TTKH là tác giả muốn giới thiệu lại một công trình, bài viết hoặc báo cáo (gọi
chung là công trình ) của một người nào đó cho những người chưa đọc hoặc chưa nghe
nội dung ấy. Vì vậy, bài viết phải nói lên hết được nội dung chính của công trình
nhưng không dài dòng. Đặc biệt tóm tắt phải có đánh giá và kết luận về công trình
đó. Đây cũng chính là tính khoa học của bài tóm tắt, nó thể hiện trình độ chuyên môn
của tác giả làm TTKH.

cơ bản, rất vắn tắt của việc nghiên cứu lý thuyết ( công thức, phương trình …) phục vụ
cho thực nghiệm ( nếu là công trình có thực nghiệm) hoặc phục vụ điều tra…những
kết quả đạt được, những nhận xét, kết luận, đề xuất…
Nếu là luận văn tốt nghiệp cử nhân thì bản tóm tắt chừng 4-7 trang, các luận
văn thạc sĩ, tiến sĩ thì dài hơn, nhưng không quá 20 trang.
31
3.2.Tổng luận khoa học ( TLKH).
Đây cũng là dạng tóm tắt khoa học, nhưng nội dung đa dạng hơn : tóm tắt nội
dung hội nghị khoa học, một tập san khoa học v.v…Có 2 cách làm :
- Tổng luận theo bài viết : là thâu tóm các bản tóm tắt khoa học cho từng bài
trong tập san, hoặc từng báo cáo trong hội nghị khoa học. Tuy nhiên không phải bài
nào cũng tóm tắt như nhau. Để ngắn gọn và mang tính khoa học, tác giả có thể giới
thiệu vắn tắt những bài mà mình cho là không có gì đặc sắc, thậm chí chỉ ghi tên bài
và tác giả, còn những bài quan trọng, nội dung mới hoặc nội dung đáng quan tâm hoặc
đang bàn cãi….có thể tóm tắt đầy đủ như một tóm tắt khoa học ( mục 3.1.1).
- Tổng luận theo chủ đề : Theo kiểu này, người viết tổng luận có thể gom các
bài viết cùng một chủ đề để tóm như một TTKH. Mỗi chủ đề tóm tắt thành một bài,
các nội dung của các chủ đề được tiếp nối một cách hệ thống, trong đó ý của tác giả
nào viết tên của tác giả đó, các ý mới còn tranh luận cũng được đưa ra chắn chắc và
sắc bén.
Hình thức một tổng luận :
Tổng luận : Tập san hội nghị « ………… »
( Số), ngày tháng năm……
( Nội dung)
3.3. Bài báo khoa học.
3.3.1. Nội dung bài báo khoa học.
Bài báo khoa học là hình thức bài viết nhằm thông báo về một kết quả
nghiên cứu ( quan sát, điều tra, một kết quả thực nghiệm, một sáng kiến… )
Có 2 yêu cầu đặt ra cho một bài báo khoa học là :
- Bài báo phải mang tính thuyết phục cao.

ở ĐBSCL ».( xem phụ lục)
Qua bài viết, người đọc có thể hiểu tác giả muốn nhấn mạnh yêu cầu phát triển
bền vững nói chung, cũng như phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp ở
ĐBSCL nói riêng. Nếu phát triển mà không chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường, cân
bằng sinh thái thì sau này chúng ta phải trả giá cho sự phát triển đó. Để phát triển bền
vững trong sản xuất nông nghiệp ĐBSCL tác giả cũng đề xuất một số giải pháp mang
tính khoa học như: Giáo dục cho người nông dân ý thức bảo vệ môi trường trong sản
xuất nông gnhiệp, xử phạt thật nặng những hành vi xâm phạm môi trường, thành lập
lực lượng cán bộ chuyên trách để bảo vệ môi trường v.v…
3.3.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung ( SĐCTND) một bài báo khoa học.
Có thể có các sơ đồ cấu trúc nội dung các bài báo đơn giản như sau :
- Bài báo điều tra đơn giản.
33

- Bài báo về kết quả thí nghiệm.

Luận
cứ 3
Kết
luận

Kết
luận
chung

Mở
đầu

TN1 TN2 TN3 TN4
Kết
luận
chung

Mở
đầu
1
2
3
KL1
1
2
3
KL
tổng
quát


v.v…nếu bài viết mang tính thảo luận thì cần kết thúc khiêm tốn.
Ví dụ : báo cáo ……………
3.3.2. Báo cáo nghiệm thu luận văn, công trình nghiên cứu khoa học.
Về bài viết luận văn ( LV) chúng ta sẽ bàn ở mục 6. Tuy nhiên báo cáo luận văn
và công trình nghiên cứu KH ( gọi chung là báo cáo luận văn) có thể trình bày trước để
bạn đọc tham khảo.
35
Báo cáo luận văn dĩ nhiên không phải là đọc lại bản tóm tắt luận văn đã có và
cũng không giống như BCKH như đã trình bày ở trên. Một luận văn, một công trình
nghiên cứu KH cần giới thiệu không chỉ kết quả công việc mà còn nhiều vấn đề khác
liên quan, thậm chí mang tính thủ tục. Tính thủ tục là nhất thiết phải có ở một BCLV.
Dù sao đi nữa đây là một nội dung đào tạo đối với tác giả. Thời gian dành cho mỗi
BCLV chỉ 15 đến 20 phút ( không kể thời gian trao đổi, chất vấn). Vì vậy chọn cái gì
nói là điều quan trọng đối với tác giả, đôi khi có ảnh hưởng trực tiếp đến đánh giá đề
tài, cho dù bài viết và kết quả luận văn có thể được đánh giá cao thế nào đi chăng nữa.
Trình tự của một BCLV như sau :
- Mở đầu : Dùng đèn chiếu giới thiệu tên đề tài, người hướng dẫn và phản
biện.
- Đặt vấn đề : Tại sao nghiên cứu vấn đề này ( có thể nói tự do hoặc đọc
nguyên văn trong bảng tóm tắt để bảo đảm thời gian). Giả thuyết của đề tài là gì ? Các
bước làm đề tài, các phương pháp nghiên cứu v.v…
- Nội dung chính : Những công việc nghiên cứu và kết quả.
- Một số lý thuyết đã nghiên cứu làm cơ sở chính của đề tài.
- Nếu là đề tài quan sát, điều tra thì giới thiệu mẫu quan sát, điều tra, bảng
hỏi, kết quả công việc, nhận xét v.v….
- Nếu là công trình lý thuyết ( Văn học, lịch sử , Triết học, Kinh tế chính
trị học v.v…) thì trình bày các luận cứ, các công đoạn tính toán, các suy luận v.v…
- Nếu là công trình thực nghiệm thì trình bày việc chọn mẫu thực nghiệm
( TNSP), bảng số liệu, hình ảnh ( vẽ, chụp) phương pháp xử lý số liệu, suy luận v.v…
- Kết luận :

37
Chương 4
CÁCH THỨC TIẾN HÀNH MỘT LUẬN VĂN, MỘT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
4.1. Khái niệm về luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học.
4.1.1. Luận văn : là một hình thức NCKH, báo cáo đề tài nghiên cứu của
mình khi tác giả kết thúc cấp học. nếu nói về hình thức trình bày thì các khái niệm :
Luận văn cử nhân, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ là như nhau. Nhưng nếu phân biệt
về nội dung thì có sự khác nhau nhiều giữa 03 hình thức trên về chất.
- Luận văn cử nhân: ( LVCN) là bài nghiên cứu của sinh viên năm cuối cùng
của khóa học. Mục đích của luận văn là tạo điều kiện cho sinh viên làm quen công tác
nghiên cứu KH ở cấp độ tổng hợp lý thuyết, vận dụng lý thuyết đã học vào một công
việc cụ thể, thao tác nhiều trong phòng thí nghiệm, hoặc có thể cho ra một sản phẩm
nhỏ ( bằng ngôn ngữ : sưu tầm có hệ thống lý thuyết đã học, những phát hiện từ thực
tế bằng vật chất, bằng chế tạo, lắp ráp thí nghiệm, sưu tầm mẫu vật cây, con …) Để
hoàn thành luận văn, sinh viên cần tự lực nhiều, nhưng luôn có sự giúp đỡ của Thầy
hướng dẫn, cách làm, cách tìm tài liệu v.v…
- Luận văn thạc sĩ ( LVThS) : là bài nghiên cứu của học viên tốt nghiệp cao

đề mới, hướng đi mới, khám phá mới ( LÁTS) chẳng hạn.
2. Mình có thích đề tài này không ? Đề tài dù rất hay, song nếu không phù hợp
với sở trường của mình, mình không thích nên chọn đề tài khác.
3. Khả năng có đủ làm đề tài này không ? Đôi khi câu hỏi 2 và 3 cần phải nhân
nhượng, dung hòa nhau. Mình thích mà không có khả năng thì cũng khó thành công.
4. Lợi ích của đề tài ? Nếu là luận văn cử nhân thì nên xem lợi ích cho bản thân
là chính, đó là trị thức và cách làm việc. Các lọai luận văn khác, đặc biệt là luận án tiến
sĩ cần xem xét thêm ở lợi ích kinh tế, tính thực tiễn.
5. Có tài liệu tham khảo không ? Sách, báo, tạp chí, thực tiễn địa phương v.v…
6. Thời gian có đủ để làm đề tài không ? Điều này phải hiểu ngược lại, với thời
gian cho phép, nội dung nghiên cứu có quá nhiều không, cần giới hạn thế nào ?
7. Giới hạn đề tài thế nào .
8. Dùng phương tiện nghiên cứu có đủ không ?
9. Dùng phương pháp nghiên cứu nào ?
10. Ai hướng dẫn ? Đối với luận án TS thì câu hỏi 10 vô cùng quan trọng. Trình
độ, phong cách của thầy có tác dụng đến nghiên cứu sinh.
39
Chú ý : Nói rằng đề tài không có nghĩa là tên luận văn. Đề tài là một ý tưởng,
một hướng đi cho công việc nghiên cứu khoa học. Cũng có khi tên đề tài ( chính xác)
cũng là đề luận văn mà thầy giao cho. Tuy nhiên, thông thường người ta làm xong đề
tài mới cấu trúc chính xác tên của nó.
4.2.2. Sắp xếp công việc.( lập kế họach)
Khi đã có ý niệm đề tài, việc lập lịch công việc là tất yếu đối với người nghiên
cứu. Đặc biệt luận văn tốt nghiệp lại có rất ít thời gian nghiên cứu ( 1 năm học), cho
nên cần sắp xếp lịch chi tiết theo từng tháng. Để có lịch công việc tốt và chính xác, cần
đi các bước phụ sau :
- Quyết định đề tài ( hướng đi cụ thể ).
- Xác định cho được các mục tiêu mà mình phải đạt được.
- Biến các mục tiêu thành giả thuyết ( xem 6.3).
- Xác định và định nghĩa ( hoặc giới hạn) các thuật ngữ chủ yếu dùng
Việc ghi phiếu như trên chủ yếu nghiên cứu lý thuyết, sau này sẽ tìm lại khi
viết luận văn. Cũng có thể lập phiếu ghi số liệu, mẫu vật.v v Lọai phiếu này có nội
dung nhiều hơn nên kích thước sẽ lớn hơn và sẽ ghi trong quá trình thực hiện đề tài.
4.2.5. Thực hiện đề tài.
Các bước đã vạch ra ở mục 4.2. bây giờ mới được tiến hành từng công đoạn.
Trong quá trình làm việc, có thể điều chỉnh do kết họach phát sinh. Thậm chí có thể
thay đổi hẳn kế họach theo hướng mới. Tuy nhiên, mọi sự thay đổi đều phải cân nhắc
theo thời hạn làm đề tài. Điều chính yếu là phải nghiêm túc thực hiện hoàn thành công
việc theo kế họach.
4.2.6. Trình bày luận văn ( sẽ trình bày chi tiết ở mục 4.4)
4.2.7. Viết tóm tắt luận văn ( xem phần 3.1 chương 3)
Những tóm tắt này sẽ gởi đi nơi nào tham khảo ý kiến các thầy cùng ngành.
Khi bảo vệ phát các bản tóm tắt cho mọi người trong cử tọa bởi vì không có điều kiện
đọc công trình của mình. Đặc biệt đối với LÁTS, bản tóm tắt phải đóng thành tập gởi
các giáo sư đầu ngành để xin nhận xét trước khi bảo vệ
4.2.8. Bảo vệ luận văn.
4. 3. Giả thuyết khoa học.
Nêu vấn đề
Khái niệm
( Sách…….trang )
( Bài….Tạp chí…)
( Tác giả….)
( Nhà xuất bản,
năm… )
Nêu vấn đề

Giả thuyết khoa học là một quan niệm chưa được chứng minh trong khoa học, có
thể bổ khuyết những thiếu sót hoặc thay thế những cái lỗi thời trong hệ thống khoa
học, là giai đoạn trước của sự nhận thức, hay một hình thức phát triển của khoa
học và có thể trở thành những lý luận khi được xác nhận đầy đủ trong thực tiễn.
4.3.2. Phương pháp cấu trúc giả thuyết.
Mỗi đề tài đều có mục đích rõ ràng. Mục đích là cái phải đạt được ở cuối đề tài.
Có thể mục đích đề tài được thực hiện từ một giả giả thuyết, nhưng cũng có những đề
tài được thực hiện bởi nhiều giả thuyết, nghĩa là hợp bởi nhiều « cái tiêu » phải đến.
Trong trường hợp đó, mục đích của đề tài chỉ có thể đạt được khi tác giả đã tới các tiêu
ấy.
Vì vậy, muốn cấu trúc giả thuyết khoa học, trước tiên phải xác định mục tiêu
của đề tài. Nhà nghiên cứu có thể thấy trước được rằng : « Nếu tôi có những điều kiện
nhất định thì tôi sẽ đạt đến đích, tức là đạt được mục tiêu đề ra ». Điều giả định ấy
sẽ thành giả thuyết.
42
Ví dụ : « Nghiên cứu, thử nghiệm phương pháp dạy học khám phá trong giảng
dạy môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông ».
* Đề tài nhằm chứng minh rằng có thể đưa phương pháp dạy học khám phá vào
dạy môn Giáo dục công dân ( GDCD) ở trường trung học phổ thông. Vấn đề đặt ra cho
đề tài này là : phương pháp dạy học mới đã được sử dụng ở các môn khoa học khác,
liệu có thể áp dụng cho môn GDCD không ? Nhà nghiên cứu tiên đoán : Có thể thay
đổi một vài cách thức, lựa chọn nội dung phù hợp và đặc biệt là chú ý nguyên tắc « từ
dễ đến khó, từ ít đến nhiều… » để phù hợp với học sinh từng vùng thì sẽ vận dụng
được phương pháp này vào giảng dạy môn GDCD ở trường THPT.
* Giả thuyết khoa học : Phương pháp dạy học khám phá là khá hiệu quả đối với
các môn khoa học khác. Nếu đưa nó vào thực hiện đối với môn GDCD ở những nội
dung phù hợp, thay đổi cách tổ chức lớp học sao cho phù hợp với hoàn cảnh nhà
trường Việt Nam và đặc biệt là mức độ vận dụng theo nguyên tắc kết hợp giữa truyền
thống và hiện đại v.v thì có thể áp dụng đối với môn GDCD ở trường THPT.
Như vậy, nhà nghiên cứu cần tìm kiếm từ lý thuyết và thực tiễn những điều kiện

nó mang nhiều tính lô gích và thủ tục. Song « phần mở đầu » không thể thiếu được,
bởi vì về phía tác giả nó thể hiện được ý thức làm việc khoa học của tác giả, cũng như
sự tôn trọng tác giả đối với người đọc. Về phía người đọc nó làm cho họ hiểu được
mục đích của công trình đó, ý đồ của tác giả, cách làm việc của tác giả và những nội
dung chính, « cái tiêu » của công trình. Nội dung phần mở đầu tối thiểu bao gồm :
- Lý do chọn đề tài : thể hiện mục đích của công trình.
- Lịch sử nghiên cứu vấn đề : trình bày khái quát các kết quả đã được nghiên
cứu ( theo hướng công trình) trong và ngòai nước. Mục này yêu cầu rất nặng đối với
luận văn thạc sĩ và tiến sĩ, nó chứng tỏ sự hiểu biết nhiều và sâu của tác giả trong lĩnh
vực này.
- Những giả thuyết : cấu trúc từng giả thuyết, có giải thích sơ lược.
- Các bước nghiên cứu ( thời gian, nội dung, phạm vi, đối tượng).
- Các phương pháp và phương tiện nghiên cứu.
- Những khái niệm chính dùng trong công trình : Mục này rất cần thiết cho
nhằm làm cho người đọc, nhằm làm cho người đọc hiểu được những khái niệm « lạ »
nhưng mang nội dung chính yếu ở phần nghiên cứu của đề tài. Các khái niệm « lạ » ấy
có thể là khái niệm mới mà tác giả mới đưa vào, có thể là khái niệm đã biết, nhưng
chưa được dùng chỉ giới hạn trong công trình. Mỗi khái niệm « lạ » cần được định
nghĩa, giải thích rõ.
44
Chú ý : Bắt đầu phần mở đầu là bắt đầu phần nghiên cứu, không được viết ở
đây lời cám ơn, nhắn nhủ hay tâm huyết gì đó.
b. Trình bày các công việc nghiên cứu.
Đây là nội dung khoa học của công trình. Phần này có thể tách ra thành nhiều
mục lớn, hoặc chương, tùy theo mức độ nhiều hay ít, đơn giản hay phức tạp của công
việc. Nội dung chính của phần này gồm :
- Những nghiên cứu lý thuyết và thực tế phục vụ cho việc nghiên cứu mới của
tác giả.
- Phương pháp chung chỉ đạo việc nghiên cứu : phương pháp chọn mẫu,
phương pháp xây dựng mẫu điều tra, phương pháp thực nghiệm, phương pháp lấy kết

- Hứa hẹn tiếp tục nghiên cứu để vận dụng kết quả hoặc mở rộng sự nghiên cứu
hoặc đi sâu hơn nữa trong lĩnh vực này.
4.4.2.3. Các phần phụ của công trình.
- Mục lục.
Đặt trước công trình hoặc trước tài liệu tham khảo. Trong mục lục, các đề
mục nhỏ tới đâu là tùy tác giả, thông thường tối đa không quá 4 chữ số, song phải đánh
số trang rõ ràng để người đọc dễ tìm kiếm nội dung.
- Tài liệu tham khảo.
- Vị trí : đặt sau cùng của bài luận văn, sau mục lục ( nếu không để mục lục
trên cùng của bài luận văn).
- Nội dung : tất cả những tài liệu đã đọc, tham khảo cho công trình.
- Hình thức : Sắp xếp và đánh số theo thư mục quy định chung của thư viện.
Những tài liệu có tên tác giả thì xếp thứ tự chữ cái đầu tiên trong tên tác giả theo mẫu
tự A, B, C ( in đậm). Những tài liệu tên tác giả là người nước ngòai thì xếp theo tên gia
đình - họ. Những tài liệu của nhiều tác giả thì ghi tên tác giả đầu tiên rồi đến các tác
giả khác nhau theo như tài liệu đã trình bày. Sau đó là tên tài liệu ( in nghiêng nhạt),
nơi xuất bản, năm xuất bản. tạp chí thì ghi số mấy, năm nào .
Ví dụ : TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Dũng, ( 1997), « Phương pháp luận sáng tạo khoa học-kỹ thuật », Sở
khoa học- kỹ thuật, thành phố HCM.
2. Vũ Cao Đàm, ( 1996), « Phương pháp luận nghiên cứu khoa học »,
NXBKH-KT, HN.
46
3. Lê Phước Lộc, ( 1994), « Phân tích chương trình vật lý phổ thông », Đại
học Cần Thơ.
4. Nghị quyết Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X…… NXB Sự Thật, HN,
năm 2005.
5. Dương Thiệu Tống, ( 2002), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và
tâm lý », tập 1, NXB Đại học quốc gia TPHCM.
6. Từ điển triết học ( Tiếng Việt), ( 1988), NXB Sự Thật, Mátxcơva.

4.2.2.4. Việc sử dụng chữ số trong bài viết :
- Những chữ số bình thường, số thứ tự nên viết bằng chữ. Ví dụ : Sau hai lần thí
nghiệm… Cuộc điều tra kéo dài đến lần thứ ba…
- Những số ngày, tháng , năm, những con số lớn thì viết chữ số. Ví dụ : Cuộc
điều tra kéo dài từ 1 tháng 12 năm 2005 đến hai tuần sau đó đã lấy ý kiến của 4117
học sinh …
4. 2.2.5. Cách trình bày các đề mục.
a) Đánh số đề mục : Có nhiều cách đánh số đề mục cốt sao cho việc làm
ấy được nhất quán để dễ theo dõi. Cách đánh số thông dụng hiện nay là đánh số theo
cấp ( Chúng ta có thể theo dõi cách đánh số trong bài giảng này). Kiểu này có thể đánh
số theo vần hoặc trong chương. Ví dụ :
Phần 1 : MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
1.1. Thực trạng vấn đề.
1.2. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học.
2. Các giả thuyết khoa học.
2.1. Giả thuyết 1.
2.2. Giả thuyết 2
v.v
Phần II : NHỮNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
2.1. Nghiên cứu lý thuyết.
2.1.1.Lý thuyết dạy học.
2.1.1.1.Những yếu tố về tâm lý lứa tuổi.
2.1.1.2. Các phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp.
2.1.2. Các định hướng trong qua 1trình dạy học.
2.1.2.1
2.2. Nghiên cứu thực tiễn.
48
v.v
b) Nội dung đề mục.

49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Cành ( 2004), “ Phương pháp và phương pháp nghiên cứu khoa
học kinh tế”, NXB Đại học quốc gia, TPHCM.
2. Phan Dũng, ( 2007), “ Phương pháp luận sáng tạo khoa học kỹ thuật”
NXBKH-KT, HN.
3. Vũ Cao Đàm, ( 1996) “ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”, NXB KH-
KT, HN.
4. Nguyễn Tiến Đức, ( 2006), “ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”, NXB
Thống Kê, HN.
5. Lê Phước Lộc, (1994) “ Phân tích chương trình vật lý phổ thông”, Đại học Cần
Thơ.
6. Ngô Đình Quả, ( 2005) “ Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học giáo
dục”, NXB TPHCM.
7. Nghị quyết đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X NXB Sự Thật, năm 2005.
8. Lê Quang Sơn ( 2005) “ Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học,
phương pháp thích hợp với đào tạo đại học”, Tạp chí Đại học sư phạm Đà
Nẳng, tháng 5.
9. Dương Thiệu Tống, ( 2002), “ Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và
tâm lý”, tập 1, NXB Đại học QG, TPHCM.
10. Đỗ Công Tuấn, ( 2004), “ Lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học” ,
NXB chính trị QG, HN.
11. Từ Điển Triết học ( Tiếng Việt), ( 1998), NXB Sự Thật Mát xcơ va.


Phát triển bền vững là khuynh hướng chung của thế giới trong thời đại ngày
nay. Để phát triển một cách bền vững sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL, chúng ta cần
kết hợp đa mục tiêu để đạt đến sự cân bằng về lợi ích: kinh tế, xã hội và môi trường.
Sự phát triển đó nhằm phục vụ nhu cầu của thế hệ hiện tại và sẽ không gây ra bất kỳ
ảnh hưởng xấu nào tới các thế hệ tương lai. Trong những năm qua, sản xuất nông
nghiệp ở ĐBSCL đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực
trồng trọt và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng và không có
kế hoạch đã gây ra những tác động nghiêm trọng làm hủy hoại môi trường , phá hủy
môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững. Để giải quyết vấn đề này,
51
tác giả cho rằng chúng ta cần hoạch định lại sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy
sản ở ĐBSCL, tuyên truyền, phổ biến cho hộ nông dân ý thức bảo vệ môi trường, thực
hiện tốt Luật bảo vệ môi trường và Luật đa dạng sinh học v.v
Từ khóa: Phát triển bền vững - sản xuất nông nghiệp - Đồng bằng sông Cửu Long
– Cân bằng sinh thái – đa dạng sinh học – Ý thức bảo vệ môi trường.
1. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, XU THẾ CHUNG CỦA THẾ GIỚI NGÀY
NAY
Gần đây khái niệm phát triển bền vững ( Sustainable Developement ) được đề
cập nhiều trên các sách báo kinh tế. Nói đến khái niệm phát triển kinh tế và phát triển
xã hội, phát triển quốc gia hay phát triển địa phương, phát triển tòan cầu hay phát triển
khu vực, phát triển đều theo nghĩa phát triển bền vững. Nghị quyết đại hội lần thứ IX
Đảng cộng sản Việt Nam khi đề ra đường lối phát triển kinh tế cũng nhấn mạnh vấn đề
phải gắn việc phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, thực hiện phát triển bền vững.

Thuật ngữ “phát triển bền vững” ra đời năm 1987 trong Báo cáo của Ủy ban
quốc tế về môi trường và phát triển. GH. Bruntland là người đầu tiên nêu lên khái
niệm này. Ngày nay, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, song có thể hiểu: Phát
triển bền vững là sự phát triển đòi hỏi phải kết hợp đa mục tiêu để đạt tới sự cân bằng
về lợi ích, kinh tế, xã hội và môi trường. Tiêu điểm của sự phát triển bền vững là bảo
vệ được môi trường sinh thái, sự phát triển mà thỏa mãn được các nhu cầu hiện tại

tạo ra một xã hội hài hòa. Bền vững xã hội có nghĩa là không thể để một tầng lớp
người hay nhóm người bị gạt ra ngoài tiến trình phát triển của một quốc gia, phân cực
giàu nghèo quá mức, dân chủ, bình đẳng xã hội không được bảo đảm
Như vậy, ý tưởng về phát triển bền vững biểu thị sự hài hòa, đồng tiến hóa và
cộng sinh giữa con người, xã hội và giới tự nhiên. Trong mối quan hệ này, con người
là trung tâm. Phát triển bền vững được hiểu là sự tương tác hài hòa giữa xã hội của con
người và thiên nhiên nhằm bảo vệ sinh quyển mà con người đang sống trong đó và bảo
đảm sự phát triển lâu dài vô hạn của con người. Mục đích của sự phát triển bền vững
chủ yếu là giải quyết mâu thuẩn giữa nền văn minh và sinh quyển, cái mâu thuẫn có
thể dẫn đến sự diệt vong của cả hai, nếu không được khắc phục kịp thời.
Những nội dung chung nhất ấy đang được hiểu và thực thi trong những mô hình
kinh tế và thể chế chính trị rất khác nhau và vì vậy kết quả đem lại cũng không giống
nhau. Hiện nay, nước ta đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
53
Phát triển kinh tế thị trường là biện pháp, là phương tiện để đạt mục đích phát triển
kinh tế nhanh, hiệu quả. Tuy vậy, những hạn chế, những mặt trái của cơ chế thị
trường, bản thân nó không thể bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, tư tưởng
chiến lược của Đảng ta là: Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng
trưởng kinh tế đi liền với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Từ Đại hội lần thứ VII, Đảng ta đã nhận thấy một trong bốn nguy cơ đối với
nền kinh tế nước ta đối với thế giới là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Nhưng
không vì nguy cơ tụt hậu mà lại muốn đi nhanh, không tính đến sự bền vững của nó.
Cũng như không vì thiếu vốn đầu tư trước mắt mà khai thác các nguồn tài nguyên đất
nước không cân nhắc, sử dụng một cách phung phí, khai thác tài nguyên thô, phải có
kế hoạch dài hạn cái gì hôm nay cần sử dụng, cái gì để dành cho con cháu mai sau.
Ngày nay, Việt Nam đang hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, đẩy nhanh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, ta càng phải khắc phục chủ nghĩa thành tích, khuyếch trương
về số lượng, không nên xem nhẹ yếu tố về chất, trình độ công nghệ nhập của các dự án
đầu tư; nếu không gánh nặng nợ nần không những sẽ trút lên vai các thế hệ mai sau mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status