1LỜI NÓI ĐẦU
* * * *
Khoa học được coi là sản phẩm của nhận thức. Nó là môt hệ thống các quan
điểm, tri thức, đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới. Vì vậy, nghiên cứu khoa
học là hoạt động trí tuệ phức tạp, có tính sáng tạo cao. Muốn nghiên cứu khoa học có
hiệu quả phải có phương pháp.
Nhằm đáp ứng nhu cầu về việc học tập môn phương pháp nghiên cứu khoa học đối
với sinh viên ngành sư phạm Giáo dục công dân, chúng tôi mạnh dạn biên soạn tài
liệu này. Công trình ra đời là kết quả của việc nghiên cứu, tập hợp rất nhiều tư liệu
khác nhau. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc không tránh khỏi thiếu sót. Rất
mong được sự đóng góp của bạn đọc.
Cần Thơ, ngày 12 tháng 11 năm 2009
Người biên soạn
Ts.TRẦN VĂN HIẾU
3
Chương 1
KHÁI NIỆM KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1.KHOA HỌC
1.1.1 Khái niệm khoa học:
Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp và tùy góc độ khác nhau
có quan niệm khác nhau. Khoa học bắt nguồn từ thực tiễn lao động sản xuất của con
người, do con người tạo ra và phục vụ cho cuộc sống của con người.
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam:“Khoa học là những
điều hiểu biết có phương pháp, có hệ thống và được thực nghiệm”.
Theo Từ điển Triết học của Nhà xuất bản Tiến bộ Mátxcơva: “Khoa học là lĩnh
vực nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và
tư duy và bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất nầy.
Còn theo quan điểm của CULILLIER: Khoa học là hệ thống những nhận thức
và nghiên cứu có phương pháp, nhằm mục đích khám phá ra những định luật tổng quát
và hệ thống.
Từ những quan niệm trên, ta có thể rút ra định nghĩa khái quát: “Khoa học
(KH) là hệ thống những trị thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về quy luật phát triển
của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và
không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội”.
Xuất phát từ những sự kiện của hiện thực, khoa học giải thích một cách đúng
và phát triển của tư duy mà con người nhận thức được hoặc trực tiếp (bằng các giác
quan) hoặc gián tiếp (bằng phương tiện hỗ trợ).
Sự kiện là cơ sở tất yếu của khoa học, là nguồn sống và phát triển của khoa học.
Tuy nhiên, bản thân sự kiện chỉ là một mớ nguyên liệu chứ chưa phải là khoa học.
Nhờ có tư duy lý luận, có sự trừu tượng hóa KH, con người gạt bỏ được những liên hệ
ngẫu nhiên của hiện tượng, đi sâu vào những liên hệ sâu xa, phát hiện những quy luật
khách quan.
Bản thân sự biểu hiện các quan hệ ngẫu nhiên của hiện tượng chưa phải là tri
thức KH mà là vì sự phát triển của hiện tượng được quyết định không phải do ngẫu
nhiên mà do những quy luật khách quan. Tuy nhiên KH không chỉ nghiên cứu cái tất
nhiên, KH còn nghiên cứu cả sự ngẫu nhiên là một trong những hình thức hoặc yếu tố
của biểu hiện cái có quy luật
- Tư duy KH là tư duy biện chứng, là một dạng của lô gích biện chứng, nó đóng
vai trò liên kết giữa tư duy và thực tiễn. Đặc trưng và các nguyên tắc của tư duy KH
là:
5
- Tính khách quan: xuất phát từ bản thân các sự vật, hiện tượng.
- Toàn diện: xem xét đầy đủ các khía cạnh.
- Lịch sử: nhận thức sự vật, hiện tượng trong sự phát triển.
- Thống nhất giữa các mặt đối lập.
Tóm lại, sự kiện không có tư duy lý luận thì không có KH, hoặc xem nhẹ tư duy
lý luận thì sẽ làm cho con người mất đi khả năng đi sâu vào bản chất của tự nhiên và
xã hội. Ngược lại, coi thường hoặc không cần các sự kiện thì tư duy lý luận sẽ trở
thành duy ý chí.
1.2. Nghiên cứu khoa học.
1.2.1. Khái niệm: nghiên cứu khoa học (NCKH) là hoạt động tìm kiếm,
xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm dựa trên số liệu, tài liệu, kiến thức …đạt được từ
các thí nghiệm, NCKH để khám phá để phát hiện ra cái mới về bản chất của sự vật, về
thế giới tự nhiên và xã hội và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kĩ thuật mới
bắt đầu phát hiện những vấn đề, những điểm cần tiếp tục làm sáng tỏ cho các câu hỏi
vì sao? Như thế nào?. Nhà NCKH bắt đầu thực hiện chức năng quan trọng tiếp theo
của mình là giải thích.
Thực hiện chức năng này chính là tìm ra nguyên nhân của những vấn đề được
phát hiện, nhờ đó mà các phán đoán về các mối quan hệ bên trong hợp thành nội dung,
bản chất sự vật dần dần sáng tỏ.
1.2.3.3. Chức năng sáng tạo: NCKH không chỉ dừng lại ở giải thích, ở nhận
thức sự vật, hiện tượng, điều quan trọng hơn là phải nắm bắt được quy luật phát triển
của chúng, tìm kiếm các giải pháp và các phương pháp tác động có hiệu quả lên đối
tượng khảo sát… NCKH do đó có chức năng sáng tạo. Nó thể hiện ở việc thông qua
các phát minh, phát hiện về quy luật. Đó cũng có thể là những dự báo về những xu thế
vận động, biến đổi của chúng và những giải pháp mới và cách thức tác động được đưa
ra để tác động có hiệu quả hơn vào đối tượng.
1.2.4. Đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học.
1.2.4.1. Tính mới và kế thừa của nghiên cứu khoa học: Tìm hiểu, phát hiện,
khám phá những thuộc tính mới của sự vật, hiện tượng, từng bước hình thành những
kiến giải khoa học dưới dạng các địa lý, định luật, các học thuyết, các phương pháp
mới …là đặc trưng đầu tiên và quan trọng của NCKH. Chính vì vậy, NCKH được xem
như là một công việc không được lập lại những kiến thức như cũ.
Chính đặc trưng này, đòi hỏi người làm khoa học một sự say mê lao động, sáng
tạo ham hiểu biết và không tự thỏa mãn với những gì đã đạt được, luôn tìm cách làm
đầy đủ hơn, phong phú và chính xác hơn tri thức của mình về đối tượng được khảo sát.
7
Tuy nhiên, cái mới trong NCKH luôn đi đôi với tính kế thừa những tri thức đã
được tích lũy trước đó, đồng thời luôn bắt nguồn từ những đòi hỏi cơ bản, cấp thiết của
thực tiễn. Kết quả là cùng với thời gian, tri thức nhóm thứ nhất luôn luôn được củng
cố, ngày càng hoàn thiện hơn, tri thức nhóm thứ hai và thứ ba sẽ được đổi mới, hoàn
thiện và có thể được thay đổi bằng tri thức hoàn toàn mới.
1.2.4.2. Tính khách quan, tin cậy, trung thực của thông tin trong nghiên cứu
1.2.3.5.Đặc trưng về tính độc đáo của cá nhân và sự trung thực của người
nghiên cứu trong nghiên cứu khoa học ( tính cá nhân).
Thành công hay thất bại của một công trình nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất
lớn vào tài năng, sự kiên trì, say mê, khám phá sáng tạo của một hay một số cá nhân
người nghiên cứu. Sự khám phá, vượt trội của mỗi cá nhân trong mỗi giai đoạn lịch sử,
trong mỗi công trình nghiên cứu là điểm cuốn hút những cá nhân khác trong nghiên
cứu khoa học. Mặc dù đồng nghiệp và tập thể khoa học có vai trò quan trọng trong
phản biện, thẩm định, góp ý đối với các ý tưởng, các hướng nghiên cứu mà cá nhân đi
tiên phong đã vạch ra. Một nhà khoa học giỏi là một nhà khoa học luôn luôn chú ý
lắng nghe. Sẵn sàng tranh luận, biết bảo vệ ý kiến cá nhân, nhạy bén trong nhận dạng
bất đồng trong tranh luận với đồng nghiệp và tập thể để từ đó mà khám phá, sáng tạo
vươn lên khẳng định từng bước uy tín khoa học của mình.
Khoa học luận ngày nay coi uy tín nhà khoa học là một tập hợp các tiêu chí định
tính và định lượng nói lên phẩm chất, năng lực, cống hiến của một nhà khoa học cho
nhân loại. Các tiêu chí đó bao gồm: số lượng và chất lượng các công trình, các đề tài
nghiên cứu đã hoàn thành, được công bố hay áp dụng, số lượng, chất lượng và trình độ
học vấn các học viên do nhà khoa học đào tạo, trình độ chuyên môn được đào tạo,
được thừa nhận, phong tặng thể hiện qua học vị và chức danh khoa học, sức khỏe và
lòng say mê nghiên cứu, ý thức và trách nhiệm của công dân v.v…
1.2.5. Phân loại khoa học và nghiên cứu khoa học.
1.2.5.1.Phân loại khoa học: Tuỳ thuộc vào đối tượng nghiên cứu, có thể
phân khoa học thành nhiều loại khác nhau. Đối với nước ta, cách phân loại phổ biến
được sử dụng đó là cách phân loại của Các Mác và cách phân loại của UNESCO chia
khoa học ra thành 5 nhóm:
- Khoa học tự nhiên và khoa học chính xác.
- Khoa học kỹ thuật.
- Khoa học nông nghiệp.
- Khoa học y học.
- Khoa học xã hội và nhân văn.
9
trọng các đề tài thuộc nhóm nghiên cứu cơ bản tự do ngày càng giảm đi đáng kể.
b. Nghiên cứu ứng dụng: (Applied Reseach ):Đây là những nghiên cứu dựa trên
các kết quả nghiên cứu cơ bản nhằm tạo ra các giá trị tri thức mới về các giải pháp tác
10
động, các nguyên lý vận dụng quy luật, các nguyên lý công nghệ, nguyên lý chế tạo
sản phẩm mới v.v…
Công việc này thu hút đông đảo nhất các nhà khoa học với xu hướng là đưa các
kết quả nghiên cứu cơ bản vào phục vụ xã hội lòai người, không có họ mọi nghiên cứu
khoa học đều vô nghĩa. Tuy nhiên, ở đây các kết quả nghiên cứu vẫn còn trong phòng
thí nghiệm, nó còn một khoảng cách khá xa để đến với xã hội bởi vì tính kinh tế, tính
thuận tiện, tính địa phương cũng như khả năng sản xuất hàng lọat chư cho phép.
c. Nghiên cứu khai triển, phát triển: ( Development Reseach ):Nghiên cứu khai
triển, phát triển là những nghiên cứu dựa trên kết quả của nghiên cứu ứng dụng nhằm
sáng tạo những tri thức mới về công nghệ, giải pháp kĩ thuật mới, các quy định cụ thể
về phương pháp, cách thức tác động với đối tượng. Nghiên cứu triển khai được chia
thành 2 giai đoạn: triển khai thí điểm ( sản xuất thử ) và triển khai đại trà. Cả hai loại
này đều có chung mục đích là nhằm chỉnh lý, sửa đổi những thông số kỹ thuật, điều
chỉnh các tiêu chuẩn công nghệ đã được tính toán.
d. Nghiên cứu dự báo: (Forecast Reseach ).Càng ngày càng xuất hiện những
nhà khoa học nghiên cứu, phán đoán những vấn đề trong tương lai thuộc nhiều lĩnh
vực: xã hội, môi trường, dân số, kiến trúc v.v…Những nghiên cứu của họ xuất phát từ
những sự kiện hiện tại, sự tiến triển có lô gích, có hệ thống trong lịch sử, những tính
tóan và suy luận khoa học. Những công trình của họ ý nghĩa quan trọng cho xã hội loài
người, giúp cho con người có cái nhìn rộng hơn, xa hơn định hướng cho sự phát triển
xã hội của ngành mình…cũng như tránh những hiểm họa có thể có do chính con người
gây ra.
Những công trình nghiên cứu dự báo cũng có ý nghĩa đối với sự nghiệp giáo
dục, không chỉ riêng ở quốc gia nào. Bởi trong sự phát triển chung của xã hội, cũng
như trong sự đòi hỏi của chính sự nghiệp giáo dục. Hiện nay có rất nhiều các công
trình nghiên cứu dự báo về nội dung, hình thức tổ chức giáo dục, phương tiện và
bó mật thiết với nhau. “Con người muốn trở thành con người phải có học vấn”
(Comenxki). Ngược lại, dạy học mà không chú ý đến sự phát triển con người thì khó
đạt hiệu quả cao.
Hơn nữa thế kỷ nay, khoa học sư phạm đã khẳng định được mình là một ngành
khoa học có nét đặc thù riêng, không những nó tận dụng mọi thành tựu của các ngành
khoa học xã hội, tự nhiên và kỹ thuật mà còn là nơi nghiên cứu để tạo ra những lớp
người trở lại làm việc, thúc đẩy các ngành khoa học ấy phát triển cho tới ngày hôm
nay.
2.2. Các hướng nghiên cứu của khoa học giáo dục.
12
Nhà trường trên thế giới phát triển rất nhanh, cho nên việc nghiên cứu khoa học
giáo dục ( KHGD) không bó gọn trong trường học nữa mà tự nó cũng thấy được quá
trình giáo dục, quá trình dạy học phải nằm trong một hệ thống nhất của một quốc gia,
chịu sự chỉ đạo trực tiếp của những người quản lý giáo dục. Hay nói cách khác, những
vấn đề vĩ mô của giáo dục phải được nghiên cứu cặn kẽ mang tính chiến lược quốc
gia. Vì vậy có 4 hướng nghiên cứu giáo dục hiện nay:
2.2.1. Nghiên cứu hệ thống giáo dục quốc dân
Trong sự phát triển của xã hội, cũng như sự tăng lên theo cấp số nhân về tri
thức, hệ thống trường, lớp cũng phải thay đổi theo. Nhu cầu của xã hội về số lượng
người được đào tạo, sự phát triển tâm sinh lý của học sinh…cũng làm cho các nhà
KHGD suy nghĩ, tìm tòi các loại hình trường, các dạng đào tạo.v.v…Đó là đề tài cho
hướng nghiên cứu 1.
2.2.2. Nghiên cứu quá trình giáo dục.
Quá trình giáo dục (QTGD) hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động của
giáo viên chủ nhiệm cũng như việc tổ chức các phong trào thi đua lớp, trường. Hoặc
có thể hiểu theo nghĩa rộng: các mối liên kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong
việc xây dựng hoàn thiện 1 nhà trường (kể cả trong dạy học) song không đi sâu vào
phương pháp dạy học. Đối với giáo viên, việc nghiên cứu giáo dục học sinh cá biệt
(kém giỏi) và tổ chức phong trào của lớp chủ nhiệm là hai mảng đề tài thừơng gặp và
cần thiết nhất. Cơ sở cho các công trình nghiên cứu này là tâm lý học, các nguyên lý
hiểu…và cuối cùng là một loạt kết luận được rút ra. Cũng có thể câu hỏi đó đã được
giải quyết ở nơi khác, trong điều kiện khác, nhưng tại địa phương lại nảy sinh những
mâu thuẫn mới cần giải quyết tiếp cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Nhiệm vụ của đề tài là giải đáp những điều chưa rõ, đem lại cái hoàn thiện hơn,
có thể phát hiện những quy luật hoặc những kết luận mang tính phổ biến, có thể phát
hiện cái mới hoặc cách làm nào đó phù hợp với quy luật hơn.
Tóm lại, một đề tài NCKHGD chỉ được chấp nhận khi nó hướng đúng vào giá
trị lý luận, thực tiễn nhất định và có ý nghĩa với giáo dục.
2.4. Các quan điểm cơ điểm về phương pháp luận nghiên cứu KHGD.
Một đề tài nghiên cứu KHGD muốn được chặt chẽ, mang tính thuyết phục thì
cần phải tuân thủ các mối quan hệ cũng như quy định sau (gọi là các quan điểm).
2.4.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc.
Một vấn đề nảy sinh trong bất cứ lĩnh vực nào, lĩnh vực nào đề được quy định
bởi hoàn cảnh, sự vật, sự việc bao quanh. Hay nói cách khác đi bản chất sự vật là
14
không riêng lẻ mà nó là một bộ phận của toàn thể, ta gọi đó là những chỉnh thể chứa
đựng vấn đề ấy. Điều đó cho thấy không thể “kéo riêng” sự việc, vấn đề ra để nghiên
cứu mà phải nghiên cứu nó trong một mạng lưới với các mối quan hệ ràng buộc, ta gọi
đó là hệ thống vấn đề nghiên cứu.
Khi phân tích sâu hơn, các mối liên hệ, sự phụ thuộc trên dưới (loại, hạng) mối
liên hệ hàng ngang, sự phụ thuộc bản chất, không bản chất người ta thấy một cấu trúc
rõ ràng của cái gọi là mạng lưới đã được nói ở trên.
Như vậy, hệ thống vấn đề luôn mang tính cấu trúc và ngược lại cấu trúc sự vật
là nhằm thống nhất chúng trong một hệ thống tồn tại khách quan. Quan điểm này
nhằm chỉ đạo người nghiên cứu một sự nhất quán trong tư duy cũng như tôn trọng sự
tồn tại khách quan của vấn đề nghiên cứu. Mối quan hệ thống nhất, biện chứng giữa hệ
thống và cấu trúc còn cần được thể hiện ở cách trình bày vấn đề sau khi đã được giải
quyết (bài viết). Kĩ năng này sẽ được nhắc đến ở phần 3 của chương này.
2.4.2. Quan điểm lịch sử - lô gích.
Ở đây nói đến sự tồn tại tất yếu của mọi sự vật, sự việc trong diễn biến của thời
quan sát không gặp nhiều khó khăn, mỗi trường hợp bản thân đã là môi trường sẵn có
cho người làm công tác giáo dục đến làm việc.
Vậy quan sát sư phạm là phương pháp thu nhập thông tin về quá trình giáo dục
trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm cho ta những tài liệu sống về thực
tiễn giáo dục để có thể khái quát nên những quy luật nhằm chỉ đạo tổ chức quá trình
giáo dục tốt hơn. Phương tiện để quan sát chủ yếu là tri giác trực tiếp. Nó có khả năng
có thể dùng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ để tài liệu quan sát để được xem kỹ hơn
máy chụp hình, quay phim, thu âm v.v…
2.5.1.2. Chức năng của phương pháp quan sát sư phạm.
- Thu nhận thông tin, phát hiện vấn đề từ trong thực tiễn quá trình giáo dục.
- Kiểm chứng các lý thuyết về giáo dục loại kết quả của phương pháp thực
nghiệm sư phạm.
- Mở đầu cho một phương pháp NCKHSP khác.
2.5.1.3. Các công việc của quan sát sư phạm.
a. Xác định rõ mục đích quan sát: Việc xác định mục đích rõ ràng sẽ làm
cho người lập phiếu quan sát tập trung hơn vào nội dung quan sát, nghĩa là cần trả lời
câu hỏi quan sát để làm gì?
Ví dụ: Cùng một công việc là sự học tập của một lớp học sinh, nếu với mục
đích là quan sát sự chú ý của các học sinh trong lớp thì các quan sát sẽ tập trung sự chú
ý vào học sinh. Nhưng nếu với mục đích là quan sát phương pháp giảng dạy của thầy
16
sao cho thu hút sự chú ý học sinh thì các dữ liệu quan sát chủ yếu là ở người thầy, các
dữ liệu của học sinh ( ánh mắt, nét mặt…) là để chứng minh cho việc ghi chép hoạt
động của thầy nhằm thu hút sự chú ý của học sinh.
b. Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát: Câu trả lời tiếp câu
hỏi: Quan sát cái gì, quan sát như thế nào và bằng cách gì? Nếu mục đích quan sát rõ
ràng thì nội dung quan sát sẽ dễ dàng được ấn định. Nội dung quan sát được thể hiện
qua việc lựa chọn đối tượng quan sát (mẫu quan sát), số lượng mẫu, định điểm thời
gian quan sát. Căn cứ quy mô đề tài và độ phức tạp của mẫu mã mà quyết định phương
pháp, phương tiện quan sát.
một nhận định khoa học.
2.5.1.4. Hai kiểu quan sát.
- Quan sát kiểu “chụp hình”: là ghi nhận đầy đủ thông tin các hoạt động của đối
tượng theo thứ tự thời gian.
- Quan sát kiểu tổng hợp: ghi nhận có trọng tâm các hoạt động của đối tượng. Ở
kiểu này người quan sát cũng ghi các hoạt động theo thời gian nhưng có thể tổng kết
một số hoạt động cùng loại để tính bằng số sau khi kết thúc buổi quan sát.
2.5.1.5. Đặc điểm của phương pháp quan sát.
- Các hoạt động sư phạm là rất phức tạp, nên người quan sát phải hết sức tập
trung và trung thành với phiếu quan sát.
- Kết quả quan sát có thể bị chi phối bởi chủ thể như : tình trạng, sức khỏe, tình
cảm, tính chủ quan hoặc những ảo giác về tâm lý khi làm việc căng thẳng.
* Những điểm cần chú ý :
- Khi quan sát đối tượng được quan sát có thể được báo trước hoặc không, tùy
người chủ trì đề tài và nội dung quan sát.
- Tuyệt đối không ghi nhận những ý kiến có tính chất cá nhân vào phiếu quan
sát.
BÀI TẬP
Hãy lập phiếu quan sát cho các đề tài nghiên cứu, sau khi các đề tài đó xác định
được mục đích như dưới đây :
1) Quan sát sân trường để đánh giá chủ trương của nhà trường và ý thức của học
sinh về vệ sinh môi trường giáo dục.
2) Quan sát thầy ( cô ) giảng trong 1 tiết học để nhận xét các cách mà thầy ( cô )
thể hiện nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào bài học.
18
3) Quan sát một lớp học để có nhận xét về bầu không khí học tập của lớp ấy.
4) Quan sát để đánh giá sơ bộ chất lượng một buổi tự học của bạn mình ( hoặc em
mình, anh mình ) ở ký túc xá hoặc ở nhà.
5) Quan sát một buổi học của sinh viên một lớp nào đó ( hoặc lớp mình ) để sơ bộ
một số vấn đề trong xã hội v.v…Điều tra cơ bản thường được thực hiện bằng hệ thống
các câu hỏi.
- Trưng cầu ý kiến về một quan điểm, một cách làm trong giáo dục. Loại này
thường điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp.
2.5.2.5. Các hình thức điều tra trong giáo dục.
- Phỏng vấn có chuẩn bị trước (bằng câu hỏi): Theo phương pháp này, nhà
nghiên cứu in sẵn bảng câu hỏi rồi giao cho đối tượng ( giao trực tiếp, giao qua cộng
tác viên, giao qua điện thoại ). Tất nhiên nhà nghiên cứu phải làm sao để đối tượng
hiểu được mục đích câu hỏi mà trả lời cho đúng và đúng sự thật.
- Phỏng vấn không, chuẩn bị trước: theo cách này, người nghiên cứu phải có
sẳn chủ đề để phỏng vấn để khi làm việc không hỏi lan man. Người phỏng vấn phải là
nhà nghiên cứu lão luyện để có thể ứng phó, tự điều chỉnh hướng trao đổi và đặc biệt
là có thể có ngay những câu hỏi sắc bén, khéo léo tế nhị. Phương cách này có thể thực
hiện cả bằng điện thoại.
- Nhóm trọng điểm (phương pháp não công – Brain storming). Đó là một kiểu
điều tra đặc biệt nhằm tìm kiếm những ý tưởng sáng tạo trong công việc. Tiến trình
của phương pháp làm này như sau : để giải quyết một khó khăn nào đó đang bị bế tắc,
nhà nghiên cứu tổ chức một cuộc trao đổi một nhóm các nhà chuyên môn (không nhất
thiết phải giống nhau). Những người này rất giàu trí tưởng tượng, họ được quyền đề
xuất bất kì lời giải nào, thậm chí những đề xuất ấy có vẻ như ngô nghê, không nghiêm
túc. Không ai được bình luận phê phán. Có 2 thư ký ghi trọn vẹn các cuộc trao đổi
(kéo dài vài giờ). Nhà nghiên cứu lấy các đề xuất ấy và tổ chức một cuộc trao đổi khác
trong nhóm các chuyên gia hỏi bình luận và nhận xét. Lại một lần nữa nhà nghiên cứu
lắng nghe họ nói để lọc lựa ý tưởng hay từ nhóm này.
Đối với cách này, nhà nghiên cứu phải đặt vấn đề thật giản dị dễ hiểu (ở nhóm
trước), biết lắng nghe, ít nói, đồng thời biết gợi ý, hướng các cuộc trao đổi đúng hướng
và đặc biệt là tìm các chuyên gia cho các nhóm khác nhau.
2.5.2.6. Các bước đi trong điều tra giáo dục.
20
a. Chọn mẫu điều tra : Mẫu điều tra là số lượng cá thể hoặc đơn vị được
số ).
21
+ Lấy các phần tử theo bước nhảy k với phần tử xuất phát là tùy ý cho đề
khi đã đủ kích thước mẫu.
* Lấy mẫu theo nhóm ngẫu nhiên :
Đôi khi cần điều tra trên diện rộng và nhiều địa bàn khác nhau, ta có thể chọn
mẫu theo kiểu này. Ví dụ điều tra về học vấn của mọi người dân của một tỉnh (mẫu
tổng thể (MTT), ta không thể phỏng vấn tất cả người dân trong tỉnh đó mà chỉ cho mẫu
ngẫu nhiên (mẫu nghiên cứu – MNC). Nếu chọn như các kiểu trên thì rất bất tiện. Ta
có cách chọn khác: giả sử tỉnh có 3 huyện, các huyện có số xã khác nhau (sơ đồ). Nếu
3 huyện có điều kiện tương đương nhau thì chúng ta có thể chọn 2 hoặc 1 huyện làm
MNC. Tuy nhiên không thể lấy tất cả các xã ra nghiên cứu. Vậy phải chọn ngẫu nhiên
các xã. Ở mỗi xã cũng chọn ngẫu nhiên ấp, rồi chọn ngẫu nhiên gia đình v.v… Hình 1
: Lấy mẫu ngẫu nhiên theo sơ đồ hành chính
- Thiết kế bảng câu hỏi : Bảng câu hỏi là một hệ thống câu hỏi đưa ra để các
cá nhân, đơn vị trả lời. Kết quả trả lời sẽ được xử lý để có thể nhận định cho mục tiêu
đã được đề ra của đề tài nghiên cứu. Vì vậy vấn đề chính ở đây là các câu hỏi.
Hai loại câu hỏi thường dùng:
+ Câu hỏi đóng : là loại câu hỏi yêu cầu người trả lời chỉ đánh dấu vào khả
năng cho trước. Có nhiều câu hỏi đóng.
Loại có 2 khả năng trả lời: Bảng câu hỏi chỉ yêu cầu trả lời có hoặc không
- Truyền thống của lớp này (về học tập) từ năm học trước tới giờ như thế
nào.
- Các giáo viên chuyên môn đánh giá về lớp này thế nào.
* Những chú ý về đặt câu hỏi :
- Câu hỏi phải đơn giản, thích hợp với mục đích nghiên cứu, dễ trả lời. Tránh
đặt câu hỏi không cần thiết, câu hỏi hình tượng.
Ví dụ: + Bạn tốt nghiệp đại học năm nào (tốt) ?
+ Trường này có nhiều giáo viên lâu năm, có kinh nghiệm. Bạn có cho
rằng bạn thuộc giáo viên đó chăng ? (dài dòng không cần thiết)
+ Mọi người cho rằng bạn là cây đa, cây đề của trường, bạn có đồng ý
không (hình tượng không cần thiết) ?
23
Không dùng những từ ngữ, khái niệm khó hiểu, vượt quá khả năng người trả
lời, từ ngữ nước ngoài…
Ví dụ :
+ Bạn thấy bằng Diploma (hoặc master) khi nào ?
+ Hình như thí nghiệm của bạn là thí nghiệm mô phỏng ?
Câu hỏi phải đơn trị (chỉ có 1 cách trả lời).
Ví dụ:
+ Bạn có nâng cao trình độ, lấy bằng Thạc sĩ không ? (Nâng cao trình độ
không đồng nghĩa với lấy bằng Thạc sĩ. Đây là câu đa trị).
Không cần thiết đi vào đời tư của người trả lời, làm người ta khó nói.
Ví dụ :
+ Tránh hỏi phụ nữ về tuổi tác, đời tư.
+ Tránh hỏi trực tiếp (khi không cần thiết) về trình độ, thái độ bản thân,
khả năng v.v…như : Anh dạy có giỏi không ? Anh có yêu nghề không ?
Trong trường hợp cần thiết để biết những vấn đề ấy, cần chuẩn bị một số câu
hỏi « cầu vòng » làm cơ sở phán đoán.
+ Tránh hỏi những câu hỏi mà ta biết chắc câu trả lời.
+ Đồng lương giáo viên của anh có đủ sống không ? ( chắc chắn là không ).
kiểm tra.
PPTNSP được dùng khi đã có kết quả điều tra, quan sát các hiện tượng giáo
dục, cần khẳng định lại cho chắc chắn các kết luận đã được rút ra. PPTNSP cũng là
phương pháp được dùng khi nhà khoa học sư phạm, nhà nghiên cứu đề ra một phương
pháp giáo dục, một phương pháp dạy học mới, một nội dung giáo dục hay dạy học
mới, một cách tổ chức dạy học mới, một phương tiện dạy học mới v.v…
TNSP là so sánh kết quả tác động của nhà khoa học lên một nhóm lớp, gọi là
nhóm thực nghiệm, với một nhóm tương đương không được tác động (dạy, giáo dục
theo cách bình thường vẫn được giáo viên phổ thông sử dụng) gọi là nhóm đối chứng.
Để có kết quả thuyết phục hơn, sau một đợt nghiên cứu có thể đổi vai trò của hai lớp
cho nhau, nghĩa là nhóm thực nghiệm trở thành nhóm đối chứng và ngược lại. Vì là
thực nghiệm trên con người nên từ việc tổ chức đến cách thực hiện phương pháp và
lấy kết quả đều mang tính phức tạp của nó.
2.5.3.2. Đặc điểm của PPTNSP.
Xuất phát của phương pháp này là các giả thuyết (từ thực tế), các phán đoán,
(bằng tư duy, bằng việc đưa ra phương pháp dạy học mới, bằng việc sử dụng phương
25
tiện dạy học mới… ) để khẳng định, hoặc bác bỏ chúng. Điều này, các giả thuyết, giả
định hoặc phán đoán ) bắt buộc phải có trong bài viết ( xem phần, mục 5.3.0. )
Kết quả TNSP có thể là khẳng định (hoặc phủ định) cái mới, tìm ra lý thuyết
mới, quy luật mới hoặc một sự phát triển mới trong giáo dục. Vì đối tượng là con
người, là số đông nên số đo hoặc các mã hóa kết quả không hoàn toàn chính xác nên
cần được xử lý bằng thống kê. Vai trò của phương pháp quan sát và điều tra vẫn còn
được tiếp tục sử dụng ở đây, nếu nhà nghiên cứu cần một số liệu bổ sung hoặc kiểm
tra lần cuối sau khi PPTNSP đã có kết quả.
2.5.3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm.
Các nội dung cần TNSP:
a. Nội dung nghiên cứu rút ra rừ các kết luận của quan sát sư phạm, của
điều tra.
Ví dụ: