Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ THUẾ NHẬP
KHẨU MẶT HÀNG ÔTÔ
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ NHẬPKHẨU
1.1.1. Xuất sứ và khái niệm về thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung quốc. Do có những lợi thế so
sánh tương đối và tuyệt đối (chủ yếu là tuyệt đối) mà một số hàng hóa sản
xuất ở quốc gia này có giá thành thấp hơn ở một số quốc gia khác. Các
thương gia đã vận chuyển các mặt hàng đó sang các quốc gia có giá thành cao
hơn nhằm thu lợi nhuận. Để có thể vận chuyển hàng hóa và tham gia thị
trường của một quốc gia, các thương gia phải nộp một khoản tiền cho chính
quyền sở tại. Lâu dần các khoản tiền này được hợp thức hóa thành một khoản
thu của Chính phủ và dần dần trở thành một sắc thuế của quốc gia, đó là thuế
nhập khẩu hay còn gọi là thuế quan. Ban đầu, thuế nhập khẩu chỉ thu đối với
hàng hóa vận chuyển ở đường bộ, dần dần thuế nhập khẩu được thu đối với
hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy, đường sắt và đường hàng không.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tự do
hóa thương mại, dịch vụ, đầu tư…đang trở thành một trào lưu chung của thế
giới. Tuy nhiên, do những lý do về kinh tế, chính trị, xã hội riêng có ở mỗi
quốc gia mà việc tự do hóa thương mại vẫn bị ngăn chặn ở những mức độ
khác nhau. Một trong những công cụ có tính chất cổ điển trong chính sách
ngoại thương của các chính phủ là công cụ thuế quan. Thuế nhập khẩu là một
loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn
gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu.
1
1.1. 2. Phân loại thuế nhập khẩu
Tuỳ thuộc vào tiêu thức và yêu cầu của việc phân loại, có nhiều cách
phân loại thuế nhập khẩu, đó là:
1.1.2.1. Căn cứ vào mục đích của việc thu thuế
Nếu căn cứ vào mục đích của việc thu thuế thì thuế nhập khẩu được
chia thành các loại sau:
thương mại giữa các nước.
1.1.2.3. Căn cứ vào cách thức đánh thuế
Nếu căn cứ vào cách thức đánh thuế thì thuế nhập khẩu được phân
thành các loại:
- Thuế nhập khẩu tính theo tỷ lệ phần trăm (%): Thuế nhập khẩu tính
thuế theo tỷ lệ phần trăm là hình thức tính thuế được quy định theo tỷ lệ phần
trăm (%) tính trên trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu .
- Thuế nhập khẩu tính theo đơn vị (thuế tuyệt đối):
Tính thuế theo mức tuyệt đối là thuế được ấn định bằng số tiền nhất
định tính trên một đơn vị hàng hóa nhập khẩu, chẳng hạn như: thu thuế nhập
khẩu 20.000USD/chiếc xe ô tô, 5 USD/m
2
kính xây dựng
- Thuế kết hợp giữa thuế tính theo tỷ lệ phần trăm (%) và thuế tuyệt đối:
Tính thuế kết hợp giữa tính theo tỷ lệ phần trăm (%) và thuế tuyệt đối
là sự kết hợp giữa thuế nhập khẩu tính theo tỷ lệ và thuế nhập khẩu tính theo
đơn vị. Ví dụ, ngoài việc phải nộp thuế nhập khẩu bằng 150% trị giá tính thuế
3
của chiếc xe ô tô nhập khẩu từ Hàn Quốc thì nhà nhập khẩu còn phải nộp
thêm số tiền thuế tính theo mức tuyệt đối cho chiếc xe đó là 2.000USD.
Để phát huy tính điều tiết bao quát của cả hai hình thức thuế phần trăm
và thuế tuyệt đối, phương thức kết hợp hoặc hỗn hợp giữa thuế tuyệt đối và
thuế phần trăm thường được áp dụng phổ biến hơn so với phương thức chỉ áp
dụng thuế tuyệt đối hoặc chỉ áp dụng thuế theo tỷ lệ phần trăm.
- Thuế nhập khẩu biến thiên:
Thuế nhập khẩu biến thiên là thuế nhập khẩu được đánh trên hàng nhập
khẩu, nhưng thuế suất thay đổi thường xuyên, thậm chí mỗi ngày. Sắc thuế
này thường được ấn định ở một mức nhằm triệt tiêu ưu thế về giá cả của nước
xuất khẩu đối với hàng hóa sản xuất trong nước. Loại thuế nhập khẩu kiểu
này được các nước trong nội bộ Liên minh Châu Âu (EU) áp dụng đối với các
Trên nguyên tắc những loại hàng hóa tuy đi vào lãnh thổ quốc gia,
nhưng không tiêu thụ ở thị trường của quốc gia đó, hoặc hàng nhập vào thị
trường của quốc gia đó song không mang tính kinh doanh mà chỉ vì mục tiêu
nhân đạo thì không thực hiện chịu thuế nhập khẩu.
Cụ thể, theo qui định hiện hành thì các trường hợp vận động của hàng
hóa sau đây không chịu thuế nhập khẩu của quốc gia đó:
5
Thứ nhất, Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa
khẩu, biên giới quốc gia trên cơ sở hiệp định ký giữa hai chính phủ, hoặc
ngành, điạ phương được Thủ tướng Chính phủ cho phép. Hàng từ nước ngoài
nhập vào khu chế xuất của quốc gia, hoặc hàng vận chuyển từ khu chế xuất
này sang khu chế xuất khác trên lãnh thổ quốc gia đó.
Thứ hai, Hàng chuyển khẩu, gồm các hình thức:
- Hàng chuyển đến cảng của quốc gia đó nhưng không làm thủ tục nhập
khẩu vào quốc gia đó mà đi luôn đến cảng nước nhập khẩu.
- Hàng đưa vào kho ngoại quan rồi chuyển đến nước khác không làm
thủ tục nhập khẩu vào quốc gia đó mà theo qui chế quản lý kho ngoại quan.
Thứ ba, Hàng viện trợ nhân đạo của các tổ chức Liên hợp quốc, viện
trợ nhà nước theo các chương trình dự án viện trợ đã được ký kết và các
khoản viện trợ đột xuất của chính phủ, tổ chức nước ngoài để hỗ trợ khắc
phục thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh…
1.1.4.3. Đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế là các thể nhân và pháp nhân làm nhiệm vụ nhập khẩu
được phép nhập khẩu các hàng hóa thuộc diện chịu thuế nhập khẩu bao gồm:
- Chủ hàng hóa nhập khẩu
- Tổ chức nhận ủy thác nhập khẩu
- Cá nhân có hàng hóa nhập khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh, gửi hoặc
nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới quốc gia.
1.1.4.4. Căn cứ tính thuế và cách tính thuế.
Để đảm bảo công bằng giữa người tiêu dùng và người sản xuất ở các
- Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ
nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong
quan hệ thương mại với quốc gia đó. Thuế suất ưu đãi được qui định cụ thể
cho từng mặt hàng tại biểu thuế nhập khẩu ưu đãi do Bộ trưởng Bộ Tài Chính
ban hành. Người nộp thuế tự khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về
xuất xứ hàng hóa.
- Thuế suất ưu đãi đặc biệt (GPS), áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có
xuất xứ từ nước mà quốc gia và nước đó có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế
nhập khẩu. Chính phủ qui định thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với từng mặt
hàng theo thỏa thuận đã ký kết với các nước.
- Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất
xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ
quốc và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với quốc gia đó.
Thuế suất thường được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế suất ưu đãi
của từng mặt hàng tương ứng quy định tại Biểu thuế suất ưu đãi
Thuế suất thông thường = thuế suất ưu đãi x 150%
Ngoài việc chịu thuế theo qui định trên, nếu hàng hóa nhập khẩu quá
mức vào quốc gia đó, có sự trợ cấp, được bán phá giá hoặc có sự phân biệt
đối xử đối với hàng hóa xuất khẩu của quốc gia đó thì bị áp dụng thuế chống
trợ cấp, thuế chống bán phá giá, thuế chống phân biệt đối xử, thuế để tự vệ và
được thực hiện theo các văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn riêng.
1.1.4.5. Miễn, giảm và hoàn thuế nhập khẩu.
8
Các trường hợp miễn thuế nhập khẩu.
- Hàng viện trợ không hoàn lại, bao gồm: hàng viện trợ song phương,
đa phương của các tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ; hàng viện
trợ do các tổ chức nhân đạo, giáo dục, y tế, văn hóa nước ngoài của các tổ
chức tôn giáo quốc tế viện trợ cho các cơ quan khoa học, giáo dục, y tế, văn
hóa và các tổ chức tôn giáo ở quốc gia đó để dùng trực tiếp cho khoa học,
giáo dục, y tế, văn hóa, tôn giáo.
Trường hợp giảm thuế.
Hàng hóa trong quá trình vận chuyển, bốc xếp bị hư hỏng, mất mát có
lý do xác đáng được Công ty giám định hàng hóa xuất, nhập khẩu chứng nhận
thì được giảm thuế tương ứng với tỷ lệ hư hao của hàng hóa.
Các trường hợp hoàn thuế.
Theo qui định hiện hành, thuế nhập khẩu được hoàn lại trong các
trường hợp sau:
- Hàng nhập khẩu đã nộp thuế mà còn lưu kho, lưu bãi ở cửa khẩu được
Bộ thương mại cho phép tái xuất.
-
Hàng đã nộp thuế theo tờ khai nhưng thực tế nhập khẩu ít hơn
.
10
- Hàng đã nhập khẩu nhưng chưa phù hợp về chất lượng so với hợp
đồng, giấy phép nhập khẩu, vì phía chủ hàng nước ngoài gửi sai, có biên bản
giám định của Vinacontrol, có xác nhận của chủ hàng.
- Hàng nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu,
được hoàn thuế tương ứng tỷ lệ thành phẩm xuất khẩu.
-
Hàng tạm nhập để tái xuất về nguyên tắc không nộp thuế, nhưng nếu
đã nộp thì được hoàn lại số tiền thuế tương ứng số hàng đã xuất.
-
Hàng nhập khẩu một số doanh nghiệp của quốc gia đó được phép
nhập để làm đại lý, giao bán cho nước ngoài có đăng ký trước với Bộ Tài
Chính thì được hoàn thuế đối với số hàng thực bán để đưa ra khỏi quốc gia.
1.1.5. Ảnh hưởng của thuế nhập khẩu
1.1.5.1. Ảnh hưởng của thuế nhập khẩu khi nước có nền kinh tế nhỏ.
Trong hoạt động ngoại thương, một nền kinh tế nhỏ được hiểu với một
khái niệm là nền kinh tế đó có thị phần rất nhỏ bé và không có khả năng chi
phối giá cả thế giới ở một mặt hàng, một nhóm mặt hàng cụ thể nào đó. Do
D
Biểu 1.1: Ảnh hưởng của thuế nhập khẩu đối với giá cả của nước có
nền kinh tế nhỏ
Giả sử mặt hàng X của một quốc gia chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ
trong tổng mặt hàng của thế giới. S là đường cung, D là đường cầu nội địa của
mặt hàng này. Nếu nền kinh tế đóng cửa hoàn toàn, thị trường cân bằng cung-
cầu tại điểm E với giá P
0
, sản lượng Q
0
.
Trong khi đó, giá thế giới của mặt hàng này (giá CIF) là P
w
, thấp hơn
nhiều so với P
0
.
Nếu với mức giá P
w
, lượng cung nội địa chỉ là Q
s
, nhỏ hơn nhiều so với Q
0
,
trong khi đó lượng cầu lại là Q
D
, lớn hơn nhiều Q
0
. Nền kinh tế thiếu hụt sản
- Mất một khoản thặng dư tiêu dùng lớn
- Sẽ giảm mức tiêu dùng mặt hàng X từ Q
D
xuống Q
Dt
tức giảm tiêu
dùng một lượng Q
D
– Q
Dt
. Đó là ảnh hưởng tiêu dùng của thuế quan.
12
Đối với người sản xuất:
- Thu được một khoản thặng dư sản xuất ròng.
- Tăng sản lượng sản xuất nội địa từ Q
s
lên Q
st
do giá mặt hàng X tăng
từ P
w
lên P
t
. Khi sản xuất mặt hàng X được mở rộng sẽ thu hút các nguồn lực
trong nước vào sản xuất mặt hàng X (ngành được bảo hộ bằng thuế quan).
Người ta gọi ảnh hưởng này là ảnh hưởng bảo hộ của thuế quan.
Đối với hoạt động ngoại thương: Thuế quan làm giảm lượng
hàng hóa nhập khẩu từ (Q
D
- Q
s
+ Q
st
)/2; một phần, (2) là những lãng
phí mà xã hội phải trả thêm cho việc sản xuất mặt hàng X trong nước thay cho
việc nhập khẩu theo giá chung của quốc tê (còn gọi là chi phí bảo hộ):
13
T
bh
= t x (Q
st
– Q
s
)/2; một phần (4) là những mất mát vô ích (hay còn gọi là
phần “mất trắng hoàn toàn”) của lợi ích tiêu dùng so với chi phí biên của xã
hội mà xã hội đã hy sinh khi giảm mức tiêu dùng mặt hàng X từ Q
D
xuống
Q
Dt
. T
mt
= t x (Q
D
– Q
Dt
)/2. Mất mát ròng của xã hội do việc đánh thuế nhập
khẩu sẽ bao gồm hai diện tích (2) và (4). Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho
việc buôn lậu.
Từ sự phân tích trên đây của thuế nhập khẩu với một mặt hàng được
1.1.5.2. Ảnh hưởng của thuế nhập khẩu khi nước có nền kinh tế
lớn.
Nền kinh tế lớn là nền kinh tế chiếm thị phần lớn và hầu như chi phối
hoàn toàn giá cả của thị trường thế giới ở một mặt hàng, một nhóm mặt hàng
nào đó. Giá cả của nền kinh tế lớn đồng nghĩa với giá cả thế giới. Giả sử nước
có nền kinh tế lớn đánh thuế nhập khẩu vào mặt hàng Y nào đó. Ảnh hưởng
thuế quan sẽ được thấy rõ qua hình sau:
Biểu 1.2: Ảnh hưởng của thuế nhập khẩu đến giá cả đối với nước có
nền kinh tế lớn
15
S
D
P (giá)
Q (sản lượng)
2
1
P
w
Q
1
P
t
Q
0
Nước có nền kinh tế lớn đánh thuế nhập khẩu (t) vào mặt hàng Y, lúc
này giá của nhà xuất khẩu chỉ còn P
t
= P
w
- t. Sản lượng xuất khẩu tương ứng
- Đối với nguồn thu nhập của ngân sách nhà nước có nền kinh tế lớn:
Thuế quan mang lại một khoản thu nhập cho ngân sách nhà nước là: T = t x Q
1
.
- Đối với khía cạnh tái phân phối: Khi áp dụng thuế quan thì thu nhập
của người xuất khẩu chuyển sang thu nhập của nhà nước có nền kinh tế lớn.
Sự giảm sút thặng dư của người sản xuất hàng xuất khẩu nước ngoài sẽ bao
gồm phần diện tích (1) + (2). Một phần làm tăng thêm số thu của ngân sách
nhà nước (1) = T; một phần (2) là những mất mát vô ích (hay còn gọi là phần
16
“mất trắng hoàn toàn”) của thặng dư người sản xuất hàng xuất khẩu nước
ngoài. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho nạn buôn lậu.
1.2. THUẾ NHẬP KHẨU ĐÁNH VÀO MẶT HÀNG ÔTÔ.
Hiện nay, ôtô là phương tiện vận chuyển khá phổ biến trên thế giới. Ở
các nước phát triển ôtô là phương tiện vận chuyển khá phổ biến. Đối với các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, số lượng ôtô đưa vào sử dụng
ngày càng nhiều. Song thực tế thấy rằng, ngành công nghiệp sản xuất ôtô hiện
nay phát triển mạnh ở những nước có trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ
phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản,…còn đối với các nước
đang phát triển thì ngành công nghiệp sản xuất ôtô vẫn còn chưa phát triển. Vì
thế, nó chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của người dân trong nước. Điều đó,
dẫn đến việc phải nhập khẩu ôtô từ các nước khác. Tuy nhiên, việc nhập khẩu
với số lượng bao nhiêu phải nằm trong giới hạn cho phép nhập khẩu của
Chính phủ nước đó. Để ngăn ngừa ôtô tràn lan vào thị trường nội địa, đồng
thời tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao
thông…Chính phủ quốc gia đó đã sử dụng công cụ thuế nhập khẩu đối với
mặt hàng ôtô. Thuế nhập khẩu ôtô được coi như là một công cụ hữu hiệu nhất
để bảo hộ cho nền sản xuất ôtô của quốc gia đó.
Ôtô được chia ra làm các loại:
- Xe ôtô chở người gồm có nhiều loại ví dụ như: Xe dưới 10 chỗ ngồi;
- Xe téc.
Tóm lại, trong chương 1 đã khái quát xuất xứ của thuế nhập khẩu, ảnh
hưởng thuế nhập khẩu đối với các nền kinh tế. Đồng thời nghiên cứu, tìm hiểu
về các loại ôtô, căn cứ để đánh mức thuế suất nhập khẩu đối với từng loại mặt
hàng ôtô. Tiếp đến chương 2 sẽ trình bày về thực trạng thuế nhập khẩu đối
với mặt hàng ôtô ở Việt Nam.
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI MẶT HÀNG ÔTÔ
Ở VIỆT NAM
2.1. KHÁI QUÁT VÀI NÉT VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP ÔTÔ VÀ NHẬP KHẨU
ÔTÔ Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.1.1. Ngành công nghiệp ôtô ở Việt Nam
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là ngành sinh sau đẻ muộn, ra đời
sau các nước trong khu vực từ 40-50 năm. Ngành công nghiệp ôtô là ngành
rất quan trọng, phục vụ rất hiệu quả trong quá trình công nghiệp hoá – hiện
đại hoá và xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng của đất nước và là ngành
luôn luôn được ưu đãi nhất trong số các ngành công nghiệp.
Nền tảng của các doanh nghiệp ôtô trong nước là những doanh nghiệp
lớn trước kia chuyên làm công việc sửa chữa, đại tu xe, nay được đầu tư bổ
sung, nâng cao năng lực sản xuất. Các doanh nghiệp ôtô hầu hết được tổ chức
theo hướng chuyên môn hóa một số chủng loại xe với dây chuyền sản xuất
đơn giản như: gò, hàn, sơn, lắp ráp thiếu sự liên kết với nhau. Hơn thế nữa,
trang thiết bị phần lớn đã hết khấu hao, rất lạc hậu.
19
Việc “chế tạo” ôtô ở Việt Nam chỉ dừng lại chủ yếu ở việc hàn, sơn, và
sản xuất một số linh kiện, phụ tùng như lốp, ắc quy, ghế, đèn trần, tay nắm
cửa Động cơ ôtô vẫn phải nhập, hầu như dưới dạng nguyên chiếc. Phần lớn
các chi tiết vỏ xe phải nhập khẩu dưới dạng CKD. Kính, đèn vẫn phải nhập
khẩu phần lớn. Thống kê cho thấy tỷ trọng nội địa hóa trong nhiều mẫu xe chỉ
dừng lại ở con số 5-6%, và thường không vượt quá 20% trong toàn ngành.
+ Công suất thiết kế: 185.000 xe/năm
+ Kiểu dáng: 28 kiểu xe
+ Số doanh nghiệp tham gia sản xuất, lắp ráp, sửa chữa và chế tạo phụ
tùng ôtô: 160 doanh nghiệp trong đó 60 doanh nghiệp chuyên chế tạo phụ tùng.
+ Đối tác nước ngoài: Mỹ, Nhật, Tây Âu
+ Dự án đang triển khai: 11 dự án. Công suất: 132.600 ngàn xe/năm
+ Sản lượng khai thác: 5-6 ngàn xe/năm (5% công suất thiết kế).
Theo dự báo của Mitsubishi, nhu cầu xe hơi tại Việt Nam vào năm
2010 sẽ là 250.000 xe, trong đó nhu cầu các loại xe trong nước đã sản xuất
được chỉ khoảng 50%.
Theo quyết định 177/2004/QĐ-TTG dự kiến sản lượng ôtô các loại cụ
thể là:
Bảng 2.1: Bảng dự kiến sản lượng ôtô các loại
Đơn vị: Xe
21
STT Loại xe
Năng lực
hiện tại
năm 2006
Sản lượng
yêu cầu
năm 2010
(dự báo)
Sản
lượng cần
bổ sung
năm 2010
Ghi chú
1
Xe con đến 5 chỗ
22
1 Tổng số ô tô 120.000 239.000 398.000
2 Xe con đến 5 chỗ ngồi 32.000 60.000 116.000
3 Xe con từ 6 - 9 chỗ ngồi 3.000 10.000 28.000
4 Xe khách 15.000 36.000 79.900
+ 10 - 16 chỗ ngồi 9.000 21.000 44.000
+ 17 - 25 chỗ ngồi 2.000 5.000 11.200
+ 26 - 46 chỗ ngồi 2.400 6.000 15.180
+ > 46 chỗ ngồi 1.600 4.000 9.520
5 Xe tải 68.000 127.000 159.800
+ Đến 2 tấn 40.000* 57.000* 50.000
+ > 2 tấn - 7 tấn 14.000 35.000 53.700
+ > 7 tấn - 20 tấn 13.600 34.000 52.900
+ > 20 tấn 400 1.000 3.200
6 Xe chuyên dùng 2.000 6.000 14.400
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Khả năng tiêu thụ của thị trường ô tô Việt Nam trong tương lai rất lớn
nhưng năng lực sản xuất hiện tại của nhiều loại xe còn chưa đáp ứng được
nhu cầu đó. Đây chính là cơ hội mở cho các nhà đầu tư.
2.1.2. Tình hình nhập khẩu ôtô ở Việt Nam trong những năm gần
đây.
2.1.2.1. Năm 2007
23
Thị trường ôtô Việt Nam sẽ rất sôi động. Giờ là lúc, ngành công nghiệp
xe hơi Việt Nam cần có những bước chuẩn bị cho cuộc hội nhập bắt buộc và
sự đòi hỏi quyền lợi của người tiêu dùng có thể sẽ đến trong nay mai.
Trong năm 2007, thuế suất thuế nhập khẩu ôtô liên tục được thay
đổi và giảm dần theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam. Tổng cục Hải
quan cho biết, trong số xe nhập về sau khi giảm thuế nhập khẩu, lượng xe
nhập khẩu tăng kỷ lục, với 28.000 xe các loại, bằng 223% lượng xe nhập
đôi chút, đạt khoảng 30 triệu USD.
Như vậy, kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc trung bình trong hai
tháng đầu năm 2009 chỉ bằng khoảng một nửa kim ngạch của tháng 12/2008
(57,3 triệu USD, với lượng xe nhập về đạt con số 2.000 chiếc).
Còn nếu so sánh với cùng kỳ năm 2008, kim ngạch nhập khẩu ôtô
nguyên chiếc trong hai tháng đầu năm 2008 có mức giảm rất mạnh mẽ, có khi
chỉ bằng khoảng 24,7% về lượng và 27% về giá trị.
Việc kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc giảm mạnh trong hai
tháng đầu năm, theo các chuyên gia phân tích, là hoàn toàn dễ hiểu. Bởi trong
bối cảnh kinh tế suy thoái, thắt chặt chi tiêu thì nhu cầu mua sắm ôtô của
người dân, các cơ quan và kể cả của các doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân
là rất thấp.
25