Hoàn thiện công tác lập và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh tại tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*****
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Đoàn Thị Thu Hiền
Lớp : Kế hoạch 48A
Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Trường : Đại học Kinh tế quốc dân
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Hoàn thiện công tác lập và
thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh tại tổng công ty công nghiệp ô tô Việt
Nam” là một công trình nghiên cứu, nỗ lực cuả bản thân tôi trong suốt thời gian thực
tập cùng với sự, hướng dẫn, chỉ bảo của cô giáo PGS.TS Phan Thị Nhiệm và các cán
bộ trong tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam. Những thông tin và số liệu trong
bài là hoàn toàn trung thực và rõ ràng.
Hà Nội, ngày … tháng … năm
Sinh viên
SV: Đoàn Thị Thu Hiền Lớp: Kế hoạch
48A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
TCT
KHH
TD&ĐG
GTVT
QD
QHQT
XTTM
TCCB
LDTL
CN

Sơ đồ 10: Sơ đồ tổ chức phòng kế hoạch và thống kê của Tổng công ty
Sơ đồ 11: Hoàn thiện quy trình kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty
Biểu đồ 1: Giá trị sản xuất của Tổng công ty giai đoạn 2005- 2009
Biểu đồ 2: Sản lượng ô tô các loại của Tổng công ty giai đoạn 2005- 2009
Bảng 1: Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2005- 2009
Bảng 2: Thống kê sản lượng sản phẩm chủ yếu của Tổng công ty giai đoạn 2005-
2009
SV: Đoàn Thị Thu Hiền Lớp: Kế hoạch
48A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
SV: Đoàn Thị Thu Hiền Lớp: Kế hoạch
48A
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam ra nhập WTO là bước ngoặt lớn trong nền kinh tế của Việt Nam, sự
kiện đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong nền kinh tế. Khi Việt Nam tham gia
WTO các doanh nghiệp trong nước có nhiều cơ hội tham gia vào thị trường thế giới,
ngược lại cũng tạo điều kiện cho hàng hóa của các nước khác xâm nhập vào Việt Nam.
Để hàng hóa trong nước cạnh tranh được với hàng hóa nước ngoài, để các doanh nghiệp
Việt Nam trụ vững trên con đường hội nhập với nền kinh tế thế giới, quản lý doanh
nghiệp là hoạt động vô cùng quan trọng. Để quản lý doanh nghiệp một cách hiệu quả, kế
hoạch hóa là công cụ phục vụ cho việc quản lý doanh nghiệp. Kế hoạch hóa giúp thiết
lập và thực hiện các quyết định chiến lược. Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh, để các
doanh nghiệp có thể tồn tại được buộc các doanh nghiệp phải có những chiến lược phát
triển, tầm nhìn và mục tiêu mang màu sắc riêng. Vì vậy công tác kế hoạch hóa trong
doanh nghiệp ngày càng cần được chú trọng đặc biệt là công tác kế hoạch hóa sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp.
Trong thời gian thực tập, tìm hiểu thực tế tại Tổng công ty công nghiệp ô tô
Việt Nam, tôi đã tìm hiểu công tác kế hoạch tại Tổng công ty để thực hiện chuyên đề
tốt nghiệp với đề tài: “Hoàn thiện công tác lập và thực hiện kế hoạch sản xuất

hiện, nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Công tác KHH bao gồm việc dự đoán,
lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và đánh giá hoàn thành kế hoạch. KHH xã
hội chủ nghĩa là sự cụ thể hoá cương lĩnh chính trị và chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội trong từng giai đoạn nhất định bằng các mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu và biện
pháp cụ thể. KHH phải kết hợp giữa dự đoán và phương hướng chỉ đạo phát triển
kinh tế quốc dân của nhà nước với tính chủ động, sáng tạo và quyền tự chủ kinh
doanh của các tổ chức kinh tế - xã hội, các đơn vị cơ sở; phải vận dụng đầy đủ các
quy luật phát triển và các quan hệ kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội, các quan hệ
thị trường, quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong tất cả các khâu của nền tái sản xuất xã
hội. Cơ chế KHH tập trung cao độ được xem là phương pháp quản lí cơ bản của các
nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã được thực tiễn kiểm nghiệm là quan liêu, mang
nhiều tính chủ quan, duy ý chí, do đó nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng
hoảng trầm trọng; hiện nay nó đang được đổi mới bằng sự kết hợp KHH bằng các chỉ
tiêu mang tính pháp lệnh với việc vận dụng quan hệ thị trường và cơ chế thị trường,
dưới sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”(từ điển bách khoa
Việt Nam)
1.1.2 Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp là một trong những bộ phận của KHH nói
chung. KHH hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp( gọi tắt là KHH doanh
nghiệp) là một quy trình ra quyết định cho phép xây dựng một hình ảnh mong muốn
về một trạng thái tương lai của doanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khai thực hiện
mong muốn đó.
Như vậy KHH doanh nghiệp là thể hiện kĩ năng tiên đoán mục tiêu phát triển
và tổ chức quá trình thực hiện mục tiêu đạt ra. Công tác này bao gồm 2 khâu chính đó

• Lập kế hoạch
• Tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá công tác kế hoạch
1.2 Vai trò của công tác kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
1.2.1 Vai trò trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Kế hoạch hóa tập trung là mô hình được áp dụng ở Việt Nam đến năm 1986.

• Hạn chế tính năng động về công nghệ, áp dụng khoa học kĩ thuật mới.
1.2.2 Vai trò trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các hành vi của doanh nghiệp thường bị chi phối
bởi các dấu hiệu và quy luật của thị trường. Tuy vậy, kế hoạch hóa vẫn là cơ chế
quản lý cần thiết, hữu hiệu của các doanh nghiệp. Sự tồn tại và phát triển của kế
hoạch hóa doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở vai trò của KHH
doanh nghiệp trong việc quản lý doanh nghiệp. Những vai trò đó là:
• KHH là nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp vì vậy lập kế
hoạch cũng là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình kế hoạch hóa của
doanh nghiệp và cũng là công việc duy nhất có liên quan đến việc thiết lập các mục
tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tập thể. Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên
biến động , kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch giúp các doanh nghiệp dự kiến được
những cơ hội, thách thức có thể xảy ra để quyết định nên làm cái gì, làm như thế nào,
khi nào làm và ai làm trong một thời kì nhất định. Nếu không có kế hoạch và tổ chức
quá trình hoạt động thông qua các mục tiêu định lập trước thì có nghĩa là chúng ta đã
để các sự kiện của doanh nghiệp diễn ra một cách ngẫu nhiên và tính rủi ro trong hoạt
động của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
• Công tác kế hoạch hóa với việc ứng phó những bất định và thay đổi
của thị trường. Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề của tương lai, mà tương lai rất
ít khi chắc chắn. Thậm chí ngay cả khi tương lai có độ chắc chắn cao thì các nhà quản
lý vẫn tìm cách tốt nhất để đạt được các mục tiêu đặt ra, phân công, phối hợp hoạt
động của các bộ phận trong hệ thống tổ chức trong quá trình thực hiện các mục tiêu
đặt ra, phân công, phối hợp hoạt động của các bộ phận trong hệ thống tổ chức trong
quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch và tháo gỡ, ứng phó với những bất ổn trong
diễn biến sản xuất kinh doanh. Sự bất ổn định của môi trường kinh doanh đòi hỏi các
doanh nghiệp ngoài việc soạn lập các kế hoạch, phải tiến hành các nội dung khác của
công tác KHH đó là việc triển khai thực hiện, kiểm tra các công việc của các cấp tổ
chức, điều chỉnh các hoạt động cần thiết để đảm bảo thực thi các mục tiêu kế hoạch
đề ra.
• Công tác kế hoạch hóa với việc tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong

thực tế đã này sinh nhiều lãng phí từ các quyết định theo những tình huống trước mắt
mà không đánh giá được ảnh hưởng của các quyết định này đối với các mục tiêu dài
hạn hơn. Nhiều kế hoạch ngắn hạn đã không đóng góp gì cho bản kế hoạch dài hạn
mà còn gây nhiều trở ngại hay có những đòi hỏi nhiều đối với các kế hoạch dài hạn.
Để thực hiện được mối quan hệ giữa kế hoạch dài, trung và ngắn hạn các nhà
lãnh đạo chủ chốt của các doanh nghiệp nên thường xuyên xem xét và sửa đổi các
quyết định trước mắt xem chúng có phục vụ các chương trình dài hạn hay không và
các nhà quản lý cấp dưới nên được thông báo thường xuyên về kế hoạch dài hạn của
doanh nghiệp sao cho các quyết định của họ phù hợp với các mục tiêu dài hạn của
doanh nghiệp.
1.3.2 Theo góc độ nội dung, tính chất, cấp độ kế hoạch
Hệ thống kế hoạch hóa trong doanh nghiệp bao gồm 2 bộ phận:
• Kế hoạch chiến lược
Kế hoạch chiến lược áp dụng trong các doanh nghiệp là định hướng lớn cho
phép doanh nghiệp thay đổi, cải thiện, củng cố vị trí cạnh tranh của mình và những
phương pháp cơ bản để đạt được mục tiêu đó. Kế hoạch chiến lược không phải là từ
những kì vọng mà doanh nghiệp muốn đạt tới mà là xuất phát từ khả năng thực tế của
doanh nghiệp, như vậy nó thể hiện sự phản ứng của doanh nghiệp đối với hoàn cảnh
khách quan bên trong và bên ngoài của hoạt động doanh nghiệp.
Kế hoạch chiến lược thường được soạn thảo trong thời dan dài nhưng nó
không đồng nghĩa với kế hoạch dài hạn. Nói đến kế hoạch chiến lược không phải nói
đến góc độ thời gian của chiến lược mà nói đến tính chất, định hướng của kế hoạch
và bao gồm toàn bộ mục tiêu phát triển tổng thể của doanh nghiệp. Trách nhiệm soạn
thảo kế hoạch chiến lược trước hết là của lãnh đạo doanh nghiệp, vì kế hoạch chiến
lược đòi hỏi trách nhiệm rất cao, quy mô hoạt động lớn của các nhà quản lý.
• Kế hoạch chiến thuật
Là công cụ cho phép chuyển các định hướng chiến lược thành các chương
trình áp dụng cho các bộ phận của doanh nghiệp trong khuôn khổ các hoạt động của
doanh nghiệp, nhằm thực hiện được các mục tiêu của kế hoạch chiến lược. Kế hoạch
tác nghiệp thường được thể hiện cụ thể ở những bộ phận kế hoạch riêng biệt trong

liên quan chặt chẽ đến nhau. Hoạt động của doanh nghiệp sẽ không hiệu quả nếu kế
hoạch hóa của phần này không liên quan đến công việc kế hoạch hóa của phần khác.
Tính thống nhất trong công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp nhằm mục tiêu hướng tới
mục đích chung của doanh nghiệp cũng như vì sự phát triển của từng bộ phận cấu
thành.
1.4.2 Nguyên tắc tham gia
Nguyên tắc tham gia có mối liên hệ mật thiết với nguyên tắc thống nhất.
Nguyên tắc này có nghĩa là mọi thành viên của doanh nghiệp đều tham gia vào những
hoạt động cụ thể trong công tác kế hoạch hóa, không phụ thuộc vào nhiệm vụ và
chức năng của họ. Nếu nguyên tắc này được thực hiện một cách đầy đủ nó sẽ đem lại
những lợi ích sau:
Thứ nhất nhờ trao đổi thông tin mỗi thành viên trong doanh nghiệp có thể hiểu
biết sâu sắc hơn về doanh nghiệp của mình, ngoài lĩnh vực mà họ tham gia hoạt dộng.
Thông tin sẽ được trao đổi một cách chủ động và dễ dàng hơn.
Nhờ có sự tham gia của các thành viên trong doanh nghiệp mà bản kế hoạch
không chỉ là của riêng lãnh đạo mà còn trở thành kế hoạch chính của người lao động.
Các thành viên sẽ có trách nhiệm cũng như cố gắng thực hiện một cách tốt nhất bản
kế hoạch và từ đó dẫn tới hiệu quả bản kế hoạch được nâng cao.
Nguyên tắc tham gia sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo của mọi thành
viên đối với hoạt động doanh nghiệp. Từ đó giúp nâng cao hiệu quả lao động của mọi
thành viên trong doanh nghiệp.
Để thực hiện được nguyên tắc tham gia này, các cán bộ lãnh đạo của donah
nghiệp cần phải xây dựng những mô hình nhằm thu hút được đông đảo quần chúng
và các tổ chức quần chúng trong doanh nghiệp tham gia trong công tác xây dựng,
thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp thậm chí cả trong hoạt động kiểm tra, giám sát.
Hai phương pháp phổ biến và mang tính hiệu quả trong việc thu hút sự tham gia của
các thành viên trong công tác kế hoạch hóa đó là: phương pháp kí kết hợp đồng tập
thể trong quá trình xây dựng kế hoạch; tổ chức bộ phận “nhóm chất lượng” trong
doanh nghiệp.


xuất của doanh nghiệp.
• Kế hoạch sản xuất tổng thể: là một phần của hệ thống kế hoạch hóa sản
xuất. Kế hoạch sản xuất tổng thể chủ yếu nhằm đưa ra các chính sách sản xuất,
thương mại, mua sắm, cung ứng….cho các hoạt động chung và cho các nhóm sản
phẩm. Kế hoạch sản xuất tổng thể mang tính chất tổng hợp các hoạt động sản xuất
kinh doanh sản phẩm của doanh nghiệp.
• Kế hoạch chỉ đạo sản xuất: là bước trung gian giữa kế hoạch sản xuất
tổng thể và kế hoạch nhu cầu ản xuất. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất xác định doanh
nghiệp cần phải sản xuất cái gì và khi nào thì sản xuất. Kế hoạch này phải phù hợp
với kế hoạch sản xuất tổng thể. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất cho chúng ta biết cần phải
chuẩn bị những gì để thỏa mãn nhu cầu và đáp ứng kế hoạch sản xuất tổng thể.
• Kế hoạch nhu cầu sản xuất: xác định nhu cầu các phương tiện và yếu tố
sản xuất như: lao động, máy móc thiết bị, diện tích sản xuất…
• Kế hoạch tiến độ sản xuất: loại kế hoạch được xây dựng trong các
doanh nghiệp công nghiệp, nhằm phân chia nhiệm vụ kế hoạch sản xuất cả năm cho
các phân xưởng, ngành, tổ chức sản xuất và từng công nhân trong từng khoảng thời
gian tương đối ngắn (tháng, tuần), thậm chí đến từng ca sản xuất. Là công cụ giúp
cho giám đốc doanh nghiệp chỉ đạo điều hành sản xuất một cách chặt chẽ, nhịp nhàng
và kịp thời.
2.2 Vai trò của kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Kế hoạch sản xuất kinh doanh là một trong những kế hoạch tác nghiệp của các
doanh nghiệp. Đối với hầu hết các doanh nghiệp, sản xuất và dự trữ là những chức
năng truyền thống của doanh nghiệp, nó giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra của
cải vật chất cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của người dân và là nguồn gốc
lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mặt khác, đây cũng là hoạt động tạo ra nhiều việc làm
nhất cho xã hội. Kế hoạch sản xuất và dự trữ cũng đóng góp vai trò rất quan trọng
trong các hoạt động của doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất dự trữ và
các kế hoạch chức năng trong doanh nghiệp được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sản phẩm mới
Nhu cầu của khách hàng

Năng lực
cung cấp
Marketing nhu
cầu
Kế hoạch sản
xuất tổng thể
Kế hoạch chỉ đạo
sản xuất
Kế hoạch nhu
cầu vật liệu
Kế hoạch nhu
cầu công suất
Khả thi?
Thực hiện kế
hoạch công suất
Thực hiện kế
hoạch vật liệu
Tài chính luồng tiền
Nhân sự
Kế hoạch nhân sự
Điều chỉnh KH
sản xuất
Điều chỉnh KH
chỉ đạo sản
xuất

Không
Điều chỉnh
nhu cầu
Điều chỉnh

bị lớn hơn nhu cầu công suất cần huy động thì có thể thực hiện bước tiếp theo.
Trường hợp không khả thi có nghĩa là công suất máy móc thiết bị không đáp ứng
được nhu cầu công suất cần huy động thì phải tiến hành điều chỉnh kế hoạch nhu cầu
nguyên vật liệu, kế hoạch chỉ đạo sản xuất và kế hoạch sản xuất tổng thể.
• Bước 7: Thực hiện kế hoạch công suất
• Bước 8: Thực hiện kế hoạch nguyên vật liệu
Hai bước 7, 8 chỉ được thực hiện khi kế hoạch nhu cầu công suất có tính khả
thi. Trong quá trình thực hiện hai kế hoạch trên cần tiến hành kiểm tra, giám sát xem
nó có đáp ứng được kế hoạch công suất và kế hoạch vật liệu đặt ra hay không?
2.3.2 Các bước soạn lập và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp
Quy trình kế hoạch hóa bao gồm các bước tuần tự, cho phép vạch ra các mục
tiêu tại những thời điểm khác nhau trong tương lai, dự tính các phương tiện cần thiết
và tổ chức triển khai sử dụng các phương tiện nhằm đạt được mục tiêu. Một trong
những quy trình kế hoạch hóa được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp và cả
những nước phát triển là quy trình PCDA(Plan, Do, Check, Act). Đây là một chu
trình hoạt động chuẩn, khái quát hoá các bước đi thông thường trong công tác quản
trị. Trước hết, mọi việc bắt đầu bằng việc hoạch định, tức lập kế hoạch (Plan) cho
những việc cần làm. Sau đó là đến khâu triển khai thực hiện (Do) những công việc
đó. Tiếp theo là kiểm tra (Check) lại những việc đã làm xem có đúng không, có phù
hợp không, có sai sót gì không. Cuối cùng là hành động khắc phục, phòng ngừa
những sai sót, yếu kém, những điểm không phù hợp (Act) để cải tiến. PDCA giúp
cho công việc được hoạch định và triển khai một cách bài bản, hạn chế được những
sai sót dẫn đến thiệt hại, mất mát.
Sơ dồ 3: Quy trình PCDA đầy đủ
Theo sơ đồ trên, quy trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp gồm các bước
chính sau:
 Bước 1: Soạn lập kế hoạch, đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất
trong quy trình kế hoạch hóa. Trong bước này, các nhà kế hoạch cần phải nghiên cứu
thị trường, dự báo thị trường và các biến động, phân tích môi trường bên trong và bên

Bước 3
Kế hoạch
chiến
lược
Bước 4
Chương
trình, dự
án
Bước 5
Kế hoạch
tác
nghiệp và
ngân sách
Bước 6
Đánh giá
và hiệu
chỉnh pha
của kế
hoạch
Sơ đồ 4: Các bước trong soạn lập kế hoạch
Nguồn giáo trình kế hoạch hóa kinh doanh
• Bước 2: Thiết lập các nhiệm vụ, mục tiêu cho toàn doanh nghiệp và các
đơn vị cấp dưới. Dựa vào những phân tích môi trường các nhà kế hoạch sẽ thiết lập
các nhiệm vụ, mục tiêu cho toàn doanh nghiệp và các đơn vị một cách phù hợp nhất.
Các mục tiêu xác định kết quả cần đạt được và chỉ ra các điểm kết thúc, thời gian kết
thúc. Trong các mục tiêu đạt ra mục tiêu nào là quan trọng, mục tiêu nào cần được
hoàn thành bằng một hệ thống các chiến lược, các chính sách, các thủ tục, các ngân
quỹ, các chương trình.
• Bước 3: Lập kế hoạch chiến lược. Kế hoạch chiến lược nhằm xác định
các mục tiêu dài hạn cho doanh nghiệp, chính sách để thực hiện các mục tiêu. Lập kế

năng, xem đó là các kế hoạch tác nghiệp để chỉ đạo và điều hành sản xuất kinh
doanh. Sau khi kế hoạch tác nghiệp được xây dựng xong cần lượng hóa chúng dưới
dạng tiền tệ các dự toán về mua sắm các yếu tố sản xuất, phục vụ bán hàng, nhu cầu
vốn…gọi là soạn lập ngân sách.
• Bước 6: Đánh giá, hiệu chỉnh các pha của kế hoạch. Đây
là bước thẩm định cuối cùng trước khi cho ra một văn bản kế hoạch. Các nhà lãnh
đạo doanh nghiệp cùng với các nhà chuyên môn kế hoạch cũng như chức năng khác,
có thể sử dụng thêm đội ngũ chuyên gia tư vấn, kiểm tra lại các mục tiêu, chỉ tiêu,
các kế hoạch chức năng, ngân sách, các chính sách…
 Bước 2: Triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch.
Bước này cụ thể hóa mục tiêu lý tưởng trên giấy tờ thành những hành động cụ thể và
những kết quả đạt được trong thực tế. Đây là khâu mang tính chất quyết định đến
việc thực hiện những mục tiêu đặt ra trong các kế hoạch. Trong bước này doanh
nghiệp cần phải xác định cách thức huy động các yếu tố nguồn lực như thế nào và sử
dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất.
 Bước 3: Tổ chức theo dõi, giám sát thực hiện kế hoạch. Nhiệm vụ
trong bước này là kiểm tra, theo dõi quá trình triển khai thực hiện các kế hoạch nhằm
phát hiện ra những thay đổi bất ngờ, tìm nguyên nhân của những thay đổi này. Cần
phân tích xem những nguyên nhân này xuất phát từ đâu, từ thị trường, môi trường
kinh doanh bên ngoài hay từ nội bộ bên trong doanh nghiệp, ban lãnh đạo, các cấp
thực hiện kế hoạch hay là những phát sinh đọt xuất trong quá trình triển khai kế
hoạch. Bước này cần tiến hành thường xuyên, liên tục để phát hiện kịp thời những
phát sinh để đảm bảo đúng tiến độ kế hoạch đã đề ra.
 Bước 4: Điều chỉnh thực hiện kế hoạch. Từ những phân tích ở bước 3
về hiện tượng không phù hợp với mục tiêu, các nhà kế hoạch cần phải có những điều
chỉnh để phù hợp với mục tiêu đã đặt ra. Những điều chỉnh đó có thể là:
• Thay đổi nội dung của hệ thống tổ chức. Việc thay đổi này sẽ không
làm thay đổi mục tiêu ban đầu trong bản kế hoạch mà chỉ thay đổi các khâu, các bộ
phận có liên quan đến hệ thống quản lý và bị quản lý.
• Thay đổi một số mục tiêu bộ phận trong hệ thống mục tiêu ban đầu đặt

hiện đang được huy động. Còn hiệu suất là tỉ lệ phần trăm của công suất thực tế hiện
đang được huy động. Hiệu quả hoạt động của thiết bị sản xuất thường được đánh giá
thông qua hiệu suất sử dụng.
• Dự báo nhu cầu công suất
Xác định nhu cầu công suất là một quy trình phức tạp, chủ yếu được dựa trên
nhu cầu tương lai. Thông thường việc xác định nhu cầu công suất cần phải thông qua
2 bước: tiến hành dự báo nhu cầu theo phương pháp truyền thống sau đó dựa vào kết
quả dự báo này để xác định nhu cầu công suất. Bước tiếp thoeo đó là xác định quy
mô gia tăng cận biên của công suất.
Trong trường hợp nhu cầu công suất không dự đoán trước được, doanh nghiệp
có thể sử dụng các mô hình “xác suất”. Kĩ thuật hay được áp dụng để lập kế hoạch
năng lực sản xuất trong điều kiện nhu cầu không chắc chắn là lý thuyết ra quyết định,
đó là sử dụng cây quyết định. Cây quyết định đòi hỏi phải xác định các sự lựa chọn
và các trạng thái tự nhiên khác nhau. Đối với việc xác định công suất, trạng thái tự
nhiên thường là nhu cầu tương lai hoặc triển vọng của thị trường.
 Kế hoạch sản xuất tổng thể
Có 2 phương pháp thường được sử dụng trong khi lập kế hoạch sản xuất tổng
thể là phương pháp đồ thị và phương pháp toán học
• Phương pháp đồ thị: Phương pháp này là phương pháp tương đối đơn
giản, dễ hiểu và dễ sử dụng. Đặc biệt với sự phát triển nhanh chóng và bùng nổ về
công nghệ thông tin, phương pháp đồ thị ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn bởi
tính tiện dụng của nó. Khi các nhà kế hoạch sử dụng phương pháp này cần phải thực
hiện 5 bước:
- Xác định nhu cầu cho mỗi kì
- Xác định công suất giờ chuẩn, giờ phụ trội và thuê gia công cho mỗi kì
- Xác định chi phí lao động, thuê gia công và chi phí lưu kho
- Tính đến chính sách của doanh nghiệp đối với lao động hoặc mức lưu kho
- Khảo sát các kế hoạch và ước lượng tổng chi phí.
• Phương pháp toán học:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status