Thực trạng và giải pháp cơ bản phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Pdf 30

a.đặt vấn đề
Trớc hết cần khẳng định nớc ta lựa chọn phát triển kinh tế thị tr-
ờng(KTTT) là tất yếu, là sự lựa chọn đúng đắn, nó khồng chỉ tồn tạI khách
quan mà còn cần thiết cho công cuộc xây dựng xã hội chu nghĩa (XHCN).
Nhng không nh các nớc t bản chủ nghĩa(TBCN), với nớc ta việc phát
triển KTTT có những đặc trng riêng biệt:vừa đòi hỏi phát triển kinh tế, vừa
phải giữ vững định hớng XHCN.
KTTT tuy có nhiều u điểm, nhng không phải tuyệt đối, nó còn có
những khuyết tật mà nếu ta cứ để cho nó tự do phát triển thì đến một lúc nào
đó nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng rất nguy hiểm và có thể phải trả giá đắt.
Vì vậy, Đảng ta đã xác định phát triển KTTT là đúng đắn, nhng phải có
sự điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình đất nớc cũng nh định hớng của n-
ớc ta.
Với vốn hiểu biết còn hạn chế, em mong rằng thông qua đề tài này tìm
hiểu thêm về nền kinh tế nớc ta cũng nh đờng lối chính sách của Đảng qua
một số nội dung sau:
Phát triển KTTT định hớng XHCN là tất yếu khách quan.
Những đặc trng cơ bản của KTTT định hớng XHCN ở nớc ta.
Thực trạng và những giải pháp cơ bản để phát triển KTTT định hớng
XHCN ở Việt Nam.
1
B . giải quyết vấn đề.
I- Lý luận về KTTT định hớng XHCN.
1. Khái niệm về KTTT.
a. Quan niệm về KTTT.
Kinh tế thị trờng nói chung là những hình thức phát triển cao của kinh
tế hàng hoá, một hình thức mà ở đó hầu hết các quan hệ kinh tế trên diễn ra
trên thị trờng, chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế vốn có của nó.
KTTT là kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng, diễn ra trong
môi trờng cạnh tranh và lấy lợi nhuận làm động lực thúc đẩy.
b. KTTT định hớng XHCN là gì?

Do đó, để thực hiện đợc mục tiêu tốt đẹp là tiến đến một xã hội mới
tốt đẹp hơn, trớc hết chúng ta phải phát triển kinh tế mà phơng thức để thực
hiện điều đó không nằm ngoài việc phát triển KTTT định hớng XHCN .
Đại hội lần thứ VI của Đảng đợc đánh dấu nh một cái mốc quan
trọng trong việc chuyển đổi cơ chế. Trên cơ sở phê phán một cách nghiêm
khắc cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp mà nguồn gốc từ kinh tế hiện vật và
những hậu quả của nó, nhất quán chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, cũng từ đó tạo ra những tiền đề cần thiết để chuyển sang kttt.
Thực tiễn những năm đổi mới đã chỉ ra rằng việc chuyển sang mô
hình kinh tế hàng hoá là hoàn toàn đúng đắn.
2. KTTT không những tồn tại khách quan mà còn cần thiết cho
công cuộc xây dựng CNXH.
Thực tế vẫn phải tồn tại KTTT vì nó còn cơ sở khách quan cho sự
tồn tại, đó là:
Sự phân công lao động xã hội không mất đi, sự chuyên môn hoá
ngày càng sâu, sự phân công lao động trông nớc còn gắn liền với sự hợp tác
phân công quốc tế. Các quan hệ kinh tế và những sự trao đổi hoạt động lao
động trong xã hội phải dựa trên thớc đo giá trị và chỉ đợc thực hiện tốt nhất
bằng quan hệ hàng hoá- tiền tệ.
3
Vẫn còn sự tách biệt về kinh tế: còn có nhiều quan hệ sở hữu khác
nhau về t liệu sản xuất, dẫn đến tồn tại nhiều chủ thể kinh tế cùng tồn tại trong
một hệ thống phân công lao động xã hội, nhng vẫn có sự độc lập, tách biệt với
nhau vì vậy chúng vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau và nó chỉ có thể thực
hiện bằng trao đổi hàng hoá- tiền tệ theo cơ chế thị trờng.
Giữa các doanh nghiệp vẫn còn sự tách biệt về kinh tế, quyền tự chủ
trong, sản xuất, kinh doanh và do đó cũng khác nhau về lợi ích kinh tế. Do đó
các mối liên hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nớc cũng đợc thực hiện
thông qua quan hệ hàng hóa- tiền tệ.
Sản xuất hàng hoá, quan hệ hàng hoá tiền tệ là tất yếu trong quan hệ

thời kỳ quá độ ở nớc ta, là sự kết hợp giữa cái chung và cái đặc thù.
Vì các nớc khác nhau thì có trình độ kinh tế, kết cấu xã hội, phong tục
tập quán khác nhau, nên việc áp dụng mô hình KTTT cũng có sự khác nhau,
ngoài những đặc điểm chung, cái phổ biến, còn có những đặc điểm riêng biệt.
Nớc ta cũng không nằm ngoài quy luật đó.
a. Cái chung, phổ biến của mô hình KTTT định hớng XHCN.
Nói đến KTTT là nói đến một nền kinh tế chịu sự tác động của các quy
luật kinh tế khách quan nh: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh.
Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trờng .
Có nhiều hình thức sở hữu khác nhau dẫn đến nền kinh tế tồn tại nhiều
thành phần. Trong đó kinh tế t nhân có vai trò quan trọng trong việc làm
phong phú thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng, sự can thiệp của nhà nớc là một điều kiện
rất quan trọng, quyết định một phần đến sự thành công hay thất bại, ổn định
hay rối loạn của nền kinh tế. Vì sự can thiệp của nhà nớc vào kinh tế thông
qua hệ thống luật lệ và chính sách nhằm hạn chế những khuyết tật của thị tr-
ờng, tạo lập các cân đối vĩ mô, ngăn ngừa những đột biến xấu.
Sự hình thành giá cả chủ yếu là do thị trờng và sự cạnh tranh là điều đ-
ơng nhiên.
5
Nói đến KTTT là nói đến tính tự chủ của các chủ thể kinh tế, mỗi đơn
vị kinh tế là một chủ thể tự do, tự chủ kinh doanh theo pháp luật.
Thị trờng quốc gia là một thể thống nhất và từng bớc hội nhập vào thị
trờng khu vực và quốc tế.
Thị trờng tổng thể là tổng hợp của nhiều loại thị trờng: thị trờng hàng
hoá, thị trờng vốn, thị trờng lao động
Lấy tiêu chuẩn tăng trởng và phát triển kinh tế làm thớc đo đánh giá.
b. Nền KTTT định hớng XHCN ở nớc ta ngoài những cái chung của
một nền KTTT còn có những đặc trng riêng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status