0
TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA NÔNG LÂM
= = = o0o = = =
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Chuyên đề:
“Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi
trồng nấm sò trắng tại xã Thôm Mòn-huyện Thuận Châu-tỉnh Sơn La”
Giảng viên hướng dẫn:
Vũ Thị Ngọc Ánh
Sinh viên thực tập:
Lường Thị Mùi
Lớp:
Khoa học cây trồng K47
3.4. Các chỉ tiêu tiêu theo dõi. 24
3.4.1.Thời gian sinh trƣởng phát triển của quả thể nấm (ngày). 24
3.4.2.Theo dõi các chỉ tiêu sinh trƣởng (cụm). 25
3.4.3. Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất 25
3.5. Sâu bệnh chính 25
3.5.1. Chỉ tiêu sinh trƣởng 27
3.5.2. Chỉ tiêu phát triển 27 2
3.5.3. Chỉ tiêu về chất lƣợng. 28
3.5.4.Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất. 28
3.5.5. Bệnh hại chính. 28
3.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu. 28
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1. Đặc điểm hình thái của các giống tham gia thí nghiệm 29
4.2.1. Thời gian từ cấy giống đến khi nấm ăn trắng hết bịch và rạch bịch. 30
4.2.2. Thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch. 30
4.2.3. Thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu cho thu hoạch đợt 1 30
4.2.4. Thời gian từ khi cấy giống đến khi thu hái đợt nấm cuối cùng. 31
4.3. Ảnh hƣởng của sâu bệnh hại đến sinh trƣởng và phát triển của nấm Sò. 31
4.4. Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trƣởng của nấm. 32
4.4.1. Chiều dài cuống nấm và tốc độ tăng chiều dài cuống nấm. 32
4.4.2. Đƣờng kính gốc nấm. 34
4.3. Số cây trên cụm trên các công thức thí nghiệm. 35
4.3.1. Khối lƣợng trung bình của một cụm. 36
4.3.2.Khối lƣợng trung bình của một cụm (kg). 37
4.4. Đƣờng kính của mũ nấm. 39
4.4.1. Đƣờng kính trung bình mũ nấm. 39
4.4.2. Đƣờng kính mũ nấm và tốc độ tăng đƣờng kính mũ nấm. 40
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Nghĩa
1
CT
Công thức
2
CTĐC
Công thức đối chứng
3
NS
Năng suất
4
SNTC
Số nhánh trên cụm
5
SCTM
Số cụm trên mô
6
TLTB
5
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
Việt Nam là một nƣớc sản xuất nông nghiệp lớn nên hàng năm sau mỗi
mùa vụ lƣợng phế thải nhƣ rơm rạ, vỏ lạc, thân cây ngô,…để lại đồng ruộng là
rất lớn. Nếu không đƣợc sử dụng thì gây lãng phí và có thể là nơi ủ bệnh cho vụ
sau. Vì thế, việc sử dụng rơm rạ, vỏ lạc, thân cây ngô…làm nguyên liệu cho
nghề trồng nấm đƣợc xem là một trong những giải pháp hợp lý và hiệu quả. Vừa
giải quyết đƣợc công ăn việc làm của ngƣời dân lúc nhàn dỗi, vừa tăng thêm thu
nhập lại vừa giải quyết đƣợc vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, góp phần xây dựng
nền nông nghiệp bền vững.
Nấm ăn bao gồm nhiều loại nhƣ: nấm Rơm, nấm Sò, nấm Mỡ, nấm Linh
Chi, nấm Hƣơng, Mộc Nhĩ,…Nấm ăn là món ăn quý không chỉ vì thơm ngon
mà còn có giá trị dinh dƣỡng cao. Đặc biệt có sự hiện diện của 9 loại axit amin
không thay thế rất cần thiết cho con ngƣời. Nấm ăn giàu lơxin và lizin là hai loại
axit amin ít có trong ngũ cốc. Do đó xét về chất lƣợng đạm của nấm ăn không
thua gì so với đạm của động vật.
Nấm ăn là một loại thực phẩm có chứa rất nhiều chất dinh dƣỡng đặc biệt
chứa nhiều loại vitamin: B, C, K, A, D, E. Trong đó có nhiều nhất là vitamin B:
B
1
, B
2
, B
3
, Nếu so với rau rất nghèo sinh tố B
12
thì chỉ cần ăn 3 gam nấm tƣơi là
đủ cung cấp lƣợng sinh tố B
12
thêm các chất dinh dƣỡng hữu cơ khác. Do vậy sản phẩm thu đƣợc thƣờng
không đạt nhu cầu nhƣ mong muốn chẳng hạn: cụm nấm nhỏ, đƣờng kính mũ
nấm nhỏ, tốc độ sinh trƣởng chậm làm cho năng suất và chất lƣợng sản phẩm
không cao… Việc nuôi trồng nấm trên nguyên liệu nhƣ bông phế thải, bổ sung
một số chất dinh dƣỡng khác nhau trên bông thải ảnh hƣởng đến năng suất, chất
lƣợng Nấm nhƣ thế nào? Đó là vấn đề rất quan trọng, vì vậy tôi quyết định chọn
đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất
thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã Thôm Mòn-huyện Thuận Châu-
tỉnh Sơn La”.
7
1.2. Mục đích và yêu cầu:
1.2.1. Mục đích:
- Xác định đƣợc cơ chất thích hợp cho năng suất và phẩm chất cao.
1.2.2. Yêu cầu:
- Khảo sát khả năng và tốc độ sinh trƣởng của cây.
- Khảo sát độ bền của cá thể nấm sau thu hoạch.
- Khảo sát hình thái và chất lƣợng của cá thể nấm.
- Thu thập tài liệu liên quan.
8
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
9
là nƣớc suất khẩu nấm nhiều nhất với khoảng 1.5 triệu tấn sản phẩm trên một
năm.[2]
Nấm ăn đƣợc dùng từ rất lâu đời. Theo tài liệu khảo cổ học chúng ta đã
biết đƣợc cách đây 3000 năm nấm đƣợc dùng làm thực phẩm. Cũng theo tài liệu
khảo cổ thì từ thời kỳ đồ đá cũ 3000 - 4000 năm TCN các cƣ dân Trung Quốc đã
biết thu hái và sử dụng nhiều loại nấm từ thiên nhiên. Năm 400 TCN các nƣớc
này đã có miêu tả khoa học về sinh lý, sinh thái của không ít các loài nấm. Năm
300 nấm ăn đƣợc coi là mỹ thực trong cung đình Trung Hoa, từ thời ấy nấm đã
đƣợc coi là nhóm sinh vật đặc biệt không phải là thực vật. Năm 200 - 100 TCN
trong sách thần nông bản thảo kinh đã miêu tả tỉ mỉ về hình thái, tính năng, công
dụng của các loài nấm dùng làm thuốc chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể nhƣ: thanh
chi, xích chi, hoàng chi. Năm 100 TCN bắt đầu có những ghi chép đầu tiên về
kỹ thuật nuôi trồng nấm.[2]
Riêng đối với nấm rơm năm 1822 trong sách “Quảng Đông Thông Chí” đã
có ghi chép về kỹ thuật trồng nấm rơm. Năm 1897 Hội nông dân Mỹ đã cho
xuất bản cuốn “Phƣơng pháp trồng nấm rơm trong nhà” chỉ 1 năm sau cuốn sách
này đã đƣợc in và dịch tại Trung Quốc. Trong luận án của TS Beker (Malaysia)
đã xác nhận nấm rơm đƣợc trồng đầu tiên ở Trung Quốc sau đó phổ biến sang
các nƣớc Đông Nam Á và Bắc Phi. Cũng có tài liệu cho rằng nấm rơm đƣợc
trồng đầu tiên tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam cách đây 2000 năm.[4]
Năm 1907 trong báo cáo của tác giả Touricforil (Pháp) đã mô tả phƣơng
pháp dùng phân ngựa rồi cấy vào đó bào tử của cây nấm trƣởng thành. Đây
chính là phƣơng pháp chọn giống sơ khai nhất.[4]
Từ những năm đầu của thế kỷ XX nhất là từ năm 1950 trở lại đây khi
công nghệ sinh học phát triển đã mở ra cho nghề trồng nấm những bƣớc tiến
mới. Các nƣớc có nghề trồng nấm phát triển đã nghiên cứu và chọn tạo ra những
giống nấm mới có giá trị về mặt dinh dƣỡng, kinh tế và dƣợc liệu đƣợc chọn lọc
bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau kể cả mức độ phân tử.[4]
đây khoảng 5.000 – 4.000 năm trƣớc Công nguyên) những cƣ dân nguyên thuỷ
của Trung Quốc đã biết thu lƣợm và sử dụng nhiều loại nấm ăn từ thiên nhiên.
Cho đến nay, tổng sản lƣợng nấm ăn của Trung Quốc chiếm 60% tổng sản
lƣợng nấm ăn trên thế giới bao gồm nhiều loại nấm nhƣ: nấm Hƣơng, nấm Rơm, 11
nấm Mỡ, Mộc Nhĩ, Linh Chi,…hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn
nấm sang các nƣớc phát triển nhƣ: Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ba Lan.
Mức tiêu thụ nấm bình quân tính theo đầu ngƣời của Châu Âu, Châu Mỹ
khoảng 2 - 3 kg/năm. Nhật, Đức khoảng 4 - 5 kg/năm. Dự kiến mức tiêu thụ này
trong tƣơng lai sẽ tăng với mức 3.5%/năm. Trên thị trƣờng Châu Âu nấm Mỡ
chiếm 80 - 95%, Mộc Nhĩ khoảng 10% thị trƣờng.
Ở khu vực Châu Á, các nƣớc nhƣ: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung
Quốc,…triển khai sản xuất nấm theo mô hình vừa và nhỏ. Một số loại nấm ăn
đƣợc nuôi trồng khá phổ biến đó là nấm Hƣơng, nấm Sò, Mộc Nhĩ, nấm Mỡ.
Đặc biệt là Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân; sản
lƣợng nấm Mỡ, nấm Hƣơng của Trung Quốc lớn nhất thế giới: năm 1995 sản
lƣợng của Trung Quốc là 3.000.000 tấn, chiếm 60% tổng sản lƣợng nấm ăn trên
thế giới gồm nhiều loại nấm nhƣ: nấm Mỡ, nấm Hƣơng, nấm Rơm, Mộc
Nhĩ,…Hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nƣớc phát
triển thu về nguồn ngoại tệ hang tỷ đô la. Hiện nay Trung Quốc đã dùng kỹ thuật
“ khuẩn thải học” để trồng nấm nghĩa là dùng các loại cỏ cây thân thảo để trồng
nấm thay cho gỗ rừng và nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Riêng
Phúc Kiến đã có 800.000 tấn (chiếm 26,67% cả nƣớc; 6,4% cả thế giới).
Nƣớc xuất khẩu nấm nhiều nhất trên thế giới hiện nay là Trung Quốc với
khoảng 1,5 triệu tấn sản phẩm/năm; giá bán nấm mỡ trung bình 600 – 1.000
USD/tấn cao hơn 1,2 – 1,5 lần so với thịt bò; nấm Mỡ muối có giá bán khoảng
1.300 – 1.500 USD/tấn; các loại sản phẩm nấm nhƣ Mộc nhĩ, nấm Hƣơng, nấm
Rơm,…cũng có giá bán dao động trong khoảng 1.700 – 6.500 USD/tấn. Mỗi
nê-xi-a là nƣớc sản xuất nấm thứ hai trên thế giới, chiếm khoảng 29% nguồn
cung toàn cầu. ANRPC dự kiến nguồn cung của In-đô-nê-xi-a sẽ tăng 8%, với
2,95 triệu tấn trong năm nay. Ấn Độ hiện nay có năng suất cao su thiên nhiên
cao nhất trên thế giới.
Nguồn cung của Ấn Độ có thể đạt 884.000 tấn trong năm nay, tăng 3,9%
so với năm ngoái do ƣớc tính tăng: 14.000 ha nhà xƣởng nuôi trồng nấm và
năng suất tốt hơn. Theo số liệu của ANRPC, sản lƣợng của các nƣớc đứng đầu
khác nhƣ Việt Nam và Trung Quốc cũng dự kiến tăng trong năm nay. Việt Nam
sẽ có sản lƣợng 755.000 tấn, Trung Quốc 647.000 tấn, Srilanka 153.000 tấn, 13
Philippines 99.000 tấn và Campuchia 42.000 tấn
Theo đánh giá của hiệp hội khoa học nấm ăn quốc tế (ISMS) có thể sử
dụng khoảng 250 phế phụ liệu trong nông lâm nghiệp để trồng nấm đem lại
nhiều lợi ích kinh tế xã hội. Sản xuất nấm ăn đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc
làm tại chỗ, vệ sinh môi trƣờng đồng ruộng chống lại việc đốt rơm, đốt phá
rừng, tạo nguồn phân bón hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần tích cực vào chu
trình chuyển hóa vật chất. Trong sinh học nhờ sự phát triển của khoa học kỹ
thuật trong nghề trồng nấm về chọn tạo giống nấm, về kỹ thuật nuôi trồng và sự
bùng nổ của thông tin, nghề trồng nấm đã và đang phát triển trên toàn thế giới,
đƣợc coi là nghề xóa đói, giảm nghèo và làm giàu thích hợp với các vùng nông
thôn miền núi.
2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất trong nƣớc.
Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để phát triển nghề trồng nấm, riêng lƣợng
rơm rạ 20 – 30 triệu tấn/năm đủ để cho “ra đời” 2 triệu tấn nấm tƣơi, trị giá 1 tỷ
USD, thậm chí, nếu chế biến thành đồ hộp, giá trị còn cao hơn. Năm 2002, cả
nƣớc mới sản xuất đƣợc 100.000 tấn nấm thực phẩm thì đến nay đã đạt 150.000
tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 60 USD/năm. Điều đó chứng tỏ nghề
trồng nấm đang mang lại hiệu quả kinh tế cao.
số lƣợng lớn khá phong phú về các giống nấm và công nghệ nuôi trồng nấm
thông qua các quá trình nghiên cứu và trao đổi quốc tế. Năm 1984 thành lập
trung tâm nghiên cứu nấm ăn tại trƣờng đại học tổng hợp Hà Nội. Năm 1985 tổ
chức FAO tài trợ UBND thành phố Hà Nội thành lập trung tâm sản xuất nấm
Thƣơng Mại – Hà Nội (sau đó đổi tên thành công ty sản xuất giống, chế biến và
xuất khẩu nấm Hà Nội). Năm 1986 đƣợc tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố
Hồ Chí Minh thành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1992 –
1993 công ty nấm Hà Nội nhập thiết bị chế biến nấm và “nhà trồng nấm công
nghiệp” của Italia. Phong trào sản xuất nấm Mỡ trong những năm 1988 – 1992
đã mở rộng đến hầu hết các tỉnh phía Bắc. Vì vậy sản lƣợng nấm đã tăng từ
khoảng 30 tấn/năm (1988) lên 250.000 tấn/năm vào năm 1993. Tuy nhiên do sản
xuất thua lỗ, nhiều cơ sở bị giải thể và nhiều lí do khác mà phong trào trồng nấm
tạm lắng xuống. Đến năm 1996 sản lƣợng nấm ăn lại quay trở về điểm xuất phát
của năm 1989 là 50.000 tấn/năm. 15
Trong những năm gần đây đƣợc sự quan tâm của Nhà nƣớc, nghề trồng
nấm đã thực sự hồi sinh và từng bƣớc phát triển bền vững. Với những chƣơng
trình nhƣ: chƣơng trình mỗi quốc gia và khoảng 40 tỉnh thành trong trong các dự
án sản xuất nấm.
Hiện nay ngƣời ta hội đủ các điều kiện cần thiết để phát triển ngành công
nghiệp sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm ăn.
Qua quá trình nghiên cứu, nhiều viện, trƣờng, trung tâm đã chọn, tạo đƣợc
một số giống nấm ăn, nấm dƣợc liệu có khả năng thích ứng với môi trƣờng Việt
Nam, cho năng suất khá cao. Đồng thời các tiến bộ kỹ thuật về nuôi trồng, chăm
sóc, bảo quản và chế biến nấm ngày càng đƣợc hoàn thiện. Trình độ và kinh
nghiệm của ngƣời nông dân cũng không ngừng đƣợc nâng lên, nên năng suất
trung bình của các loài nấm đang nuôi trồng ở nƣớc ta đã cao gấp 1,5 - 3 lần so
với 10 năm về trƣớc. Hơn nữa, vốn đầu tƣ để trồng nấm so với các ngành sản
cho những ngƣời sản xuất nấm chuyên nghiệp. Cần coi việc sản xuất nấm là một
nghề trong sản xuất nông nghiệp và sự đầu tƣ đúng hƣớng của cơ quan quản lý
nhà nƣớc. Làm đƣợc nhƣ vậy thì đến năm 2020, về cơ bản, Việt Nam có thể
phát triển đƣợc ngành công nghiệp sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm.
Theo Nguyễn Lân Dũng, kim ngạch nhập khẩu rau hoa quả tháng 8/2010
đạt 28,8 triệu USD. Tổng kim ngạch nhập khẩu rau hoa quả 8 tháng đầu năm đạt
176,4 triệu USD. Trong đó Nấm là mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất đồng thời
có mức tăng rất mạnh so với cùng kì, 8 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất
khẩu nấm đạt 9,7 triệu USD tăng 101,8%. Đây là mặt hàng đƣợc ƣa chuộng tại
thị trƣờng Việt Nam, nhất là những tháng cuối năm.
* Một số thuận lợi để trồng nấm.
1. Nguyên liệu trồng nấm rất sẵn có nhƣ: Rơm rạ , mun cƣa, than cây gỗ,
thân lõi ngô, bông phế thải ở các nhà máy xí nghiệp dệt, bã mía ở các nhà máy
đƣờng ƣớc tính có trên 40 triệu tấn nguyên liệu chỉ cần sử dụng 10 - 15% lƣợng
này để trồng nấm đã tạo ra trên một triệu tấn trên năm và hàng trăm tấn phân
hữu cơ.
2. Trong những năm gân đây nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện, trƣờng,
trung tâm đã tạo đƣợc một số loại giống ăn, nấm dƣợc liệu có khả năng thích
ứng với môi trƣờng ở Việt Nam cho năng suất khá cao. Các tiến bộ kỹ thuật về
nuôi trồng, chăm sóc và bảo quản, chế biến nấm ngày càng đƣợc hoàn thiện, 17
trình độ và kinh nghiệm của ngƣời nông dân đƣợc nâng cao. Năng suất trung
bình của các loại nấm đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5 - 3 lần so với 10
năm về trƣớc.
Một số trung tâm sản xuất nấm có uy tín nhƣ Viện di truyền Nông nghiệp,
Sở khoa học và công nghệ Hòa Bình, xí nghiệp nấm Toàn Thắng ( Bắc Giang),
trung tâm công nghệ sinh học ứng dụng - Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa sinh
học – Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
mở rộng thị trƣờng, nghề sản xuất nấm dần đƣợc khôi phục, tổng sản lƣợng nấm
các loại đƣợc sản xuất ở nƣớc ta hiện nay vào khoảng 100.000 tấn/năm. Trong
đó xếp theo thứ tự giảm dần giữa các loại nấm là: nấm Rơm, Mộc Nhĩ, nấm Sò,
nấm Mỡ, Linh Chi và nấm Hƣơng.
- Về năng suất. Năng suất tính theo nguyên liệu các loại nấm khác nhau
thì tƣơng đối khác nhau. Nấm Sò có năng suất cao nhất đạt trung bình 700 kg
nấm tƣơi/ 1000kg nguyên liệu khô; sau đó là Mộc Nhĩ (600 kg); nấm Hƣơng
(500kg); nấm Mỡ (200 kg); nấm Rơm (100 kg) và cuối cùng là Linh Chi (75
kg). Nhìn chung năng suất nấm của nƣớc ta chỉ bằng 50 – 70 % so với năng suất
bình quân trên thế giới.
- Về quy mô sản xuất. Nhìn chung hầu hết các tỉnh trong cả nƣớc hiện nay
đều đã bắt đầu phát triển nghề sản xuất nấm, song chủ yếu vẫn là sản xuất ở quy
mô hộ, mang tính đơn lẻ, với năng lực dao động từ 1 – 6 tấn nguyên liệu mỗi hộ
1 vụ, các hộ này thƣờng sử dụng công nghệ sản xuất thủ công, không đồng bộ,
nên năng suất thấp
- Về vấn đề chế biến. Hiện nay ngoài khoảng 50% sản lƣợng đƣợc tiêu
thụ dƣới dạng tƣơi, ngoài ra nấm còn đƣợc sấy khô để tiêu thụ.
Mặc dù đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu nhƣng hiện nay sản xuất nấm
nƣớc ta vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún và vấn đề liên kết giữa nhà doanh nghiệp và
các hộ nông dân sản xuất vẫn chƣa thực sự chặt chẽ nên vẫn thƣờng xuyên xảy
ra hiện trạng ngƣời dân sản xuất ra nhƣng không có đầu ra cho sản phẩm, còn
doanh nghiệp kinh doanh lại không có sản phẩm để thu mua. Một vấn đề không
thể không nhắc tới là nấm ăn chƣa có thƣơng hiệu và có nguy cơ các nhà xuất
khẩu Việt Nam phải chịu để các nhà doanh nghiệp nƣớc ngoài đóng gói lại sản
phẩm của mình với nhãn mác mới, tiếp tục bán ra thị trƣờng với giá cao hơn.
19
2.3. Tình hình sản xuất Nấm ở Sơn La.
không, đó là nguồn cơ chất rất tốt để nấm Sò, nấm Rơm, Linh Chi phát triển. 20
Tại Sơn La có một xí nghiệp sản xuất giống nấm chất lƣợng tốt cung cấp
giống nấm cho tỉnh và các tỉnh lân cận, ngoài ra trung tâm còn kết hợp với
Trung tâm Khuyến nông tỉnh đi về các huyện mở lớp hƣớng dẫn nuôi trồng
chăm sóc các loại nấm. Nguồn giống nấm đƣợc cung cấp tại Sơn La chủ yếu từ
2 nguồn.
- Xí nghiệp sản xuất giống nấm và chế biến nấm xuất khẩu Sơn La.
- Trung tâm Công nghệ sinh hoc thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp
Hà Nội.
Hai trung tâm này chủ yếu cung cấp các loại giống nấm sau:
1. Nấm Rơm (Volvariall volvaceae).
2. Nấm Mỡ (Agaricus bisporus).
3. Nấm sò (Pleurotus spp).
4. Mộc nhĩ (Auricularria spp).
5. Nấm Hƣơng ( Letunus edodes).
6. Nấm linh chi (Ganoderma lucidum).
Nấm sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ dạng nấm tƣơi cung cấp cho các chợ địa
phƣơng, tại các chợ nội Thành Phố nơi tập chung đông dân cƣ hay tại các chợ
thị trấn nhƣ: Chợ Trung tâm, chợ bệnh viện, chợ bến xe khách, chợ Quyết
thắng Ngoài hình thức tiêu thụ nấm tƣơi thì tại xí nghiệp nấm Sơn La còn chế
biến thành nấm khô bao gói nhƣ nấm Mèo, Linh chi.
Ở Thuận Châu nghề trồng nấm đƣợc phát triển từ rất sớm cho đến nay
đang đƣợc phát triển rộng rãi, tuy nhiên cũng gặp nhiều khó khăn và bất cập
nhƣ: Nguồn phế phẩm nông nghiệp nhiều nhƣ lõi ngô lại không có máy nghiền,
bông phế thải mua ở xa, kĩ thuật ngƣời dân chƣa nắm vững, nguồn giống nấm
mua ở xa Vì thế, ngƣời dân chƣa mặn mà với cây nấm. Trên thực tế, nhu cầu
sử dụng nấm tại tỉnh rất lớn và đƣờng tiêu thụ tại tỉnh cũng rất thuận lợi ra thị
22
PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tƣợng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu.
3.1.1. Đối tượng và vật liệu
* Giống nấm sò trắng – nguồn do công ty xuất nhập khẩu nấm Sơn La
cung cấp.
* Nguyên liệu: bột ngô, bột đậu tƣơng, bông phế thải nông nghiệp.
* Dụng cụ:
- 300kg bông phế thải, 6kg vôi bột, bột đậu tƣơng, bột ngô, giống nấm.
- Bạt, nƣớc, tre, dao, túi bóng pp, dây nịt, nút cổ bông, dây treo, kéo, bình
phun dạng mù (cỡ lớn).
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu.
Tại Xã Thôm Mòn - Huyện Thuận Châu - Tỉnh Sơn La.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian thực tập: Từ 18/2 – 28/4/2011.
3.2. Nội dung nghiên cứu.
So sánh năng suất của nấm trồng trên bông phế thải có bổ sung các loại
dinh dƣỡng khác nhau: bột ngô, bột cám gạo, bột đậu tƣơng, bột cá, bông phế
thải nông nghiệp.
3
1
2 3
1
2
1
2
3
* Công thức thí nghiệm.
- Công thức 1: bông phế thải 100kg, vôi bột 2kg.
- Công thức 2: bông phế thải 100kg, vôi bột 2kg, bột đâu tƣơng 10kg.
- Công thức 3: bông phế thải 100kg, vôi bột 2kg, bột ngô 5kg.
3.3.1. Xử lí nguyên liệu.
Ngâm bông nhanh trong dung dịch nƣớc vôi theo tỷ lệ: 3,5kg vôi đã tôi
hòa tan với 1.000 lít nƣớc. vắt nhẹ, ủ lại thành đống, che kín bằng bao dứa hoặc
nilon. Ủ bông đƣợc 3 ngày, đảo đống lần 1, ủ tiếp 3 ngày, đảo lần 2, sau đó ủ
thêm 3 ngày nữa thì đóng bịch và cấy giống. Khi trồng nấm cần làm thật tơi
nguyên liệu bằng cách dùng tay hoặc cào sắt xé bông vụn.
Sau khi ủ đống các nguyên liệu theo thời gian quy định, ta cần kiểm tra độ
ẩm và chỉnh độ ẩm cho nguyên liệu đạt 65% là vừa, nếu quá ẩm thì ta phải đem
nấm nhiều lần trong ngày tùy thuộc vào độ ẩm không khí.
Sau khi hái đợt 2 tiến hành nén túi. Ta tháo túi ra nén cơ chất chặt xuống
rồi lại buộc miệng túi lại, treo lên và tiếp tục thu đợt sau.
3.4. Các chỉ tiêu tiêu theo dõi.
3.4.1.Thời gian sinh trưởng phát triển của quả thể nấm (ngày).
Thời gian từ đóng bịch (bánh), cấy giống đến khi rạch bịch: thời gian này
đƣợc xác định khi các sợi nấm ăn trắng bịch nấm tạo nên màu trắng đồng nhất,
bịch nấm rắn chắc.
Thời gian từ đóng bịch (bánh), cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở
các vết rạch đƣợc xác định khi các cụm nấm sò bắt đầu xuất hiện và nhô ra ở các
vết rạch.