Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc sống ngày càng phát triển, khi vật chất đã được đáp ứng đầy đủ thì ngoài
vấn đề kinh tế, con người lại quan tâm hơn đến các vấn đề về xã hội, về công tác y tế,
chữa bệnh và đảm bảo sức khỏe bởi sức khỏe là cái vốn quý nhất của con người.
Thực tế trong những năm trở lại đây cho thấy công tác này ngày càng được quan tâm
đúng mức bởi các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước. Công tác y tế và
chăm sóc sức khỏe cho người dân cũng đã được đầy đủ và không ngừng được nâng
cao hơn.
Là một công ty nhà nước trực thuộc Bộ Y tế, Công ty dược phẩm trung ương
1 cũng đã và đang làm tốt những nhiệm vụ mà nhà nước giao cho để ngày càng
tạo ra những điểu kiện tốt nhất cho việc đảm bảo sức khỏe của nhân dân. Theo xu
thế phát triển chung của đất nước, công ty cũng có những bước đổi mới không
ngừng cả về chất và lượng. Những thành tựu đó đã góp phần tích cực cho quá
trình phát triển, công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước.
Cùng với đà hội nhập ngày càng sâu rộng, thị trường dược phẩm Việt Nam
cũng đang là một mảnh đất đầy tiềm năng cho nhiều nhà đầu tư. Chính vì vậy mà
trong thời gian gần đây, có thêm rất nhiều doanh nghiệp dược phẩm cả trong và ngoài
nước gia nhập thị trường. Đứng trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt
ấy, công ty dược phẩm trung ương 1 đã có được những nhận thức về tầm quan trọng
của việc đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh cho công ty. Hoạt động đầu tư này
cũng đã được công ty thực hiện hàng năm để khẳng định hơn nữa vị thế của mình
trên thị trường. Tuy nhiên có những kết quả đáng mừng và cũng còn những hạn chế
cần khắc phục. Chính vì vậy em xin chọn đề tài “Hoạt động đầu tư nâng cao khả
năng cạnh tranh của công ty dược phẩm trung ương 1. Thực trạng và giải pháp”
làm đề tài của chuyên đề thực tập.
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1. THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY DƯỢC PHẨM TRUNG
nước.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty
Mô hình tổ chức công ty là mô hình trực tuyến, với gần 300 nhân viên, trong
đó, cán bộ công nhân viên chức là đại học chiếm 40%, trung học là 20%, còn lại là
dược tá và công nhân khác. Giám đốc công ty là người quản lý và chịu trách nhiệm
chung và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Sơ đồ tổ chức Công ty
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
Giám đốc
Mr. Nguyễn Doãn Liêm
Phó giám đốc phụ
trách chất lượng
Mr. Phạm Văn Quân
Phó giám đốc phụ trách tài
chính
Mrs. Trần Thụy Khanh
Phòng kho vận
Phòng bảo vệ
Phòng tổ chức – hành
chính
CN Bắc Giang
P.Marketing
CN TP Hồ Chí Minh
CN Quảng Ninh
P.Kinh doanh
CN Đà NẵngP. Xuất nhập khẩu
Phòng kế toán –
tài vụ
Các hiệu thuốc
3
tiện vận chuyển và giao nhận hàng hoá theo kế hoạch vận chuyển của phòng kế
hoạch nghiệp vụ, giúp cho việc giao nhận hàng đúng theo hợp đồng tạo uy tín cho đối
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tác tham gia kinh doanh. Ngoài ra hệ thống kho còn gồm kho hàng hoá là nơi bảo
quản và dự trữ hàng hoá, giúp cho chất lượng thuốc không bị ảnh hưởng bởi các tác
động bên ngoài gồm có kho vật tư hoá chất, kho cao đơn, kho thành phẩm, kho tinh
dầu hương liệu, kho hàng nằm ngoài, đây là một trong những phòng ban khá quan
trọng để đảm bảo chất lượng thuốc cho công ty nhất là những loại thuốc cần bảo
quản kĩ càng. Công ty có một hệ thông kho hoàn chỉnh và cũng đáp ưng tôt cho công
tác bảo quản và dự trữ, công ty cũng quy định điều kiện bảo quản chặt chẽ như kho
nhà lạnh nhiệt độ từ 2-8 độ, độ ẩm không quá 70% còn kho nguyên liệu nhiệt độ từ
8- 15 độ, độ ẩm không quá 70%....
Phòng quản lí chất lượng: theo dõi chất lượng hàng hoá, kiểm nghiệm hàng
hoá nhập vào kho để phân phối cho cấp II, đảm bảo không có sự nhầm lẫn tránh
những sự việc đáng tiếc do sai lầm, ngoài ra còn theo dõi tình hình thực các quy định
của nghành y tế công tác bảo hộ, kỹ thuật an toàn lao động.
Phòng Marketing: có nhiệm vụ tham mưu cho Ban lãnh đạo trong việc phát
triển mở rộng thị trường, thị phần; nghiên cứu chiến lược thị trường, nghiên cứu và
phát triển sản phẩm, dịch vụ mới…giữ gìn và gia tăng thương hiệu của công ty, và
một số nhiệm vụ khác.
Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ chủ động trong việc lập kế hoạch và triển khai
hoạt động nhập khẩu của công ty. Lập chương trình, kế hoạch và giải quyết những
tồn tại, vướng mắc của các hợp đồng nhập khẩu, bảo hành, bảo hiểm, chịu trách
nhiệm các cam kết của hợp đồng đã kí. Phụ trách công tác đấu thầu cung cấp hàng
hóa.
Công ty còn có một hệ thống các cửa hàng với nhiệm vụ trưng bày, giới thiệu
và bán các sản phẩm.
1.1.4. Các sản phẩm và nhiệm vụ của Công ty
Không chỉ là một doanh nghiệp kinh doanh đơn thuần, Công ty phải làm một
nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là kinh doanh, phân phối hàng hoá đặc biệt, phục vụ
theo sự chỉ đạo của Bộ Y tế đó là thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc, hướng
về chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, tiến tới thực hiện vai trò chỉ đạo, chi phối và điều
tiết thị trường.
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một số nhiệm vụ công ích mà Công ty được Bộ Y tế giao cho là:
Đảm bảo dự trữ thuốc quốc gia ở phía Bắc, đảm bảo thường xuyên các cơ
số thuốc phòng và chống thảm hoạ do thiên tai, dịch bệnh và các chương trình y tế
quốc gia như: phòng chống lao, bệnh phong, tâm thần, HIV, kế hoạch hoá gia đình...
Thực hiện nhiệm vụ dự trữ, lưu thông của Bộ Y tế giao cho nhằm góp
phần bình ổn giá thuốc trên thị trường.
Cung cấp thuốc thiết yếu theo định hướng của Bộ Y tế.
Thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về công bằng trong chăm
sóc sức khoẻ nhân dân, Công ty thực hiện cung cấp thuốc cho các tỉnh miền núi phía,
mặc dù hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc tỷ lệ nghèo còn rất cao, trình độ dân trí
thấp, điều kiện giao thông đi lại hết sức khó khăn, thường bị nợ đọng rất lâu, chi phí
vận chuyển rất lớn, trong khi chủ trương của công ty là giá cả không tăng so với mặt
bằng chung. Công ty đã thực hiện quan điểm phục vụ là chính, đã có những giải pháp
như: lấy một phần kinh phí kinh doanh của những khu vực khác để bù lỗ cho các
tỉnh miền núi. Trong những năm qua, Công ty đã cung cấp được trên 50% trị giá
thuốc thiết yếu cho các tỉnh miền núi phía Bắc, giá cả hợp lí theo quy định của Nhà
nước với tinh thần và thái độ phục vụ tốt. Đây là một đóng góp lớn cho chủ trương
xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội của Đảng ta.
1.1.5. Giới thiệu về mạng lưới phân phối và khách hàng của Công ty
Mạng lưới phân phối
Công ty dược phẩm trung ương 1 hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
thương mại. Công ty cũng như bất kì một doanh nghiệp nào khác cũng luôn hướng
Khách hàng chủ yếu của Công ty như:
Các bệnh viện công lập
Các bệnh viện tư nhân
Các nhà máy sản xuất dược phẩm
Các công ty dược
Các phòng khám và nhà thuốc…
Một số thị trường – khách hàng của Chi nhánh:
Các tỉnh từ Bình Định trở vào, Tây Nguyên, miền Đông, miền Tây Nam
Bộ
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các bệnh viện Trung ương, địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trên 150 công ty dược phẩm phía Nam
Hàng chục hãng dược phẩm của Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á…
Bạn hàng của công ty là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc
trong nước và các hãng dược phẩm nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam. Hiện
nay Công ty có khoảng 3000 khách hàng với trên 600 khách hàng thường xuyên.
Công ty có quan hệ kinh doanh với trên 60 nhà sản xuất kinh doanh nước
ngoài được Bộ Y tế cấp phép. Đặc biệt thị trường khối các đơn vị điều trị chiếm 30%
doanh số bán, là các bệnh viện Trung ương, bệnh viện đa khoa các tỉnh, bệnh viện
huyện, các bệnh viện và phòng khám tư nhân. Đây cũng là những thị trường quan
trọng và cần được quan tâm chú ý đầu tư.
Như vậy, các khách hàng và đối tác của Công ty dược phẩm trung ương 1 là
rất đa dạng và cũng chiếm một khối lượng khá lớn. Qua đó cũng thấy rằng năng lực
phân phối và uy tín của công ty ngày càng được nâng cao hơn, tăng thêm sức cạnh
tranh của công ty trên thị trường.
1.1.6. Tình hình hoạt động của Công ty trong thời gian qua
Cùng với sự nỗ lực không ngừng của ban lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ
công nhân viên, hoạt động của Công ty trong những năm gần đây luôn có những
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không được tuỳ tiện mà phải theo một yêu cầu, hướng dẫn nhất định nào đó của thầy
thuốc và cũng không thể sử dụng dược phẩm giống nhau cho tất cả mọi người.
Kinh doanh dược phẩm là ngành nghề liên quan đến các hoạt động như sản
xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ bảo quản và dịch vụ kiểm
nghiệm thuốc.
Theo điều 11 - Luật Dược số 34/2005/QH11 do Quốc hội ban hành thì: “kinh
doanh thuốc là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Cơ quan, tổ chức cá nhân kinh
doanh thuốc phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc”.
Khi tiến hành kinh doanh dược phẩm thì các cơ quan, tổ chức cũng cần phải
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về cơ sở vật chất kĩ thuật, đội ngũ nhân sự, đặc biệt là
đội ngũ quản lí chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp. Bởi đây cũng là
mối quan tâm từ cả phía người tiêu dùng lẫn nhà cung ứng. Thuốc chữa bệnh dùng
cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chuẩn đoán bênh hoặc điều chỉnh
chức năng sinh lí cơ thể, nên ngành kinh doanh thuốc là một ngành kinh doanh có
điều kiện, cơ sở kinh doanh thuốc phải tuân thủ các quy định của Luật Dược, các quy
chế của ngành, đặc biệt quy chế quản lí chất lượng thuốc.
Kinh doanh dược là ngành nghề chịu sự giám sát chặt chẽ của Bộ Y tế nói
riêng và các cơ quan quản lí nhà nước nói chung. Do đó, nếu như giá thuốc là một
vấn đề ít được kiểm soát trong luật dược của một số nước khác thì với Việt Nam, đây
lại là một vấn đề được quan tâm chú ý. Đây cũng là điểm tích cực trong việc kiểm
soát giá thuốc để đảm bảo lợi ích của cả nhà cung ứng cũng như của người sử dụng.
Theo đó mà Bộ Y tế sẽ chủ trì và phối hợp với các Bộ khác trong việc thực hiện quản
lí giá thuốc trên thị trường.
Cùng với sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
thị trường có sự điều tiết của nhà nước, và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới
thì sự cạnh tranh cũng diễn ra ngày một gay gắt hơn. Các doanh nghiệp không những
đứng trước sức ép cạnh tranh từ trong nước mà bên cạnh đó còn có cả sức ép cạnh
cũng sẽ làm hạn chế sự cạnh tranh trên thị trường và ngược lại nếu như có thêm
nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng tham gia thì sự cạnh tranh sẽ gay gắt
hơn. Tuy nhiên với phương châm đối thoại – hợp tác, các công ty trong cùng lĩnh vực
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
luôn giữ vững quan hệ kinh doanh, sự tăng trưởng trong doanh số mua bán của mình
với các đối tác của mình.
1.2.2. Các đối thủ cạnh tranh của Công ty trên thị trường dược phẩm
Thực tế những năm qua cho thấy, vừa do xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng,
vừa do cơ chế thông thoáng của nhà nước, do đó ngày càng có nhiều các công ty
dược ở trong và ngoài nước xuất hiện trên thị trường tân dược Việt Nam. Do đó, lĩnh
vực kinh doanh dược phẩm đang đứng trước sức ép cạnh tranh ghê gớm. Tính đến
năm 2007, trên thị trường dược phẩm Việt Nam có khoảng 800 doanh nghiệp có đăng
kí chức năng kinh doanh, trong đó có khoảng 370 doanh nghiệp nước ngoài.
Là một công ty lớn cấp trung ương, do số lượng chủng loại hàng hoá đa dạng
(cả nguyên liệu lẫn thành phẩm, cả sản phẩm trong nước và nhập ngoại...) nên công
ty càng có nhiều đối thủ cạnh tranh. Các đối thủ cạnh tranh với Công ty dược phẩm
trung ương 1 bao gồm cả các công ty dược trong nước và nước ngoài. Đó là các Công
ty dược phân phối các loại thuốc giống hoặc phân phối thuốc qua Công ty dược phẩm
trung ương 1.
Bạn hàng của Công ty là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc trong
nước và các hãng dược phẩm nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam, đây cũng có thể
là những đối thủ cạnh tranh của công ty trong hiện tại và cả tương lai gần. Để nhập
khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm, thành phẩm tân dược, công ty có quan hệ với trên
60 nhà sản xuất kinh doanh nước ngoài được Bộ Y tế Việt Nam cấp phép đến từ các
quốc gia như: Mỹ, Đức, Pháp, Hungary, Áo, Czech, Balan, Nhật Bản, Trung
Quốc...Những tên tuổi lớn có quan hệ trong ngành dược phẩm quốc tế đáng chú ý
như: Johnson & Johnson (Mỹ), Rotex Medica (Đức), Servier (Pháp)...
Một số Công ty dược là đối thủ cạnh tranh của công ty dược phẩm trung ương
lực cạnh tranh là một vấn đề đáng được quan tâm.
Tình hình cạnh tranh trên thị trường dược phẩm Việt Nam sở dĩ gay gắt là do
cung về dược phẩm tăng mạnh trong khi cầu về dược phẩm lại tăng không đáng kể so
với cung.
Trong những năm qua, lĩnh vực dược phẩm của Việt Nam vẫn phát triển khá
mạnh. Số các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài đầu tư và xuất khẩu thuốc vào
Việt Nam tăng mạnh về cả số lượng cũng như quy mô. Đến đầu năm 2009, có 438
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp dược nước ngoài được đăng kí hoạt động tại Việt Nam. Một số quốc
gia như: Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, Đức hiện đang có rất nhiều công ty
dược phẩm trên thị trường Việt Nam. Hơn thế nữa, khi mà đời sống của người dân
ngày càng được đảm bảo thì nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của họ ngày càng cao. Do
đó, đa phần những người tiêu dùng sẽ không ngần ngại khi bỏ ra một khoản tiền đáng
kể để có thể mua những loại thuốc tốt nhất bởi sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con
người. Có thể thấy rõ điều này khi năm 2008, tiền sử dụng thuốc bình quân đầu
người đạt 16,45 USD tăng 3,06 USD so với năm 2007.
Tuy thị trường dược phẩm Việt Nam phát triển mạnh như vậy nhưng sự phụ
thuộc của thị trường này vào yếu tố nước ngoài vẫn còn khá lớn. Như đã nói ở trên
thì ngày càng có nhiều các công ty dược phẩm của nước ngoài, đặc biệt là một số
nước có uy tín về lĩnh vực dược phẩm đã có mặt trên thị trường dược phẩm Việt
Nam. Năm 2008, đã có tới 2.300 loại thuốc nước ngoài được cấp số đăng kí lưu hành
tại Việt Nam. Số thuốc ngoại nhập vào nước ta hiện nay cũng chiếm tới 60% lượng
thuốc cung ứng trên thị trường, nguyên liệu để sản xuất thuốc thì có tới 90% là nhập
khẩu từ nước ngoài. Thêm vào đó là một số loại thuốc đặc trị, chuyên khoa sâu thì
Việt Nam lại chưa thể sản xuất được. Cùng với sự gia tăng về số lượng các công ty
dược phẩm nước ngoài thì tâm lí chuộng hàng ngoại của người dân Việt Nam mà đặc
biệt là đối với mặt hàng có liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của họ đã
làm cho các doanh nghiệp dược phẩm trong nước đang phải đối mặt với nguy cơ và
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nâng cao khả
năng cạnh tranh của Công ty.
1.2.4.1. Khả năng tài chính của Công ty
Như chúng ta đã biết, để tiến hành bất cứ một hoạt động đầu tư nào thì nguồn
vốn bao giờ cũng là vấn đề được quan tâm trước tiên. Năng lực tài chính của một
công ty sẽ quyết định mức độ và chất lượng của các công cuộc đầu tư mà công ty đó
tiến hành. Và vấn đề này cũng không phải là ngoại lệ đối với công ty dược phẩm
trung ương 1.
Nếu như hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh
nói riêng của công ty được quan tâm một cách đúng mức, kịp thời và được đảm bảo
cả về chất lượng và số lượng vốn thì sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Ngược lại, nếu như
yếu tố quan trọng này không được đảm bảo thì có thể sẽ dẫn đến hoạt động đầu tư
không hiệu quả và lãng phí nguồn lực đầu tư.
Công ty dược phẩm trung ương 1 là Công ty nhà nước, do đó hàng năm Công
ty vẫn có được sự hỗ trợ một phần nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. Đây sẽ là
nguồn kinh phí mà Công ty sử dụng cho hoạt động đầu tư của mình trong đó có hoạt
động đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngoài nguồn vốn được cấp từ ngân sách
nhà nước thì công ty còn có những nguồn vốn bổ sung để phục vụ cho hoạt động đầu
tư của mình như từ lợi nhuận chưa phân phối, nguồn từ các quỹ của công ty...
Từ đó, ta có thể thấy năng lực tài chính là một yếu tố cốt lõi hàng đầu và ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của
Công ty.
1.2.4.2. Máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng.
Để có thể tiến hành một hoạt động kinh doanh thì trước tiên Công ty nào cũng
cần phải có tiền đề về cơ sở hạ tầng cũng như trang thiết bị làm việc.. Trang thiết bị
làm việc của Công ty ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng làm việc của cán bộ công
nhân viên lao động. Cơ sở hạ tầng là diện mạo, là bộ mặt của một Công ty, nếu diện
đó có Công ty dược phẩm trung ương 1. Vai trò của họ cũng rất quan trọng trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty trên thị trường. Có thể kể đến một số
nhiệm vụ quan trọng của đội ngũ nhân lực như trong việc nghiên cứu, phát triển thị
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trường, phục vụ khách hàng, vai trò trong chiến lược quảng bá hình ảnh của công ty
đến rộng rãi khách hàng và các đối tác...
Thấy được vai trò to lớn của nguồn nhân lực trong hoạt động của mình, do đó
mà đầu tư cho nguồn nhân lực cũng là một nội dung quan trọng cần phải có trong
hoạt động đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty.
1.2.4.4. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Công ty là sự sắp xếp, bố trí các thành viên vào các vị trí
thích hợp, các phòng ban theo lĩnh vực, khả năng của mỗi người. Một cơ cấu tổ chức
tốt là một cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt và có sự ăn khớp trong mọi hoạt động
của mình. Một cơ cấu tổ chức tốt sẽ giúp cho hoạt động của Công ty có hiệu quả hơn
và chi phí cũng sẽ được tiết kiệm hơn. Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt có thể tận
dụng được tối đa khả năng của các thành viên trong tổ chức đó, tránh hiện tượng dư
thừa nguồn nhân lực không cần thiết. Một cơ cấu tổ chức tốt cũng chứng tỏ được khả
năng lãnh đạo của ban lãnh đạo Công ty, giúp cho các thành viên làm việc gắn bó và
hiểu nhau hơn, giúp ban lãnh đạo Công ty có thể nắm bắt sát sao và kịp thời mọi hoạt
động trong Công ty để từ đó đưa ra những quyết định hợp lí.
Như đã nói ở trên, cơ cấu tổ chức hợp lí sẽ giúp tiết kiệm chi phí, nguồn
kinh phí tiết kiệm được lại được sử dụng cho những mục đích khác, tăng thêm
hiệu quả đầu tư. Do đó có thể thấy rằng mục tiêu cần hướng tới của Công ty là sắp
xếp, tổ chức được một bộ máy hợp lí và hiệu quả. Đây chính là bộ máy làm việc
điều hành mọi hoạt động của Công ty. Có điều hành mọi công việc tốt thì mới có
thể duy trì chỗ đứng của Công ty trên thị trường và tăng thêm uy tín, tăng thêm
sức cạnh tranh của Công ty so với các đối thủ khác.
1.2.4.5. Giá thành và chất lượng sản phẩm
đa dạng hoá sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng trong chiến lược nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đối với những mặt hàng kinh doanh của Công ty dược phẩm trung ương 1
cũng cần phải có chiến lược đa dạng hoá sản phẩm phù hợp. Sản phẩm của công ty
cần được hoàn thiện để có thể theo kịp nhu cầu thị trường như về mẫu mã, bao
bì...Việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm không những giúp cho công ty đáp ứng tốt
nhu cầu thị trường mà còn giúp công ty có thể phân tán được rủi ro trong kinh doanh.
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bên cạnh đó, Công ty cũng cần có được chiến lược trọng tâm vào những sản phẩm
đem lại lợi thế cạnh tranh cho mình, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của khách hàng
mục tiêu và thị trường mục tiêu.
1.2.4.7. Đối thủ cạnh tranh
Trong thời buổi hội nhập sâu rộng như hiện nay thì sự cạnh tranh xảy ra là
điều không thể tránh khỏi. Đặc biệt khi ngày càng có nhiều những công ty, doanh
nghiệp nước ngoài ra nhập thị trường thì các doanh nghiệp trong nước lại đứng trước
một sức ép cạnh tranh ghê gớm hơn. Mỗi một doanh nghiệp lại có cho riêng mình
những chiến lược cạnh tranh phù hợp. Nếu không theo sát sự phát triển của thị trường
thì các doanh nghiệp sẽ rất dễ bị tụt lại phía sau thậm chí còn có thể bị đào thải.
Công ty dược phẩm trung ương 1 là một Công ty nhà nước, hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh dược phẩm, do đó cũng ít nhiều nhận được sự ưu ái từ phía nhà
nước. Nhưng với sự gia nhập của ngày càng nhiều những công ty dược trong và
ngoài nước như hiện nay thì công ty cần phải có được những chiến lược sắc bén để
khẳng định vị thế của mình trên thị trường. Không thể mang nặng sức ì của một Công
ty nhà nước mà thay vào đó phải là sự năng động trong cơ chế thị trường. Đối mặt
với những Công ty dược trong nước đang ngày một lớn mạnh, và những Công ty
dược nước ngoài cũng có rất nhiều uy tín và kinh nghiệm thì trong chiến lược cạnh
tranh của mình, Công ty dược phẩm trung ương 1 cần phải chú ý đến các đối thủ của
mình trước khi tiến hành một vấn đề gì đó. Bên cạnh đó, trong chiến lược cạnh tranh
thị trường của công ty. Hoạt động nghiên cứu thị trường có được tiến hành tốt thì
Công ty mới có khả năng đáp ứng được tốt những yêu cầu của khách hàng, theo sát
được với những biến động diễn ra thường xuyên trên thị trường.
Thứ hai, về các chính sách của nhà nước. Mỗi một công ty, doanh nghiệp
ra đời đều phải đáp ứng được các yêu cầu nhất định và hoạt động dưới sự quản lí của
các chính sách của nhà nước. Các chính sách quản lí của nhà nước đối với Công ty
dược phẩm trung ương 1 là các chính sách quản lí nhà nước về dược phẩm. Các
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính sách này cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong lĩnh vực dược phẩm, trong đó có Công ty dược phẩm trung ương
1. Có thể kể đến một số chính sách quản lí nhà nước về dược phẩm của Việt Nam
như: các điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ, điều kiện về sự gia nhập thị trường của
các công ty dược phẩm như điều kiện về vệ sinh vô trùng, điều kiện về trang thiết
bị...các quy định về cấp giấy phép quảng cáo dược phẩm...
Các chính sách quản lí của nhà nước về dược phẩm là những căn cứ, cơ sở
pháp lí cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động của mình theo khuôn khổ của
pháp luật. Chính vì vậy mà trước khi tiến hành một hoạt động nào đó, Công ty dược
phẩm trung ương 1 cũng cần phải quán triệt được những chính sách, quy định của
nhà nước đã đề ra, để tránh việc làm trái pháp luật cũng như được hưởng những ưu
đãi đầu tư từ phía nhà nước.
Thứ ba, thông tin về môi trường đầu tư. Hoạt động đầu tư của Công ty
nhất thiết phải gắn với tình hình thị trường, gắn với các nhân tố có ảnh hưởng đến
hiệu quả của hoạt động đầu tư như các chỉ tiêu về sự tăng trưởng, lãi suất, tình hình
lạm phát...Nếu hoạt động đầu tư xa rời với môi trường đầu tư thì sẽ đạt hiệu quả
không cao thậm chí dẫn đến thất bại. Như vây, hoạt động đầu tư nâng cao khả năng
cạnh tranh của Công ty dược phẩm trung ương 1 cũng nhất thiết phải gắn với môi
trường đầu tư.
1.2.4.9. Hoạt động tiêu thụ và phân phối hàng hoá.
Tốc độ tăng liên hoàn (%) - 11.89 16,74
Vốn vay 333.427 423.321 559.994
Tốc độ tăng liên hoàn (%) - 26.96 32,28
Vốn khác(quỹ khen thưởng,
phúc lợi)
4.597 6.366 11.488
Tốc độ tăng liên hoàn (%) - 38.48 80,46
Nguồn: Phòng kế toán Công ty dược phẩm trung ương 1
Cơ cấu vốn hoạt động của Công ty
Bảng 1.3: Cơ cấu vốn hoạt động
Đơn vị: phần trăm (%)
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nội dung 2006 2007 2008
Tổng vốn 100 100 100
Vốn chủ sở hữu 16,75 15,07 13,53
Vốn vay 83,24 84,92 86,46
Vốn khác 0,01 0,01 0,01
Nguồn: Phòng kế toán Công ty dược phẩm trung ương 1
Biểu 1.2. Cơ cấu vốn hoạt động của CTDPTW1
Có thể thấy rằng, nợ là nguồn vốn chủ yếu tài trợ cho các hoạt động của Công
ty dược phẩm trung ương 1. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn có xu
hướng giảm xuống qua các năm. Tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn của Công ty luôn
chiếm tỷ trọng khá cao, trên 80% và có xu hướng tăng dần qua các năm. Đặc biệt là
trong cơ cấu các khoản nợ thì nợ ngắn hạn luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn so với nợ
dài hạn, như trong năm 2007, nợ ngắn hạn của Công ty chiếm tới 99,8% trong tổng
số nợ. Nhưng trong những năm trở lại đây, Công ty cũng đang có xu hướng tăng tỷ lệ
nợ dài hạn và giảm tỷ lệ nợ ngắn hạn.
Nguyễn Thị Thanh Loan Kinh Tế Đầu Tư 47B