ĐỀ ÁN
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
vào thị trường EU thời kỳ hậu WTO
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT THÚC
ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ
TRƯỜNG EU THỜI KỲ HẬU WTO ...........................................................
I. Cơ sở lý luận về thương mại quốc tế và xuất khẩu: .............................
1. Lý luận chung về thương mại quốc tế và xuất khẩu: .............................
1.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối – Adam Smith (1723-1790): .................
1.1.1 Quan niệm lợi thế tuyệt đối: ......................................................
1.1.2 Ưu, nhược điểm và khả năng áp dụng: ......................................
1.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh – David Ricardo (1772-1823): ............
1.2.1 Quan niệm về lợi thế so sánh: ...................................................
1.2.2 Ưu, nhược điểm và khả năng áp dụng: ......................................
1.3 Lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố (Mô hình H-O): ...................
2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động xuất khẩu: .................................
2.1 Các hình thức xuất khẩu: .................................................................
2.1.1 Xuất khẩu trực tiếp: ...................................................................
2.1.2 Xuất khẩu uỷ thác: .....................................................................
2.1.3 Xuất khẩu tại chỗ: .....................................................................
2.1.4 Buôn bán đối lưu: ......................................................................
2.1.5 Tạm nhập tái xuất: .....................................................................
2.1.6 Gia công quốc tế: .......................................................................
2.2 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu: ...............................................
2.2.1 Nhân tố sản xuất: .......................................................................
2.2.2 Nhân tố thị trường: ....................................................................
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
1
II. Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội: .......
1. Phát huy lợi thế so sánh của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: ....
5.2 Chính sách ngoại thương: ................................................................
5.2.1 Một số quy định hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu: . .
5.2.2 Tiêu chuẩn quản lý chất lượng: .................................................
III. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU
giai đoạn 2001 - 2007: ..................................................................................
1. Kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu hàng dệt may Việt Nam trên thị trường
EU giai đoạn từ năm 2001 đến thời điểm Việt Nam gia nhập WTO (tháng
11/2006): ....................................................................................................
1.1 Tổng hợp tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường
EU trước khi Việt Nam gia nhập WTO: ..................................................
1.2 Những khó khăn ngành dệt may gặp phải trong giai đoạn này và
nguyên nhân: ..........................................................................................
1.3 Phương thức thâm nhập vào thị trường EU: ....................................
1.4 Cơ cấu các thị trường chính nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam ....
1.5 Cơ cấu các mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang EU: .........
2. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang
thị trường EU sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO: . . Error:
Reference source not found
2.1 Những kết quả đạt được và tồn tại của ngành dệt may trong năm
2007: .......................................................................................................
2.2 Những kết quả đạt được và hạn chế trong những tháng đầu năm
2008: .......................................................................................................
3. Những ảnh hưởng bất lợi chung đến hoạt động xuất khẩu dệt may Việt
Nam vào thị trường EU: ...........................................................................
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
3
3.1 Rào cản thuế và tiêu chuẩn kỹ thuật: ...............................................
3.1.1 Chính sách thuế quan: ...............................................................
3.1.2 Tiêu chuẩn kỹ thuật: ..................................................................
3.2 Cạnh tranh từ phía Trung Quốc: ......................................................
mại quốc tế: ............................................................................................
1.2 Chính sách, cơ chế của Chính Phủ: .....................................................
1.2.1 Chính sách tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất: ...........................
1.2.2 Quy hoạch và đầu tư xây dựng các khu công nghiệp dệt may: .....
1.2.3 Hỗ trợ các doanh nghiệp nhanh chóng đăng ký tiêu chuẩn quản lý
chất lượng quốc tế: .................................................................................
2. Giải pháp từ phía Hiệp hội dệt may: ......................................................
3. Giải pháp từ phía các doanh nghiệp dệt may: ........................................
3.1 Hạ giá thành sản phẩm: ....................................................................
3.2 Không ngừng mở rộng thị trường, tạo dựng thương hiệu cũng như
uy tín của sản phẩm đối với khách hàng: ...............................................
3.3 Nâng cao tay nghề cho công nhân, trình độ và khả năng sáng tạo
của đội ngũ thiết kế: ...............................................................................
3.4 Đẩy mạnh đầu tư và thay thế máy móc, thiết bị sản xuất lạc hậu ....
4. Một số vấn đề doanh nghiệp cần quan tâm để thành công trong việc
xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU: ............................................
4.1 Xác định thị trường mục tiêu: ..........................................................
4.2 Khả năng thiết kế, quản lý chất lượng và trách nhiệm xã hội: .........
4.3 Chuyên môn hoá dây chuyền sản xuất và nâng cao khả năng quản
lý: ...........................................................................................................
KẾT LUẬN ......................................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
5
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
THỜI KỲ HẬU WTO
***
I. lý luận về thương mại quốc tế và hoạt động xuất khẩu:
nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước, nhưng
không di chuyển được giữa các quốc gia; cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất
cả các thị trường. Số lượng sản phẩm có thể sản xuất ra với một đơn vị nguồn
lực (lao động) ở mỗi quốc gia như sau:
Bảng 1: Mô hình giản đơn về lợi thế tuyệt đối
Quần áo (1 đơn vị) Thép (1 đơn vị)
Việt Nam 10 6
Nga 5 10
Qua bảng trên có thể thấy Việt Nam có lợi thế trong việc sản xuất quần
áo vì với cùng một đơn vị nguồn lực, Việt Nam sản xuất ra nhiều quần áo hơn
(10 đơn vị) trong khi Nga chỉ làm ra 5 đơn vị. Ngược lại, Nga có lợi thế trong
sản xuất thép.
Theo A.Smith, thương mại còn có thể làm tăng khối lượng sản xuất và
tiêu dùng của toàn Thế giới do mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuất
mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối. Giả sử Việt Nam sẽ chuyển một đơn vị
lao động từ ngành sản xuất thép sang ngành sản xuất quần áo, ngược lại, Nga
chuyển một đơn vị lao động từ ngành sản xuất quần áo sang ngành sản xuất
thép. Những thay đổi về sản lượng của mỗi quốc gia như sau:
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
7
Bảng 2: Mô hình giản đơn về lợi thế tuyệt đối thay đổi do
chuyên môn hóa
Quần áo (1 đơn vị) Thép (1 đơn vị)
Nga -5 +10
Việt Nam +10 -6
Tổng số +5 +4
Như vậy Việt Nam và Nga chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm
mà mình có lợi thế sẽ làm tăng sản lượng của cả 2 loại hàng hóa. Ở ví dụ này,
sản lượng trên Thế giới sẽ tăng 5 đơn vị quần áo và 4 đơn vị thép, trên toàn
Thế giới sẽ có lợi ích do chuyên môn hóa. Càng có nhiều sự chuyển đổi
1.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh – David Ricardo (1772-1823):
David Ricardo sinh ra trong một gia đình giàu có làm nghề chứng
khoán, sau khi nghiên cứu khoa học tự nhiên (toán học, vật lý học, địa chất
học …) ông chuyển sang nghiên cứu kinh tế chính trị từ năm 1807. Năm 1817
ông viết cuốn “Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa” không
chỉ để phát triển học thuyết của A.Smith mà còn chỉ ra những mâu thuẫn của
nó. Về phương pháp luận, K.Marx đã nhận xét “nếu A.Smith còn dao động
giữa phương pháp khoa học và tầm thường thì D.Ricardo đã nhất quán kết cấu
toàn bộ khoa học kinh tế chính trị bằng một nguyên lý thống nhất: thời gian
lao động quyết định giá trị, tức là lấy giá trị lao động làm cơ sở cho toàn bộ
học thuyết kinh tế của ông”. Đặc trưng trong phương pháp luận của ông là
muốn trình bày sự vận động bên trong của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
và đã sử dụng rộng rãi, thành thục phương pháp trừu tượng hóa để nắm bản
chất các hiện tượng kinh tế, để nắm quy luật chi phối các hiện tượng đó. Ông
đã đứng trên lập trường duy vật (chủ nghĩa duy vật máy móc) để đi tìm quy
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
9
luật kinh tế. Tư tưởng về quy luật khách quan trong sự phát triển kinh tế đã
quán triệt trong toàn bộ học thuyết của ông.
1.2.1 Quan niệm về lợi thế so sánh:
Khi mỗi nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng
hóa thì lợi ích của ngoại thương là rõ ràng. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu một
nước có thể sản xuất có hiệu quả hơn nước kia trong hầu hết các mặt hàng?
Hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả thì ngoại thương sẽ diễn
ra như thế nào với những nước này? Đó là những câu hỏi D.Ricardo đưa ra và
chính ông đã trả lời chúng trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những nguyên
lý của kinh tế chính trị và thuế khóa” (1817). Trong tác phẩm này, ông đã đưa
ra một lý thuyết tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong
thương mại quốc tế, đó là lý thuyết về lợi thế so sánh. Nếu như khái niệm lợi
thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt
Nga -9 +10
Tổng: +1 +2
Như vậy, xét chung cả 2 quốc gia thì lượng quần áo tăng 1 đơn vị và
lượng thép tăng 2 đơn vị. Điều này chứng tỏ chuyên môn hóa và thương mại
quốc tế đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia.
1.2.2 Ưu, nhược điểm và khả năng áp dụng:
Mô hình thương mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh của D.Ricardo là
một công cụ hữu ích để giải thích nguyên nhân của thương mại quốc tế và nó
đem lại lợi ích cho cả 2 quốc gia như thế nào. Đây cũng là ưu điểm so với mô
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
11
hình lợi thế tuyệt đối của A.Smith. Tuy nhiên, bên cạnh đó mô hình của
D.Ricardo vẫn còn chứa đựng hạn chế nhất định như: đã dự đoán một mức độ
chuyên môn hóa hoàn toàn, tức là mỗi nước sẽ tập trung vào một mặt hàng
mà mình có lợi thế. Nhưng trên thực tế mỗi nước sản xuất không chỉ một mà
là nhiều mặt hàng trong đó có cả những mặt hàng cạnh tranh với hàng nhập
khẩu.
1.3 Lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố (Mô hình H-O):
Vào đầu thế kỷ 20, hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli
Heckscher (1879 – 1952) và Bertil Ohlin (1899 – 1979) đã nhận thấy rằng
mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và mức độ sử
dụng các yếu tố sản xuất để làm ra các mặt hàng khác nhau mới là những
nhân tố quan trọng quyết định thương mại. Chính vì vậy họ đã xây dựng lý
thuyết Heckscher – Ohlin (viết tắt là lý thuyết H-O) hay lý thuyết Tân cổ điển
về thương mại quốc tế. Nội dung tóm tắt của lý thuyết H-O như sau: Một
quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều
một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó. Các giả thiết của
mô hình:
- Thế giới chỉ gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất và 2 mặt hàng
- Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa 2 quốc gia.
Tổng số lao động của
Anh
200
Như vậy theo lý thuyết H-O thì A sẽ sản xuất và xuất khẩu vải, là mặt
hàng cần nhiều lao động và B sẽ sản xuất và xuất khẩu thép, là mặt hàng cần
nhiều vốn. Có thể thấy trên thực tế những nước giàu tài nguyên thiên nhiên sẽ
xuất khẩu chúng trên thị trường Thế giới, ví dụ như: Arập Xê út xuất khẩu
dầu lửa, Zambia xuất khẩu đồng, Jamaica xuất khẩu quặng bô xít…
2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động xuất khẩu:
Xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước ra nước
ngoài nhằm thu ngoại tệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần
tăng tích luỹ cho Ngân sách Nhà nước và là cơ sở để nhập khẩu máy móc,
thiết bị đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động phức tạp và là nơi diễn ra các
quan hệ giao dịch, buôn bán giữa những người có quốc tịch khác nhau trên
một thị trường rộng lớn. Hàng hóa được vận chuyển ra khỏi biên giới quốc
gia trong đó đồng tiền thanh toán là ngoại tệ được quy định giữa người xuất
khẩu và người nhập khẩu. Đồng thời các hoạt động giao dịch này phải tuân
theo những tập quán, thông lệ của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ cũng như luật
lệ quốc tế.
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
13
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện với nhiều nghiệp vụ phức tạp từ
việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn mặt hàng xuất khẩu, giao dịch và đàm
phán, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng cho đến khi hàng hóa chuyển giao
quyền sở hữu cho người mua và hoàn thành các thủ tục thanh toán. Mỗi một
nghiệp vụ đều phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trên cơ sở tận dụng
các lợi thế so sánh, tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi nhằm đảm
bảo cho hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao nhất cả về mặt kinh tế và xã hội
của mỗi quốc gia.
xuất khẩu cũng như rủi ro thấp hơn.
2.1.4 Buôn bán đối lưu:
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch buôn bán mà trong đó xuất
khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua và
lượng hàng hóa trao đổi luôn tương đương với nhau về giá trị. Mục đích xuất
khẩu ở đây không phải là thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một
lượng hàng hóa cần thiết có giá trị xấp xỉ lô hàng xuất khẩu. Hình thức này
chủ yếu xuất hiện ở các nước có nhu cầu nhập khẩu cao trong thời kỳ đầu
công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế. Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu
lượng lớn về máy móc thiết bị của một số nước công nghiệp phát triển nên đã
khắc phục bằng cách thông qua việc các nước này nhập khẩu một số mặt hàng
do khó khăn về thị trường tiêu thụ như: gạo, cà phê, cao su ...
2.1.5 Tạm nhập tái xuất:
Đây là hình thức mà hàng hóa xuất khẩu đi qua một số nước trung gian
rồi mới đến nước nhập khẩu và trong đó nước tái xuất sẽ thu được một khoản
chênh lệch giữa khoản tiền bỏ ra để nhập khẩu và khoản tiền thu được khi
xuất khẩu. Ngoài ra nước này cũng có thể hưởng lợi nhuận do sử dụng đồng
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
15
tiền chiếm dụng vì đã thu của nước nhập khẩu nhưng chưa thanh toán cho
nước xuất khẩu.
2.1.6 Gia công quốc tế:
Gia công quốc tế là hình thức trong đó bên nhận gia công sẽ nhập khẩu
nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để sản xuất ra thành
phẩm rồi giao lại cho bên đặt gia công và hưởng phí gia công. Ở Việt Nam
hình thức này chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực gia công dệt may, giày dép. Bên
cạnh đó, hình thức này tạo điều kiện cho người lao động có công ăn việc làm,
thu nhập và tiếp cận với công nghệ mới. Mặt khác, Việt Nam không phải bỏ
nhiều vốn và không lo thiếu thị trường tiêu thụ. Có thể nói, đây là hình thức
xuất khẩu cần được các doanh nghiệp Việt Nam chú ý hơn nữa bởi lợi ích mà
nắm được quy luật của thị trường, doanh nghiệp sẽ biết được khả năng nhu
cầu tiêu thụ của thị trường, thái độ cũng như thị hiếu của người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, điều quan trọng hơn cả là phải nắm bắt được xu thế phát triển
của thị trường, từ đó có những hình thức và giải pháp hợp lý để thâm nhập thị
trường. Khi nghiên cứu nhân tố thị trường ảnh hưởng đến xuất khẩu cần
nghiên cứu vấn đề dung lượng thị trường của từng loại hàng hóa, đó là khối
lượng của một loại hàng hóa nào đó được giao dịch trên thị trường trong một
thời gian nhất định. Thêm vào đó, dung lượng thị trường còn chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khác như: chính sách của Nhà nước, thị hiếu, tập quán tiêu
dùng. Qua thực tế có thể thấy chỉ khi nào nghiên cứu tốt thị trường xuất khẩu
thì doanh nghiệp mới có các giải pháp tích cực để mở rộng khả năng tiêu thụ
hàng hóa xuất khẩu và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường cũng như phát
triển sản xuất phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thị trường.
II. Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội:
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
17
1. Phát huy lợi thế so sánh của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Các nhà kinh tế học hiện đại đều cho rằng thương mại quốc tế đem lại
lợi ích cho tất cả các quốc gia khi mở cửa giao lưu kinh tế với bên ngoài cho
dù các nguồn lực sản xuất có lợi thế tuyệt đối hay không. Việt Nam có nhiều
điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu như: nằm ở khu vực kinh tế phát triển năng
động của Thế giới có sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài; bờ biển dài hàng
nghìn kilômét có tiềm năng lớn về khai thác xuất khẩu của sản phẩm từ biển
như: hải sản, dầu thô và thuận lợi trong giao lưu kinh tế bằng vận tải đường
biển. Đất đai màu mỡ, phì nhiêu, khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có thể xuất
khẩu các sản phẩm nông sản như: gạo, cà phê, hạt tiêu, cao su … Bên cạnh đó
Việt Nam cũng có một lực lượng lao động dồi dào, cần cù, chịu khó, thông
minh là điều kiện tốt để phát triển các mặt hàng xuất khẩu cần nhiều lao động
như: hàng may mặc, giầy dép .... Với những tiềm năng trên, lợi thế của Việt
Nam đang được khai thác và phát huy hiệu quả, trong tương lai Việt Nam sẽ
triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động
chờ sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn nhỏ bé, manh mún và tăng
trưởng thấp. Từ đó sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.
+ Coi thị trường, đặc biệt là thị trường Thế giới là hướng quan trọng để
tổ chức sản xuất. Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu của thị trường Thế giới
để định hướng sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động thể hiện ở những điểm sau:
• Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển
thuận lợi. Ví dụ, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc
phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như: bông, sợi hay thuốc nhuộm, công
nghiệp tạo mẫu … Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
19
xuất khẩu, dầu thực vật, chè … có thể sẽ kéo theo sự phát triển của ngành
công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó.
• Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho
sản xuất phát triển và đi vào ổn định.
• Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
• Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và
nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Điều này có nghĩa xuất khẩu là
phương tiện quan trọng đưa vốn và kỹ thuật, công nghệ từ Thế giới vào Việt
Nam, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế và tạo ra một năng lực sản xuất mới.
• Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của nước ta sẽ tham gia vào quá trình
cạnh tranh trên thị trường Thế giới về giá cả, chất lượng. Trong quá trình này
đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn
thích nghi một cách nhanh nhất với thị trường.
• Xuất khẩu còn đặt ra yêu cầu đối với các doanh nghiệp phải luôn
luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy
sản xuất, mở rộng thị trường.
Canada và Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 70% và thị trường không hạn ngạch chiếm 30%
tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó xuất khẩu đi EU đạt gần 800
triệu USD, chiếm 18,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 40% so
với năm 2003, xuất khẩu hàng dệt - may năm 2004 đạt kim ngạch cao, vượt
kế hoạch đặt ra. Tuy nhiên, từ ngày 31-12-2004, Hiệp định thương mại về dệt
- may (ATC) kết thúc, dỡ bỏ hạn ngạch dệt - may giữa các thành viên WTO,
trong khi nước ta chưa trở thành thành viên của tổ chức này đã và đang là thử
thách lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đi EU.
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
21
Sang đầu năm 2005, căn cứ vào Thỏa thuận về việc bãi bỏ hạn ngạch
hàng dệt - may Việt Nam từ ngày 1-1-2005 giữa Chính phủ Việt Nam và
Cộng đồng châu Âu ký tắt ngày 3-12-2004, Bộ Thương mại tuyên bố việc
xuất khẩu hàng dệt - may Việt Nam sang thị trường EU từ năm 2005 không
còn quản lý hạn ngạch. Bộ Thương mại khuyến khích thương nhân Việt Nam
chủ động ký kết hợp đồng sản xuất, xuất khẩu hàng dệt - may sang EU với số
lượng và chủng loại hàng (cat) không hạn chế.
Theo Hiệp định hàng dệt - may (ATC) từ 1-1-2005 các nước thành viên
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là các quốc gia nhập khẩu hàng dệt -
may phải ngừng áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt - may nhập khẩu từ các
nước thành viên WTO khác. Việt Nam bị giới hạn số lượng bằng Quota sẽ
phải đối mặt với sự cạnh tranh không bình đẳng và nguy cơ bị mất dần khách
hàng, thị phần có thể xảy ra. Ðó sẽ là một điều bất lợi đối với xuất khẩu dệt -
may Việt Nam bởi các nhà nhập khẩu sẽ tìm kiếm nguồn hàng cung cấp ổn
định ở những nước không bị hạn ngạch do họ chủ động được số lượng, như
vậy nguồn cầu về mặt hàng dệt - may của Việt Nam sẽ bị giảm đi, sẽ có nguy
cơ mất dần thị phần do các nhà nhập khẩu sẽ di chuyển đơn đặt hàng đến các
nước xuất khẩu không bị áp đặt hạn ngạch nữa. Ðiều đó có nghĩa, nhịp độ
tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt - may sang các thị trường truyền
thống có áp đặt hạn ngạch khó có thể duy trì như hiện nay. Vừa qua, Việt
với hàng nhập khẩu như hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh, bảo vệ môi
trường, sản phẩm từ mọi xuất xứ đều được cạnh tranh bình đẳng ở trong cùng
điều kiện thương mại quốc tế. Do đó đòi hỏi Chính phủ cùng với các doanh
Trần Trung Thành Lớp: TM48B
23
nghiệp dệt may phải có sự phối hợp chặt chẽ để đưa ra những chính sách hợp
lý nhằm phát triển và tận dụng tiềm năng của hàng dệt may.
2. Sự cần thiết thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường
EU thời kỳ hậu WTO:
EU bao gồm 27 quốc gia chủ yếu là các nước châu Âu với diện tích gần
4 triệu km
2
và 456 triệu dân có thu nhập cao chắc chắn là một thị trường tiêu
thụ rộng lớn mà hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cần quan tâm hơn nữa.
Ngoài ra, tổng kim ngạch ngoại thương của thị trường EU đạt gần 1.400 tỷ
USD chiếm khoảng 20% thương mại toàn cầu; đứng thứ 2 Thế giới về nhập
khẩu hàng hóa và dịch vụ, chiếm gần 43% nhu cầu nhập khẩu của Thế giới.
Trong số các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào EU thì hàng dệt may cùng
với thủy sản, cao su tự nhiên, đồ gỗ, cà phê, túi sách, thủ công mỹ nghệ, điện
tử vi tính, sản phẩm nhựa sẽ là những mặt hàng chủ lực trong thời gian tới.
Theo đánh giá của Tổ chức dệt may Thế giới thì EU là khu vực đứng
đầu về nhập khẩu sản phẩm dệt may của toàn Thế giới, cụ thể chiếm hơn 49%
tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Thế giới. Nhu cầu nhập
khẩu hàng năm của EU vào khoảng 110 tỷ USD bao gồm quần áo may sẵn và
sản phẩm dệt các loại, đem đến cơ hội lớn cho các nước có tiềm năng phát
triển ngành dệt may, trong đó có Việt Nam. Cơ hội này càng trở nên rõ rệt
hơn khi EU đang có xu hướng chuyển nguồn nhập khẩu sang các nước đang
phát triển nhằm tận dụng nguồn lao động giá rẻ của các nước này.
Bên cạnh đó, giá trị buôn bán giữa Việt Nam và EU tăng nhanh trong
những năm gần đây, từ 3,6 tỷ USD năm 1999 lên 11,5 tỷ USD năm 2007,