Báo cáo thực tập tổng hợp tại ngân hàng tmcp bắc á chi nhánh hà nội - Pdf 30

I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á
CHI NHÁNH HÀ NỘI
1.Lịch sử hình thành.
Muốn nền kinh tế tăng trưởng cần phải có sự đầu tư phát triển. Để tiến hành hoạt
động đầu tư phải có vốn. Và ngõn hàng là một trung gian tài chớnh giúp cho việc lưu thông
vốn trong nền kinh tế diễn ra một cách dễ dàng và nhanh chóng làm tăng hiệu quả đầu tư
phát triển nền kinh tế. Ngoài ngân hàng nhà nước cũn có nhiều loại hình tổ chức ngõn hàng
thương mại khác như ngõn hàng sở hữu tư nhân, ngõn hàng sở hữu Nhà Nước, ngõn hàng
liên doanh và ngõn hàng cổ phần. Hiện nay trên thế giới các ngõn hàng lớn nhất là ngõn
hàng cổ phần. Ở Việt Nam có khoảng 36 ngõn hàng cổ phần trong đó có ngõn hàng
thương mại cổ phần Bắc Á( NASB). NASB được thành lập theo quyết định 0052/NHGP
01/09/1994 của thống đốc ngõn hàng nhà nước Việt Nam. Vốn góp cổ phần do các cổ
đông có uy tín đóng góp và là ngõn hàng thương mại cổ phần có doanh số hoạt động kinh
doanh lớn nhất khu vực miền trung. Ngoài hoạt động chớnh là kinh doanh tiền tệ NASB
cũn tham gia vào lĩnh vực kinh doanh du lịch và khách sạn. Trụ sở chớnh của ngõn hàng
được đặt tại thành phố Vinh, Nghệ An và có 8 chi nhánh 5 phòng giao dịch tại Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Thanh Hoá. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế
NASB đang ngày càng được mở rộng quy mô về vốn phạm vi hoạt động và các loại hình
dịch vụ. Với nguồn vốn điều lệ ban đầu là 155 tỷ nay đã tăng lên 400 tỷ và sẽ đạt 1000 tỷ
trước năm 2008. Ngõn hàng cung cấp các dịch vụ như mở tài khoản nội tệ và ngoại tệ,
nhận tiền gửi, đầu tư cho vay và bảo lónh, thanh toán trong và ngoài nước, tài trợ thương
mại, chuyển tiền nhanh, kinh doanh ngoại hối, phát hành và thanh toán thẻ, séc…Mặc dù
hệ thống mạng lưới chi nhánh của NASB chưa nhiều và rộng khắp cả nước nhưng NASB
là ngõn hàng kinh doanh có hiệu quả có uy tín các cán bộ làm việc tận tình chu đáo và có
nhiều chớnh sách với khách hàng. Ngõn hàng là một trong 10 ngõn hàng được chọn tham
gia vào hệ thống thanh toán tự động liên ngõn hàng.
Trong tất cả các chi nhánh thì chi nhánh Hà Nội là chi nhánh quan trọng nhất được
đầu tư lớn nhất. Chi nhánh Hà Nội được thành lập sau hội sở chớnh gần 1 năm theo giấy
chứng nhận số 0025/GCT ngày 01 tháng 07 năm 1995 của ngõn hàng Nhà Nước Việt
Nam. Chi nhánh được thành lập nhằm mở rộng mạng lưới của NASB từng bước xõy dựng
hệ thống trên toàn quốc và thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ trên thị trường Hà Nội.

Phòng giao dịch
Tây Sơn
Chi nhánh cấp 2
Hàng Đậu
Chi nhánh cấp 2
Thái Hà
Phòng giao dịch
Hàng Bông
Phòng kế toán Phòng giao dịch
Phương Mai
Phòng ngân quỹ
Phòng giao dịch
Bạch Mai
Phòng tin học
Phòng hành chính
Chi nhánh cấp 2
Cát Linh
Chi nhánh cấp 2
Cầu Giấy
Phòng kiểm soát
Chi nhánh cấp 2
Phương Mai
Phòng tín dụng
Ban giám đốc
động chớnh của chi nhánh hiện nay là cho vay. Có rất nhiều loại hình cho vay: cho vay
kinh doanh, cho vay tiêu dùng, cho vay du học…
Cho vay kinh doanh: cho vay kinh doanh đối với khách hành là cá nhõn doanh
nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ
Cho vay tiêu dùng với các khách hàng có nhu cầu vay để tiêu dùng, mua đất, mua
nhà, mua xe, chữa bệnh… Đặc biệt chi nhánh cho cán bộ vay với hình thức tín chấp trên cơ

người, phòng giao dịch Bạch Mai có 6 người. Các phòng đều có trưởng phòng, thủ quỹ,
thanh toán viên, nhõn viên tín dụng và thực hiện các hoạt động như tại trụ sở chớnh: nhận
tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm bằng nội, ngoại tệ,rút tiền chuyển tiền, cung cấp thẻ
ATM, cấp tín dụng…
f. Phòng tin học
Hiện nay chi nhánh chưa có phòng tin học mà chỉ có bộ phận tin học. Đõy đang là
một hạn chế của chi nhánh.
g. Phòng kiểm soát
Có chức năng bảo mật hồ sơ, tài liệu thông tin liên quan công tác kiểm tra, thanh tra
vụ việc theo quy định, thực hiện quản lí thông tin và lập các báo cáo về kiểm tra nội bộ.
II. HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á CHI NHÁNH
HÀ NỘI
1.HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN.
Huy động vốn là hoạt động vô cùng quan trọng của một trung gian tài
chính nói chung và của các ngân hàng thương mại(NHTM) nói riêng. Để tồn
tại và phát triển, các NHTM không chỉ dùa vào nguồn vốn nội bộ mà phải tìm
kiếm các nguồn từ phía ngoài. Nắm bắt được tầm quan trọng của hoạt động
tạo vốn, ngân hàng thương mại cổ phần(TMCP) Bắc á chi nhánh Hà Nội luôn
xây dựng một cơ cấu nguồn vốn hợp lý và áp dụng các biện pháp để huy động
nguồn vốn nhàn rỗi ở các tầng líp dân cư. Bên cạnh việc huy động vốn từ các
nguồn truyền thống như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của các tổ
chức, cá nhân, tiền gửi tiết kiệm NASB Hà Nội đã vươn tới thị trường liên
ngân hàng và thị trường quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu vốn bức thiết cho hoạt
động của các chi nhánh ngân hàng. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng
khốc liệt nh hiện nay, việc huy động được nguồn vốn lớn với chi phí thấp đã
và đang là thách thức của các NHTM. Để đảm bảo khả năng cạnh tranh,
NASB Hà Nội đã áp dụng mức lãi suất bậc thang không chỉ phù hợp với sự
thay đổi lãi suất của thị trường mà còn rất hấp dẫn thu hót khách hàng. Cùng
với việc áp dụng các mức lãi suất hấp dẫn NASB Hà Nội còn xây dựng các
chương trình huy động vốn đặc biệt như: TGTK dự thưởng, TGTK tham gia

đồng so với năm 2004 tương ứng với tốc độ tăng là 35%, năm 2006 tăng
484.471 triệu đồng so với năm 2005 tương ứng với tốc độ tăng là 25%.
Nguồn vốn huy động được hàng năm không ngừng tăng nguyên nhân là do
ngân hàng đã áp dụng chế độ lãi suất linh hoạt cùng với việc mở rộng các kì
hạn cho vay thu hót nhiều đối tượng tham gia. Trong cơ cấu nguồn vốn thì
tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trong cao trong các năm: năm 2004
chiếm 56.13% so với tổng nguồn vốn( chiếm hơn một nửa tổng nguồn vốn),
năm 2005 chiếm 47.81% và tỷ trọng này được giữa ổn định cho đến năm
2006. Bảng số liệu cho thấy ngân hàng đang dần chuyển chú trọng sang huy
động vốn của các tổ chức kinh tế: là những người chỉ có vốn nhàn rỗi trong
ngắn hạn nhưng bù lại họ lại cho ngân hàng một lượng vốn lớn. Tiền gửi dân
cư qua các năm tăng nhẹ điều đó chứng tỏ ngân hàng chưa có những biện
pháp thích hợp trong việc tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi, ổn định, chi phí thấp
này. Đây là một vấn đề mà ngân hàng cần có biện pháp kịp thời trong thời
gian tới. Không chỉ vậy, qua báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh chóng ta
có thể thấy tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm không kì hạn vẫn chiếm một tỷ trọng
thấp trong tổng nguồn vốn( chiếm 35.53%) trong khi đó tiền gửi tiết kiệm có
kỳ hạn lại chiếm một tỷ trọng “áp đảo” là 64.47%, điều đó chứng tỏ ngân
hàng chưa có những sản phẩm dịch vụ “hấp dẫn” thu hót loại tiền gửi có chi
phí thấp này. Mặt khác, tuy NASB Hà Nội không phảI là một ngân hàng
chuyên kinh doanh ngoại tệ nhưng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế NASB
Hà Nội đã không ngừng cố gắng trong việc thu hót tiền gửi bằng ngoại tệ. Tỷ
trọng tiền gửi bằng ngoại tệ đã không ngừng tăng lên qua các năm. Đặc biệt
năm 2005 tổng vốn bằng ngoại tệ huy động được tăng 216.66% so với năm
2004( tăng lên gấp đôi). Đây quả một nỗ lực đángkhích lệ của ngân hàng. Đến
măn 2006 mặc dù loại tiền gửi này vẫn tăng lên song tốc độ tăng có vẻ chững
lại ( chỉ chiếm 25% so với năm 2005).
Tóm lại, mặc dù có những hạn chế nhất định trong việc huy động vốn,
song NASB Hà Nội đã góp phần tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho
nền kinh tế đảm bảo tính phát triển và bền vững.

việc, NASB Hà Nội đã xây dựng được mối quan hệ với khách hàng lâu dài .
Đó là các tổ chức kinh tế, cá nhân rộng khắp trên địa bàn Hà Nội.
Bảng2: Tình hình dư nợ tại ngân hàng TMCP Bắc á chi nhánh Hà Nội
Kết cấu d nợ theo thời hạn
chỉ tiêu
năm 2004
năm 2005
Năm 2006
số tiền
số tiền 05/04(±%)
Số tiền
06/05(±%)
Tổng dư nợ
1105113
1381431 25.00
1726789 25.00
Cho vay ngắn hạn
621074
838490 35.01
1048113 25.00
Tỷ trọng(%)
56.20
60.70
60.70
Cho vay trung và
dài hạn
484039
542941 12.17
678676 25.00
Tỷ trọng(%)

hạn. Nhưng để đảm bảo tính an toàn cho ngân hàng cho nên NASB đã thực
hiện chính sách “ an toàn và hiệu quả”, nghĩa là chỉ duy trì dư nợ trung và dài
hạn trong một giới hạn nhất định. Do đó tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn của
ngân hàng chiếm tỷ trọng thấp: Năm 2004 chiếm 43.80%, năm 2005 chiếm
39.30% và giữ ổn định tỷ trọng này cho đến cuối năm 2006. Mặc dù chiếm tỷ
trọng thấp trong tổng dư nợ nhưng cho vay trung và dài hạn vẫn đáp ứng vốn
đủ, kịp thời cho các dự án khả thi giúp cho các doanh nghiệp trong nền kinh
tế không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh do thiếu vốn. Bằng chứng là ngân hàng vẫn
đảm bảo tốc độ tăng trưởng của các khoản vay này. Đặc biệt năm 2006 dư nợ
trung và dài hạn tăng 25% so với năm 2005( trong khi năm 2005 chỉ tăng
12.17% so với năm 2004). Ngoài ra, NASB Hà Nội đã không ngừng mở rộng
các phương thức cho vay đáp ứng các nhu cầu vay vốn đa dạng của nền kinh
tế. Từ các phương thức cho vay truyền thống như: Cho vay theo phương thức
từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay theo dự án đầu tư…NASB đã từng
bước áp dụng các phương thức cho vay khác như: Cho vay theo hạn mức thấu
chi, cho vay trả góp…Khách hàng có thể tuỳ ý lùa chọn hình thức vay vốn
phù hợp với khả năng tài chính của mình. Mặt khác, đối với những món vay
lớn vượt quy định dư nợ đối với 1 khách hàng do ngân hàng nhà nước quy
định, NASB đã áp dụng phương thức cho vay hợp vốn( đồng tài trợ với 1
ngân hàng khác) để không làm ảnh hưởng đến quan hệ khách hàng lâu dài và
không vi phạm quy định. Bên cạnh việc cho vay có tài sản đảm bảo hoặc bảo
lãnh của người thứ 3, NASB Hà Nội đang từng bước áp dụng các biện pháp
cho vay tín chấp( dùa vào uy tín của khách hàng) tuy hình thức cho vay này
khá mạo hiểm nhưng đó cũng là một biện pháp nhằm “giữ chân” những khách
hàng tốt, những khách hàng “quen” của ngân hàng. Hình thức cho vay tín
chấp này cũng áp dụng đối với các cán bộ, nhân viên của ngân hàng nhằm
giúp họ trong việc mua sắm phương tiện đi lại hoặc mua nhà ở với lãi suất
cho vay ưu đãi. Nhìn chung, với các phương thức cho vay đa dạng, NASB Hà
Nội không chỉ giúp cho các cá nhân, các tổ chức kinh tế bảo bảo ổn định tình
hình sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng hàng hoá, tăng khả năng cạnh

tín dụng nói riêng trong việc xử lý và thu hồi nợ.
Nhìn chung hoạt động tín dụng của NASB Hà Nội trong những năm qua
đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ mà vẫn đảm bảo an toàn và hiệu quả.
Đây là thành công lớn của ngân hàng và còn hứa hẹn những kết quả khả quan
khác trong thời gian tới.
2.2. Hoạt động đầu tư
Mặc dù cho vay là hoạt động chủ chốt của HASB Hà Nội nhưng trong
những năm qua ngân hàng cũng không ngừng mở rộng các hình thức đầu tư
đem lại hiệu quả hoạt động cho ngân hàng. Năm 2003 tổng giá trị đầu tư là
14.02 tỷ đồng, năm 2004 do biến động của thị trường mà hoạt động đầu tư
của ngân hàng có phần “chững” lại, giá trị đầu tư năm 2004 là 12.91 tỷ
đồng( giảm 7.92% so với năm 2003). Nhưng đến năm 2005 hoạt động đầu tư
của ngân hàng lại tăng vọt lên 21.76 tỷ đồng( tăng 68.55% so với năm 2004).
Tuy hoạt động đầu tư của ngân hàng trong những năm qua không ngừng tăng
lên nhưng tổng giá trị đầu tư vẫn chiếm tỷ trọng quá nhỏ trong cơ cấu sử dụng
vốn. Đây là một điểm cần chú ý của ngân hàng trong thời gian tới để thu được
kết quả hoạt động tốt hơn.
2.3. Hoạt động mua bán ngoại tệ
Mét trong những hoạt động đầu tiên mà các ngân hàng thực hiện kinh
doanh đó là hoạt động trao đổi mua bán ngoại tệ. Các ngân hàng tiến hành
mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng chênh lệch mặt
khác ngân hàng cũng là nơi cung cấp dịch vô đổi tiền nhằm phục vụ những
khách hàng có nhu cầu đổi loại tiền này lấy một loại tiền khác phục vụ hoạt
động của mình. Tuy là một ngân hàng có quy mô không lớn, song NASB
còng tiến hành hoạt động kinh doanh ngoại tệ và bước đầu cũng đã thu được
thành quả đáng mừng. Trong thời gian tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ sẽ
trở thành một trong những hoạt động mòi nhọn của NASB Hà Nội.
3. Hoạt động trung gian
3.1. Hoạt động bảo lãnh
Trong nền kinh tế đầy cạnh tranh như hiện nay, các ngân hàng muốn tồn

người nhận. Chuyển tiền nhanh chóng, an toàn, tiện dụng, chính là mục tiêu
mà NASB Hà Nội đặt ra nhằm tạo khả năng cạnh tranh đồng thời phục vụ
khách hàng ngày càng tốt hơn. Dịch vụ chuyển tiền nội địa do NASB Hà Nội
cung cấp đang dần trở nên quen thuộc với khách hàng, đem lại thu nhập đáng
kể cho ngân hàng hàng năm thông qua phí chuyển tiền. Đặc biệt, vừa qua
NASB Hà Nội cũng đã phát hành thẻ ngân hàng. Đây là một dịch vụ chuyển
tiền hiện đại, từng bước tiếp cận với nền văn minh nhân loại. Dịch vụ thẻ
ngân hàng do NASB Hà Nội cung cấp không chỉ đáp ứng nhu cầu cho những
người chuyển tiền mà còn đáp ứng nhu cầu chi trả lương hộ các doanh
nghiệp( dịch vụ thủ quỹ). Hơn thế nữa, dịch vụ thẻ ngân hàng cũng là một
cung cụ hỗ trợ đắc lực trong việc huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi với
chi phí rất thấp. Những người gửi tiền thông qua dịch vụ thẻ này không quan
tâm đến lợi nhuận thu được từ việc gửi tiền mà họ chỉ quan tâm đến chất
lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Chất lượng dịch vụ càng hiện đại thì
vốn huy động được từ nguồn này càng nhiều. Đây cũng là một trong những
vấn đề quan trọng mà ngân hàng cần lưu ý để phục vụ khách hàng ngày một
tốt hơn. Dịch vụ thẻ ngân hàng do NASB cung cấp tuy ra đời muộn hơn so
với các ngân hàng khác nhưng chất lượng dịch vụ không vì thế mà kém hơn
mà dịch vụ này cung cấp cho khách hàng những ưu việt vượt trội hơn so với
các dịch vụ thẻ mà các ngân hàng khác cung cấp. Từ khi ra đời đến nay, dịch
vụ thẻ của NASB đã phát huy tác dụng của mình, nó không chỉ giúp ngân
hàng trong việc huy động nguồn vốn lớn mà còn giúp ngân hàng có thêm một
nguồn thu nhập mới, đó là phí dịch vụ. Hiện nay, NASB Hà Nội đang nỗ lực
hơn nữa tỏng việc cung cấp các dịch vụ tiện Ých cho khách hàng nhằm thực
hiện tốt hơn nữa chức năng của mình là một trung gian tài chính.
3.2.2. Chuyển tiền quốc tế
Trong xu thế hội nhập quốc tế nh hiện nay, đặc biệt là từ sau sự kiện Việt
Nam gia nhập WTO thì nhu cầu chuyển tiền ra nước ngoài ngày càng trở nên
bức thiết. Nắm bắt được nhu cầu đó NASB Hà Nội đã cung cấp dịch vụ
chuyển tiền ra nước ngoài với thời gian ngắn, nhanh gọn và đơn giản. Dịch vụ

khoảng đến giữa năm 2007 ngân hàng sẽ chính thức niêm yết cổ phiếu để huy
động vốn và kêu gọi đầu tư. Hoạt động tư vấn và đầu tư chứng khoán là một
hoạt động mới của ngân hàng do đó doanh thu từ hoạt động này hàng năm
đem lại là không lớn. Nhưng trong thời gian tới với sự tăng trưởng “nóng”
của thị trường nh hiện nay thì chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào sự tăng
trưởng của nguồn thu này.
3.4.Dịch vụ tư vấn tài chính
Đây là một trong những hoạt động dịch vụ mà NASB Hà Nội chú trọng
phát triển trong thời gian qua. Bằng đội ngò cán bộ lành nghề, ngân hàng
cung cấp cho khách hàng những lời khuyên hữa Ých về thành lập, mua bán và
sát nhập doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế thị trường chứa đựng nhiều
rủi do nh hiện nay, thì càng ngày các tổ chức, cá nhân càng cần đến việc tư
vấn của ngân hàng. Bởi vì hơn ai hết ngân hàng là người hiểu biết ngành nghề
mà họ kinh doanh nhiều nhất. Mặt khác, khi tiếp cận dịch cụ tư vấn của ngân
hàng, khách hàng cungc dễ dàng hơn trong việc vay vốn ngân hàng, ngoài ra
điều này cũng giúp cho ngân hàng tiết kiệm được chi phí khi điều tra, thẩm
định một khách hàng mới. Nói chung, dịch vụ tư vấn mà NASB Hà Nội cung
cấp là một dịch vụ mới. Hiện tại, thu nhập mà dịch vụ này mang lại là không
đang kể. Nhưng nếu xét về thị trường tiềm năng của dịch vụ này thì đây sẽ là
một dịch vụ sẽ phát triển mạnh trong tương lai.
Hoạt động marketing
Trong điều kiện nền kinh tế có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng
NASB Hà Nội đã luôn chú trọng đến việc quảng cáo giới thiệu các loại hình
dịch vụ của ngân hàng đến với công chúng qua báo chí truyền hình… Đến với
ngân hàng khách hàng được đón tiếp tận tình chu đáo. Ngoài ra NASB Hà
Nội còn xây dựng các chương trình khuyến mãi nhằm quảng bán hình ảnh và
thu hót khách hàng. Mặc dù chi cho hoạt động marketing chưa lớn nhưng hoạt
động marketing đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
nhưng ngân hàng cần phải chú trọng đầu tư hơn nữa cho hoạt động marketing.
Tóm lại, do hạn chế về quy mô, mạng lưới ngân hàng còn Ýt cho nên các


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status