Y học thực hành (816) - số 4/2012
139
KếT LUậN
- Môi trờng lao động:
+ Cờng độ tiếng ồn theo mức áp âm chung: Xí
nghiệp thơng mại mặt đất Nội Bài cờng độ dao động
từ 70-108dBA, có 54/72 vị trí (chiếm 75%) vợt
TCVSCP từ 1- 23dBA. Khu vực tiếng ồn cao chủ yếu là
khu vực sân đỗ và trạm sửa chữa; Tổng công ty dệt
Phong Phú: cờng độ tiếng ồn từ 73.9 - 96.1dBA, số
mẫu cờng độ tiếng ồn vợt TCVSCP chiếm 58.5%.
100% khu vực máy dệt có tiếng ồn cao vợt TCVSCP.
+ Phân tích theo 8 dải tần số thì cờng độ tiếng ồn
thờng cao ở các dải tần số cao từ 1000 - 8000Hz.
- Tỷ lệ mới mắc (IDR) bệnh điếc nghề nghiệp:
+ IDR tính chung cả 2 cơ sở nghiên cứu là 65.10
-4
năm - ngời.
+ IDR của XN TMMĐ Nội Bài là 37.10
-4
năm -
ngời.
+ IDR của Tổng Công ty Dệt Phong Phú là 165.10
-4
năm - ngời.
nghị khoa học y học lao động và Vệ sinh môi trờng toàn
quốc lần thứ ba, Hà Nội 1998.
4. Nguyễn Huy Thiệp, 1992, Tình hình bệnh điếc
nghề nghiệp của công nhân ngành dệt, Báo cáo tổng kết
đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ công nghiệp, 1992,
tr34.
5. Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trờng, 2003,
Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắc, Tài liệu tập huấn Chơng
trình giám sát y tế, Hà Nội, 2003.
6. Nelson,D et al, The global burden of occupational
noise induced hearing loss, American Journal of Industrial
Medicine, 2005, p1
7. Occupational Safety & Health (1995), Occupational
noise exposure, Occupational Safety & Health
Administration 200 Constitution Avenue,NW Washington,
DC 20210; pp 1910.
8. Sataloff RT., 1984, Occupational hearing loss,
Texas med 1984 - v80, IV 62-64.
Mô tả kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới
có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ dới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011
Lê Thiện Thái - Bệnh viện Phụ sản Trung ơng
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả kiến thức và một số thực hành về
làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con
nhỏ dới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011.
Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả cắt ngang trên 210 nam giới có vợ 15-49 tuổi có
con dới 2 tuổi tại Phú Thọ năm 2010-2011, chọn mẫu
childbearing of women and postpartum werent well
(the prevalence knew from 3 signs upward to follow the
order was 22.3%, 33.8%, 22.4%). Most, the male were
Y học thực hành (816) - số 4/2012
140
brought his wife to the health care for childbirth
(94.7%) and when women had signs dangerous during
pregnancy (90.5%), postpartum (87.1%). 97.6% men
knew pregnant women need examination prenatal 3
times upward.
Conclusion: a knowledge of male had wife 15-49
year olds with young children under 2 year olds about
signs dangerous with regard to the pregnant women
werent well. Most, the male were brought his wife to
the health care for childbirth and when the pregnant
women had signs dangerous.
Keywords: safe motherhood, signs dangerous,
pregnant women
ĐặT VấN Đề
Làm mẹ an toàn là tất cả phụ nữ đều đợc nhận sự
chăm sóc cần thiết để đợc hoàn toàn khỏe mạnh
trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ. Theo
Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) để đảm bảo an toàn
cho mẹ và con trong quá trình mang thai và sinh, ngời
phụ nữ phải đợc cán bộ y tế có trình độ chuyên môn
chăm sóc và theo dõi. Trên Thế giới mỗi năm có
tham gia nghiên cứu.
2. Phơng pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
cắt ngang nhằm mô tả kiến thức và một số thực hành
về làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15-49 tuổi có
con nhỏ dới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011.
Cỡ mẫu nghiên cứu đợc tính theo công thức sau:
DE
.
Zn
2
2
2
-1
d
qp
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
Z
2
1-
/2
: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% (=1,96)
p: Tỷ lệ nam giới biết về dấu hiệu chảy máu sau
sinh, p=50%.
q=1-p: Tỷ lệ nam giới không biết về dấu hiệu chảy
máu sau sinh (=50%)
sinh cho phụ nữ mang thai.
Tỷ lệ nam giới biết 2 dấu hiệu nguy hiểm đối với
phụ nữ mang thai là cao nhất (44,3%), tiếp đến là biết
1 dấu hiệu (25,7%); 3 dấu hiệu (15,7%). Chỉ có 6,6%
nam giới biết từ 4 dấu hiệu trở lên và không có nam
giới nào biết đồng thời cả 6 dấu hiệu nguy hiểm. Bên
cạnh đó vẫn còn 7,7% nam giới không biết bất kỳ 1
dấu hiệu nguy hiểm nào đối với phụ nữ mang thai.
Bảng 1. Tỷ lệ nam giới biết đợc từng dấu hiệu
nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai.
Các dấu hiệu phụ nữ mang thai
gặp nguy hiểm
Số lợng Tỷ lệ %
Sốt cao kéo dài 132 62,9
Đau đầu 20 9,5
Phù 13 6,2
Chảy máu ở cửa mình 90 42,9
Co giật 35 16,7
Đau bụng 108 51,4
Khác 13 6,2
Trong các dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ mang
thai thì dấu hiệu sốt cao kéo dài đợc nhiều nam giới
biết nhất chiếm tỷ lệ 62,9%, tiếp đó là dấu hiệu đau
bụng (51,4%), chảy máu cửa mình (42,9%). Dấu hiệu
mà nam giới ít biết đến là dấu hiệu đau đầu (9,5%),
Y học thực hành (816) - số 4/2012
141
nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai trong chuyển dạ
Các dấu hiệu phụ nữ chuyển dạ gặp
nguy hiểm
Số lợng Tỷ lệ %
Đau bụng dữ dội 117 55,7
Chảy nhiều máu 97 46,2
Sốt 50 23,8
Co giật 34 16,2
Vỡ ối sớm trớc khi đẻ 102 48,6
Khác 2 1,0
Không biết 21 10,0
Dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ chuyển dạ đợc
nhiều nam giới biết đến nhất là đau bụng dữ dội
(55,7%), tiếp đến là dấu hiệu vỡ ối sớm trớc khi đẻ
(48,6%), dấu hiệu chảy nhiều máu (46,2%). Dấu hiệu
nguy hiểm đợc ít nam giới biết đến là co giật (16,2%).
Tuy nhiên vẫn còn 10,0% nam giới không biết đến dấu
hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ trong quá trình chuyển
dạ.
Tất cả nam giới đều biết ngời đỡ đẻ tốt nhất cho
phụ nữ mang thai là nhân viên y tế.
3.2. Thực hành về chăm sóc trong sinh của ngời
nam giới khi phụ nữ sinh nở
Khi tìm hiểu về ngời giúp đỡ phụ nữ chuẩn bị cho
việc sinh đẻ thì 90% nam giới đợc phỏng vấn cho biết
chồng là ngời giúp đỡ vợ chuẩn bị cho việc sinh đẻ.
Ngoài ra còn có mẹ chồng, mẹ đẻ và ngời khác trong
gia đình (anh, chị, em) cũng giúp đỡ phụ nữ chuẩn bị
nhng với tỷ lệ thấp hơn
Hầu hết nam giới đều đa vợ đi đẻ trong lần sinh
Phần lớn nam giới đều biết đa phụ nữ sau sinh
đến cơ sở y tế nhà nớc khi gặp dấu hiệu nguy hiểm
(87,1%). Có tỷ lệ thấp nam giới mời cán bộ y tế đến
nhà (5,2%) và đa vợ đến phòng khám t nhân (3,8%).
Tuy nhiên, vẫn còn 6,1% nam giới chọn cách để vợ ở
nhà chờ bệnh tự khỏi. Không có nam giới nào tìm đến
thầy lang, cúng để chữa bệnh cho vợ khi gặp dấu hiệu
nguy hiểm.
BàN LUậN
1. Kiến thức của nam giới về chăm sóc trớc
sinh đối với phụ nữ mang thai.
Thai nghén là giai đoạn có nhiều nguy cơ tiềm ẩn,
có thể dẫn đến những vấn đề sức khỏe trầm trọng nh
bệnh tật, tử vong hoặc các biến chứng lâu dài sau sinh
mà bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể mắc phải trong
thời kỳ mang thai. Bản thân ngời phụ nữ và ngời
chồng cần biết sớm những dấu hiệu nguy hiểm đó để
có thể xử lý kịp thời. Kết quả nghiên cứu thấy tỷ lệ nam
giới biết từ 3 dấu hiệu nguy hiểm trở lên là 22,3%, cao
hơn so với báo cáo về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại
7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 với tỷ lệ là 10,4%
[10]. Và thấp hơn một số nghiên cứu khác là khoảng
1/3 số phụ nữ biết ít nhất 3 dấu hiệu nguy hiểm trong
khi ngời phụ nữ mang thai [4], [8]. Đồng thời, tỷ lệ
nam giới không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào
theo nghiên cứu này là 7,7%, thấp hơn so với tỷ lệ
44,7% theo nghiên cứu tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ [10]
và 31,2% phụ nữ không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm
nào theo điều tra của chơng trình giảm tử vong mẹ và
tử vong trẻ sơ sinh năm 2009 [2]. Điều này cho thấy,
90,5% nam giới biết phải đa vợ tới cơ sở y tế nhà
nớc, thấp hơn 97,9% đi đến cơ sở y tế nhà nớc theo
báo cáo năm 2005 do UNFPA tài trợ [10]. Điều này
cho thấy, tuy kiến thức về phát hiện các dấu hiệu nguy
hiểm đối với phụ nữ trớc sinh của nam giới đã đợc
cải thiện nhng thái độ và thực hành của họ trong xử trí
các dấu hiệu nguy hiểm trên cha đợc cải thiện. Do
đó, các cán bộ y tế cần tăng cờng tuyên truyền, vận
động để họ có thái độ tích cực và thực hành tốt hơn,
nâng cao hiệu quả của chơng trình.
Uốn ván sơ sinh là một trong 5 tai biến sản khoa
mà chúng ta có thể phòng chống đợc nếu trong thời
gian mang thai ngời phụ nữ đợc tiêm đủ mũi vắc xin
phòng uốn ván. Nghiên cứu cho thấy 51,4% nam giới
biết cần phải tiêm 2 mũi uốn ván cho phụ nữ trong lần
mang thai đầu tiên, kết quả này thấp hơn so với 61,0%
theo nghiên cứu điều tra ban đầu về thực trạng cung
cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh
do UNFPA tài trợ năm 2005 [10], 85,4% ở Hải Dơng,
90,5% ở Bắc Ninh, 88,5% theo Báo cáo của Vụ Chăm
sóc SKSS năm 2006 [1]. Có sự khác biệt này có thể do
công tác truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản của
tỉnh Phú Thọ cha toàn diện, vấn đề tiêm phòng uốn
ván cho phụ nữ mang thai cha đợc quan tâm đúng
mức. Đồng thời do ngời dân cha nhận thức đợc đầy
đủ về tầm quan trọng của tiêm phòng uốn ván. Do vậy,
cần có kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe cho
phụ nữ mang thai và cả chồng của họ về vấn đề này.
2. Kiến thức và thực hành của nam giới về chăm
sóc trong sinh đối với phụ nữ mang thai.
số nghiên cứu. Đau bụng thờng là dấu hiệu sớm trong
chuyển dạ, khi biết đợc dấu hiệu này thì ngời chồng
sẽ đa vợ đi khám sớm tại các cơ sở y tế, do vậy sẽ
làm giảm đợc các tai biến cho cả mẹ va thai nhi.
Tất cả nam giới đều biết ngời đỡ đẻ tốt nhất cho
vợ mình là nhân viên y tế (100%). Kết quả này cao hơn
so với kết quả của nghiên cứu điều tra tại 7 tỉnh do
UNFPA tài trợ năm 2005 với tỷ lệ này là 82,7%. Điều
này là do kết quả của chơng trình quốc gia về chăm
sóc sức khỏe sinh sản đã đợc triển khai trên cả nớc.
Đồng thời do nhận thức và thái độ của ngời dân đã
đợc nâng lên.
Do có nhận thức tốt về ngời đỡ đẻ tốt nhất nên
hầu hết nam giới đã đa vợ mình đến sinh con tại cơ
sở y tế nhà nớc chiếm 94,7%, cao hơn nhiều so với
kết quả của một số nghiên cứu tại ấn Độ là 31%,
Zimbabwe là 50% [5] và Nam Phi là 55,9% [6]. Tại Việt
Nam hiện nay sinh con ở cơ sở y tế đang trở thành một
lựa chọn phổ biến. Nghiên cứu thực trạng tình hình dịch
vụ làm mẹ an toàn ở Việt Nam tháng 7/2003 cho thấy,
tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế cho cuộc đẻ khác nhau ở các
tỉnh khác nhau, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là
trạm y tế xã và bệnh viện huyện [3]. Báo cáo đánh giá
cuối kỳ về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ
CSSKSS tại 12 tỉnh tham gia Chơng trình Quốc gia 6
năm 2005 thì tỷ lệ bà mẹ đẻ tại cơ sở y tế nhà nớc là
81,7% (2003) và 88,2% (2005) [9]. Báo cáo điều tra cơ
bản Chơng trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ
sinh thì hầu hết các sản phụ sinh con tại cơ sở y tế nhà
nớc, chiếm tỷ lệ cao là sinh con tại các bệnh viện tỉnh
tăng lên sau đẻ là một tai biến quan trọng sau khi sinh.
Chảy máu nhiều, kéo dài sau sinh ở sản phụ có thể
dẫn đến shock do giảm khối lợng tuần hoàn và có thể
gây ra tử vong sớm ở phụ nữ sau sinh nếu không đợc
chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời. Do vậy việc phát hiện
sớm dấu hiệu này là rất quan trọng trong theo dõi sản
phụ sau khi đẻ. Tỷ lệ nam giới biết dấu hiệu này là
nguy hiểm theo nghiên cứu này chiếm tỷ lệ cao, cho
thấy kiến thức của nam giới là tốt. Có đợc kết quả này
là do hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe đã
đợc triển khai. Phần lớn nam giới đều biết đa phụ nữ
sau sinh đến cơ sở y tế nhà nớc khi gặp dấu hiệu
nguy hiểm (87,1%). Bộ Y tế khuyến cáo để tăng cờng
dự phòng và cấp cứu 5 tai biến sản khoa thì cần tăng
cờng chăm sóc sau đẻ bằng cách theo dõi chặt chẽ
và chăm sóc sản phụ chu đáo trong 6 giờ đầu nhằm
phát hiện sớm những bất thờng của mẹ và bé và có
cán bộ y tế theo dõi chăm sóc sản phụ sau đẻ 2-3
ngày.
KếT LUậN
Kiến thức của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ
dới 2 tuổi về các dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ
trong quá trình mang thai, chuyển dạ và sau khi sinh
cha tốt (tỷ lệ nam giới biết từ 3 dấu hiệu nguy hiểm trở
lên đối với phụ nữ theo thứ tự là 22,3%, 33,8% và
22,4%). Tuy nhiên, kết quả này đã đợc cải thiện rất
nhiều so với một số nghiên cứu trớc đó.
Phần lớn nam giới đều đa vợ mình đến cơ sở y tế
để sinh con (94,7%) và khi ngời phụ nữ gặp dấu hiệu
nguy hiểm khi mang thai (90,5%) và sau khi sinh
và sau sinh của các bà mẹ tại tỉnh Bình Định năm 2008-
2009. Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trờng Đại học Y
Hà Nội.
8. Trinh L, M. Dibley and J. Byles (2005). Factor
Related to Antenatal Care Utilization in Three Provinces of
Vietnam: Long An, Ben Tre and Quang Ngai. In3rd Asia
Pacific Conference on Sexual and Reproductive Health.
Kuala Lumpur, Malaysia.
9. UNFPA (2003). Báo cáo điều tra ban đầu Thực
trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
sinh sản 2003 tại 12 tỉnh. Hà Nội, tr. 36 - 42.
10. UNFPA (2006). Báo cáo điều tra ban đầu thực
trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS tại 7 tỉnh
tham gia Chơng trình Quốc gia 7 do UNFPA tài trợ. Hà
Nội.
NGHIÊN CứU BƯớC ĐầU TìNH TRạNG TIÊU XƯƠNG ổ RĂNG QUANH IMPLANT
SAU PHụC HìNH ở NGƯờI VIệT NAM CAO TUổI
Phạm Nh Hải, Vũ Anh Dũng
Tóm tắt
Cấy ghép răng đặc biệt là ở ngời cao tuổi cha
đợc đánh giá kỹ càng, cha có một nghiên cứu nào
đa ra đáp ứng của tổ chức quanh răng đặc biệt là
xơng ổ răng của ngời cao tuổi sau cấy ghép răng.
Việc đánh giá tình trạng sức khỏe của xơng, tổ chức
quanh răng của ngời cao tuổi sau khi đợc cấy
Implant nha khoa đặc biệt là đa ra đợc độ tuổi giới
hạn sẽ giúp các bác sĩ thực hành có hớng chỉ định
điều trị.