ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TỐT NGHIỆP
MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
Câu 1: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam?
a. Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng
chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng:
- Ngày 5 - 6 - 1911, từ cảng Nhà Rồng, Nguyễn Ái Quốc làm phụ bếp trên tàu Đô
đốc Trêvin và bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm, hòa mình vào cuộc sống lao động
Pháp để tìm đường cứu nước. Từ 1911 đến 1917, Người đã đến nhà nước châu Âu,
châu Phi và châu Mĩ. Cuối năm 1917, Người trở lại Pháp sau 8 năm bôn ba và gia
nhập Đảng Xã hội Pháp vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lí tưởng của
Đại Cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng và Bác ái.
- Ngày 18 - 6 - 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn
Tất Thành với tên gọi là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xai Bản yêu sách
của nhân dân An Nam. Bản yêu sách đòi chính phủ Pháp và các nước đồng minh
thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân An Nam.
Bản yêu sách đó đã không được Hội nghi Véc-xai chấp nhận. Sự thật đó cho thấy
những lời tuyên bố của các nhà chính trị đế quốc về quyền tự do dân chủ và quyền
tự quyết của các dân tộc mà điển hình là chương trình 14 điểm của Tổng thống Mĩ
Uyn-xơn chỉ là trò bịp để lừa các dân tộc. Vì vậy, muốn được giải phóng, các dân
tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình.
- Giữa năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về
vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-Nin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội
Pháp, Luận cương của Lê-Nin đã giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định muốn cứu
nước và giải phóng dân tộc thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
- Ngày 25 - 12 - 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc của
Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua. Người đã đứng về phía đa số đại biểu bỏ
phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
1
Nguyễn Ái Quốc trở thành người đảng viên cộng sản Pháp, đồng thời là một trong
những người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
- Tháng 6 - 1925, Người sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và lấy Cộng
sản đoàn làm nòng cốt. Đây là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Nhờ hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên, phong trào cách mạng ở trong nước ngày càng phát triển sôi nổi, khuynh
hướng các mạng vô sản dần dần chiếm ưu thế trong phong trào dân tộc. Đến năm
1929, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng cơ sở ở khắp ba kì.
Những hoạt động của Người từ 1911 đến 1929 có tác dụng quyết định trong việc
chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và đạo đức cho việc thành lập chính đảng của giai
cấp vô sản Việt Nam.
b. Thống nhất phong trào cộng sản, sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam:
- Sau một thời gian dài hoạt động có hiệu quả, tổ chức Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên dần dần mất vai trò lịch sử. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách
mạng trong nước đòi hỏi phải có một đảng cách mạng tiên phong đủ sức lãnh đạo
và đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Để đáp ứng nhu cầu đó, từ giữa đến cuối năm
1929, ở Việt Nam đã lần lượt xuất hiện ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng
sản đảng, An Nam Cộng sản đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
- Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản nói trên đánh dấu sự phát triển vượt bậc của
phong trào cách mạng nước ta. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, các tổ chức
này đã đả kích lẫn nhau, làm giảm uy tín của các tổ chức cộng sản và gây ảnh
hưởng tiêu cực đến phong trào cách mạng đang lên.
- Từ 3 - 2 đến 7 - 2 - 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị để hợp nhất các tổ
chức cộng sản tại Hương Cảng ( Trung Quốc ). Người chủ trì hội nghị và đã phân
tích những hoạt động bè phái, chia rẽ của ba tổ chức cộng sản và tác hại của nó. Do
yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam và uy tín đức độ của Người nên đã đã
thống nhất được các tổ chức cộng sản. Hội nghị nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng
3
sản Việt Nam thành đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã
vạch ra đường lối, phương hướng cơ bản cho cách mạng Việt Nam ( đây chính là
bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam).
Quốc, Hồ Chí Minh) ngày 5/6/1911 đã ra đi tìm đường cứu nước theo phương
hướng mới. Người đã đi qua nhiều nước ở Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và đã
rút ra kết luận là chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ
cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc
địa. Cũng từ đấy Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia thành lập
Đảng Cộng sản Pháp cuối năm 1920, và xác định con đường cứu nước, con
đường giải phóng dân tộc đúng đắn: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên
thế giới khỏi ách nô lệ”.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-
Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị
về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh, cách
mạng muốn thành công phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo. Đảng
phải có hệ tư tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn đường, đó là hệ tư
tưởng Mác-Lênin. Với tác phẩm “Bản án chế độ tựhc dân Pháp” và “Đường
cách mệnh”, đặc biệt là việc xuất bản tờ báo Thanh niên, số đầu tiên ra ngày
21/6/1925, Người đã chuẩn bị về đường lối chính trị để tiến tới thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ
chức và cán bộ với việc lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức đào
tạo cán bộ và cử di học ở liên xô.
Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của
đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất 3
5
tổ chức cộng sản (An Nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản Đảng, Đông
Dương cộng sản Liên đoàn) đã nhất trí thành lập một đảng cộng sản duy nhất,
lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Sự ra đời của Đảng là sản
phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam.
màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân vững bước tiến leen con đường
thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế đông dương.
Câu 3: Phân tích tính đúng đắn sáng tạo của bản Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Tính đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh được thể hiện ở những vấn đề sau:
Về cơ sở lí luận: Cương lĩnh đã dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, một hệ thống lí luận tiến bộ đúng đắn và khoa học.
Cương lĩnh khẳng định cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách
mạng tư sản dân quyền và Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn cách
mạng này kế tiếp nhau, không có bức tường nào ngăn cách. Cương lĩnh chủ
trương: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản”. Qua đó, ta thấy rằng: ngay từ đầu, Đảng ta đã nhận thức rõ con
đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam là kết hợp và gương cao hai
ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là điều hoàn toàn đúng đắn vì
nó phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của lịch sử nước ta. Đồng thời, chúng ta cũng
thấy được sự vận dụng sáng tạo và hợp lí lí luận cách mạng không ngừng của
chủ nghĩa Mác-Lênin.
Cương lĩnh khẳng định, nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta là
chống đế quốc và chống phong kiến. Điều này cũng thể hiện tính đúng đắn và
sáng tạo của Cương lĩnh. Tính đúng đắn và sáng tạo thể hiện ở chỗ Cương lĩnh
đã giải quyết đúng hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam và vận dụng sáng
7
tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Mâu thuẫn chủ yếu
của xã hội Việt Nam lúc đó là: Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với
thực dân Pháp xâm lược; mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến.
Cách mạng Việt Nam muốn đi đến thắng lợi phải giải quyết thành công hai
mâu thuẫn đó, nghĩa là phải hoàn thành hai nhiệm vụ mà Cương lĩnh đã đề ra.
Về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ trên, Cương lĩnh đã đề cao vấn đề dân tộc
hơn vấn đề đấu tranh giai cấp và chống phong kiến là đúng đắn và sáng tạo. Vì:
Xã hội Việt Nam lúc đó có hai mâu thuẫn như vừa nêu trên, nhưng mâu thuẫn
nghiệm của cách mạng tháng Tám 1945?
*Nguyên nhân :
Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh khó khách quan rất thuận lợi :
kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát xít Nhật bị Liên Xô và quân Đồng minh
đánh bại, quân đội nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu. Chính phủ
Trần Trọng Kim rệu rã . Đảng Cộng sản Đông Dương đã chớp thời cơ đó phát
động toàn dân nổi dậy nên đã giành được thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu.
Cách mạng Tháng Tám là kết quả và đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của toàn
dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng , mà trực tiếp là phong trào giải phóng dân
tộc năm 1939-1945. Trong quá trình đó ,Đảng đã xây dựng được 1 lực lượng
chính trị hùng hậu; từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân , được
nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc, có chỗ đứng chân ngày càng vững chắc trong
căn cứ địa cách mạng , giữ vai trò nòng cốt , xung kích , hỗ trợ ho quần chúng
nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ chức lãnh đạo cuộc cách mạng Tháng
8 . Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn , dày dạn kinh nghiệm đấu tranh
bắt rễ sâu trong quần chúng, đoàn kết và thống nhất , quyết tâm lãnh đạo quần
chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản
9
nhất , quyết định thắng lợi của cách mạng Tháng Tám.
*Ý nghĩa :
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 là 1 cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển
hình do Đảng cộng sản lãnh đạo, lần đầu tiên giành thắng lợi ở 1 nước thuộc
địa. Với thắng lợi của cách mạng tháng 8 , nhân dân Việt Nam đã đập tan
xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần 1 thế kỷ trên đất nước ta ,
chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên
nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa , nhà nước do nhân dân lao động làm chủ.
Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người độc lập , tự do , người
làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ 1 nước thuộc địa trở thành một nước
độc lập tự do. Đảng Cộng Sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật không
Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ , cứu nước bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng
đắn của Đảng CỘng sản Việt Nam, người đại biểu trung thành cho những lợi
ích sống còn của cả dân tộc Việt Nam, 1 Đảng có đường lối chính trị. Đường
lối quân sự độc lập , tự chủ , đúng đắn , sáng tạo.
Thắng lợi đó là kết quả của cuộc chiến đấu đầy gian khổ hi sinh của nhân
dân và quân đội cả nước , đặc biệt là của cán bộ , chiến sĩ và hàng chục triệu
đồng bào yêu nước ở Miền Nam ngày đêm đối mặt với quân thù xứng đáng với
danh hiệu “ Thành Đồng Tổ Quốc “
Thắng lợi đó cũng là kết quả của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc , của đồng bào và chiến sĩ miền Bắc vừa chiến đấu vừa xây dựng ,
hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ của hậu phương lớn , hết lòng hết sức chi viện
cho tiền tuyến lớn Miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Thắng lợi đó còn là kết quả của tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt
Nam, Lào , Campuchia và kết quả của sự ủng hộ hết lòng và sự giúp đỡ to lớn
của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Sự ủng hộ nhiệt tình của phong trào
11
công nhân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới cũng như nhân dân tiến bộ
Mỹ.
*Ý nghĩa lịch sử :
Với thắng lợi này , nhân dân ta đã quét sạch bọn đế quốc xâm lược chấm dứt
ách thống trị tàn bạo hơn 1 thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất
nước ta. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành trên phạm vi
cả nước , mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam : kỷ nguyên cả nước hòa
bình thống nhất , độc lập và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Bằng thắng lợi vĩ đại của mình , nhân dân ta đã đánh bại cuộc chiến tranh
xâm lược quy mô lớn nhất , dài ngày nhất của chủ nghĩa đế quốc kể từ sau
chiến tranh thế giới thứ 2 , làm suy yếu trận địa chủ nghĩa đế quốc , phá vỡ 1
phong tuyến quan trọng của chúng ở khu vực Đông Nam Á , mở đầu sự sụp đổ
ko thể tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân mới , góp phần tăng cường lực lượng
của các nước xã hội chủ nghĩa , phong trào độc lập dân tộc , dân chủ và hòa
- Xây dựng và hoàn thiện 1 bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Tạo ra chuyển biến về mặt xã hội việc làm , công bằng xã hội , chống tiêu cực
, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương phép nước.
- Bảo đảm nhu cầu củng cố qu
ốc phòng và an ninh.
Đại hội đã nêu ra năm phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế - xã hội và
đề ra hệ thống các giải pháp để thực hiện mục tiêu : Bố trí lại cơ cấu sản xuất ,
điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư ; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa , sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Coi nền kinh tế có
nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ ; đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế , dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu , bao cấp , chuyển sang cơ
chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa ;
13
phát huy động lực của khoa học kỹ thuật ; mở rộng nâng cao hiệu quả kinh tế
đối ngoại.
Về đối ngoại :
- Góp phần giữ vững hòa bình ở Đông Dương , Đông Nam Á và thế giới , góp
phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình , độc lập dân tộc,
dân chủ và chủ nghĩa xã hội , tăng cường tình hữu nghị và hợp tác toàn diện
với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ; bình thường quan hệ hóa với trung
quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước , vì hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế
giới .
Về huy động sức mạnh quần chúng :
- Đại hội xác định phải phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,
thực hiện khẩu hiệu “ dân biết, dân bàn , dân làm , dân kiểm tra “, tăng cường
hiệu lực quản lý của nhà nước là điều kiện tất yếu bảo đảm huy động lực lượng
to lớn của quần chúng.
Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng , Đại
hội đã nêu rõ Đảng phải đổi mới về nhiều mặt : đổi mới tư duy,trước hết là tư
Đại hội VIII đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới – thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa , xây dựng nước Việt Nam độc lập,
dân chủ , giàu mạnh , xã hội công bằng , văn minh theo định hướng xã hội chủ
nghĩa , vì hạnh phúc của nhân dân ta , vì tình hữu nghị và sự hợp tác với nhân
dân cả nước trên thế giới . Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân
tộc và tương lai của đất nước vào lúc chúng ta sắp bước vào thế kỷ XXI.
Câu 8 : Nội dung, ý nghĩa của bài học: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH?
*Nội dung :
Về lý luận :
V.I Lênin cho rằng : khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc ,
xâm lược các nước khác , biến thành thuộc địa của nó , thì phong trào đấu tranh
15
giải phóng dân tộc của nhân dân thuộc địa trở thành một bộ phận của cách
mạng vô sản . Do đó ,muốn đi tới thắng lợi triệt để, phong trào giải phóng dân
tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản , độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội , chủ nghĩa cộng sản.
Đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo cách mạng vô sản là một sự lựa
chọn đúng đắn , sáng suốt của HCM. Điều quan trọng hơn là , người chòn cho
rằng CM giải phóng dân tộc ở thuộc địa không thụ động lệ thuộc vào cách
mạng vô sản ở chính quốc mà có tính độc lập , có thể thắng lợi trước cách mạng
chính quốc. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc phải được ưu tiên thực hiện trước , là
bước đi tất yếu để đi lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tuy là
phương hướng tiến lên trong tương lai , nhưng lại có ảnh hưởng quyết định đến
tính chất triệt để và sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc. Tư tưởng này
là cơ sở định hướng đúng đắn cho hoạt động của Đảng và nhân dân ta ở mỗi
thời kỳ cũng như toàn bộ cuộc đấu tranh , là điều kiện tập hợp lực lượng , tạo
nên sức mạnh tổng hợp cho CM. Bởi vậy độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là
cội nguồn thắng lợi của CM Việt Nam.
Về thực tiễn :
Tư tưởng chiến lược nắm vững, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH
nước theo định hướng XHCN , thực hiện đa phương hóa , đa dạng hóa quan hệ
quốc tế , xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, phát huy nội lực , tranh thủ tối
đa các nguồn lực bên ngoài , mở rộng giao lưu văn hóa , giữ vững bản sắc dân
tộc Nhờ vậy Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu
trong công cuộc bảo vệ đất nước Việt Nam thống nhất vượt qua khủng hoảng
kinh tế xã hội , chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
định hướng xã hội chủ nghĩa.
17