Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
NỘI DUNG ............................................................................................................... 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH ........................................ 3
VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ....................................................................... 3
................................................................................................................................... 3
1.1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh ...................................................................... 3
1.1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ..... 3
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh .................................................................. 3
1.1.1.2. Lợi thế cạnh tranh ........................................................................ 5
1.1.1.3. Vai trò của cạnh tranh ................................................................. 7
Đối với toàn nền kinh tế .............................................................................. 7
Đối với doanh nghiệp .................................................................................. 8
1.1.2. Phân loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ........................... 10
1.1.2.2. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế ......................................... 10
A/ MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường, kinh doanh luôn gắn liền với cạnh tranh. Mõi doanh
nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế đều phải tự mình vận động thích nghi
với cơ chế này.
Nền kinh tế thị trường phải vận hành, phải tuân thủ những quy luật kinh tế
khách quan riêng của nó, trong đó có quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh chính là
động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển.
Trong những năm đổi mới nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang
kinh tế thị trường, nền kinh tế đã có những bước tiến rõ rệt. Hoạt động kinh
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đã có những
thuận lợi nhất định đem lại hiệu quả kinh tế cao. Các doanh nghiệp từng bước
thoát khỏi tình trạng trì trệ, kém năng động trong cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp trước đây và đã chủ động trong hoạt động kinh doanh, tìm ra hướng đi mới
Sông Đà
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Phan Thị ThảoNỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Cạnh tranh nói chung là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí
hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ
khoa học, kỹ thuật tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất.
Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Không có cạnh tranh sẽ
không có sinh tồn và phát triển. Đó là quy luật tồn tại của muôn loài.
Cạnh tranh không phải là một khái niệm mới nhưng để có một định nghĩa
thống nhất và rộng rãi về nó thì rất khó khăn. Nguyên nhân là khái niệm “ cạnh
tranh” được sử dụng ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề, ở nhiều cấp độ khác nhau (cá
nhân, doanh nghiệp và quốc gia ) và với mục đích khác nhau (lợi nhuận, phúc
lợi xã hội …). Trong thực tế, cạnh tranh là một khái niệm thường được dùng
nhiều nhất trong khoa học kinh tế nhưng nó cũng không được định nghĩa một
cách cụ thể và rõ ràng.
Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Theo Các Mác: “ Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu
duy trì và phát triển những thành viên tốt nhất và qua đó hỗ trợ đắc lực cho quá
trình phát triển của toàn xã hội. Kết quả của cạnh tranh sẽ xác định vị thế của
doanh nghiệp trên thị trường, vì thế mỗi doanh nghiệp đều cố gắng tìm cho mình
một chiến lược cạnh tranh phù hợp để vươn lên tới vị thế cao nhất
1.1.1.2. Lợi thế cạnh tranh
Để đánh giá sự thành công của một doanh nghiệp thông thường người ta xem
xét đến vị trí mà nó chiếm giữ được trên thị trường so với các đối thủ cạnh
tranh. Nếu một doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao về mặt tài chính, vượt trội
so với các đối thủ cạnh tranh khác thì đó là do doanh nghiệp biết sử dụng hợp lý
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
những nguồn lực, năng lực tích lũy của mình vào các lĩnh vực đã chọn, biết lựa
chọn nhà cung cấp và có kênh phân phối sản phẩm hiệu quả. Để có thể duy trì kết
quả đạt được trong dài hạn, phát triển doanh nghiệp một cách hợp lý đòi hỏi doanh
nghiệp phải có những yếu tố chủ lực, những yếu tố này gọi là lợi thế cạnh tranh.
Lợi thế cạnh tranh được xây dựng từ những đặc trưng của bối cảnh cạnh tranh và
nằm ngay trong các thức phân bổ nguồn lực riêng của từng doanh nghiệp.
Theo lý thuyết của Michael Porter đưa ra thì lợi thế cạnh tranh có thể xây
dựng theo hai cách sau đây:
Cách thứ nhất là làm giống đối thủ cạnh tranh nhưng rẻ hơn, tức là với chi phí
thấp hơn. Trong trường hợp này doanh nghiệp sẽ có lợi thế hơn về chi phí so với
đối thủ cạnh tranh. Một khi mà doanh nghiệp đã kiểm soát được chi phí nó sẽ có
một “vũ khí cạnh tranh” rất có hiệu quả đó là giá cả. Vũ khí này cho phép doanh
nghiệp tăng lợi nhuận hoặc chiếm lĩnh thị phần của các đối thủ cạnh tranh.
Cách thứ hai là làm khác đối thủ cạnh tranh tức là doanh nghiệp có thể làm tốt
hơn và bán đắt hơn hoặc làm đơn giản hơn và bán rẻ hơn. Trong trường hợp đầu
doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm và dịch vụ mà mình cung cấp
theo hướng hoàn thiện hơn với chi phí cao hơn. Do đó bán với giá cao hơn mà
doanh nghiệp vẫn được thị trường chấp nhận. Trong trường hợp thứ hai, doanh
chủ của người tiêu dùng ). Cạnh tranh sẽ điều khiển sao cho những nhân tố sản
xuất sẽ được sử dụng vào những nơi có hiệu quả nhất, làm giảm thiểu tổng giá
thành của sản xuất xã hội. Dưới điều kiện cạnh tranh là những tiền đề thuận tiện
nhất làm cho sản xuất thích ứng linh hoạt dưới sự biến động của cầu và công
nghệ sản xuất. Cạnh tranh sẽ tác động một cách tích cực đến việc phân phối thu
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
nhập thông qua việc cản trở sự bóc lột trên cơ sở quyền lực thị trường và việc
hình thành thu nhập không tương ứng với năng suất. Sự thúc đẩy đổi mới được
coi là một chức năng cạnh tranh năng động trong những thập kỷ gần đây.
Đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường. Cạnh tranh có thể gọi là cuộc đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không
thể lẩn tránh mà cần tìm mọi cách vươn lên để chiếm ưu thế và chiến thắng.
Cạnh tranh buộc các nhà sản xuất kinh doanh phải vươn lên tìm cách nâng
cao chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, dịch vụ bán càng ngày càng hoàn
thiện hơn đáp ứng nhu cầu khách hàng và bao giờ các đối thủ cũng tìm cách đưa
ra mức giá thấp nhất và có thể chất lượng hoàn hảo nhất. Chính điều này khiến
các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án chiến lược nội dung tối ưu như: chi
phí nhỏ nhất, công nghệ hiện đại cạnh tranh khiến các doanh nghiệp áp dụng
công nghệ mới tạo sức ép cho các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng.
Mỗi doanh nghiệp không thể lẩn tránh cạnh tranh vì như vậy là cầm chắc sự
thất bại, có thể dẫn tới phá sản. Vì thế doanh nghiệp muốn vươn lên phải xây
dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh hợp lý. Coi cạnh tranh như là một
công cụ, là bàn đạp vươn lên. Trong cơ chế thị trường và trong thương mại quốc
tế, cạnh tranh có vai trò làm cho giá cả của hàng hóa giảm xuống, chất lượng
của hàng hóa không ngừng tăng lên và các dịch vụ sau bán hàng ngày càng tăng
lên. Vì thế, trước hết cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hóa các yếu
9
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2. Phân loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1. Căn cứ vào chủ thể tham gia vào thị trường
- Cạnh tranh giữa người bán với người mua
- Cạnh tranh giữa người bán với nhau
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau
1.1.2.2. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các công ty, các doanh
nghiệp cùng sản xuất một loại hàng nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch, cạnh tranh
dưới góc độ chi phí lao động cá biệt nhỏ hơn chi phí lao động xã hội cần thiết sẽ
thu được lợi nhuận siêu ngạch. Do vậy để thu được lợi nhuận các doanh nghiệp
thi đua cạnh tranh vệ khoa học kỹ thuật, phải luôn cải tiến công cụ sản xuất, máy
móc thiết bị.
- Cạnh tranh ngoài ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng
minh các doanh nghiệp của một ngành với những ngành khác nhằm đạt được lợi
nhuận cao và tìm kiếm nơi đầu tư có lợi (những nơi có tỷ suất lợi nhuận cao).
Rõ ràng giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và điều kiện khác nhau
như: nhu cầu, tâm lý, tính chất quan trọng hay không quan trọng nên cùng một
lượng vốn đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngành
khác. Điều đó dẫn đến tình trạnh những người sản xuất tại những nơi có tỷ suất
lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển nguồn nhân lực sang sản xuất tại những
ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh
tranh giữa các ngành. Kết quả là những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút
các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng. Do đó cung ứng hàng hóa vượt quá cầu
của nó sẽ làm cho giá cả hàng hóa giảm xuống. Điều đó làm giảm tỷ suất lợi
nhuận, ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3. Các lý thuyết cạnh tranh
1.1.3.1. Lý thuyết cạnh tranh của trường phái cổ điển
Hiện tượng cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền
sản xuất hàng hóa. Tuy vậy, trong cả một thời gian dài người ta không coi cạnh
tranh như là một quá trình cũng như không quan sát và phân tích những tác động
của chúng trong nền kinh tế. Chỉ đến khi các khái niệm giá trị, giá bán được
nghiên cứu một cách nghiêm túc thì khi đó vấn đề cạnh tranh mới được đặt đúng
vị trí của nó.
Ý nghĩa của việc cạnh tranh trước hết được những người thuộc trường phái
trọng nông phát hiện thông qua sự biến động giá cả. Theo họ “ giá tự nhiên” bao
gồm lao động chứa trong sản phẩm và địa tô. Khi xuất hiện một sự bất thường
nào đó thì giá thị trường có thể chênh lệch với “ giá tự nhiên” trong một giai đoạn
ngắn. Trong trường hợp đó, cạnh tranh sẽ hoạt động tích cực để điều chỉnh “bên
cung” và làm cho giá thị trường trở lại mức của “giá tự nhiên”. Adam Smith đã tiếp
thu nội dụng này và bổ xung thêm vào đó vấn đề cạnh tranh “ bên cầu”.
Như vậy, Adam Smith chính là người đầu tiên đưa ra những lý thuyết tương
đối hoàn chỉnh về cạnh tranh. Lý thuyết của ông đòi hỏi phải đảm bảo tự do
hành động cho doanh nghiệp và các hộ gia đình, nghĩa là đảm bảo sự tự do cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp cũng như sự lựa chọn tiêu dùng của các hộ gia đình.
Thông qua cơ chế thị trường, việc tận dụng tự do cạnh tranh để theo đuổi lợi ích
riêng dẫn đến việc mỗi chủ thể kinh tế sẽ nhận được những thành quả mà họ cống
hiến cho thị trường. Mô hình cạnh tranh này của trường phái cổ điển có thể được
hiểu như một quá trình điểu phối không có “ bàn tay hữu hình” của Nhà nước.
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy vậy, mô hình cạnh tranh của họ khônh đồng nghĩa với chính sách “ bỏ
mặc doanh nhân” như nhiều người nhầm lẫn mà họ đòi hỏi nhà nước phải tạo ra
và đảm bảo một trật tự pháp lý làm khung khổ cho quá trình cạnh tranh. Sự hài
hòa về lợi ích như Adam Smith phỏng đoán đã được trường phái tân cổ điển
giữa các hãng ở thị trường tạo điều kiện cho các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả.
Quan điểm này của Clack bắt nguồn từ luận điểm của nhà kinh tế học người
Mỹ gốc Áo Schumpeter về cạnh tranh. Ông cho rằng phải cạnh tranh bằng sản
phẩm mới, bằng kỹ thuật mới, bằng nguồn cung ứng mới và bằng hình thức tổ
chức mới. Theo ông đổi mới chính là “ sự phá hủy mang tính sáng tạo”, Clark
đã nhanh chóng tiếp thu luận điểm này của Schumpeter. Theo đó, việc các siêu
lợi nhuận của doanh nghiệp tiên phong trên cơ sở lợi thế nhất thời vừa có hiệu
quả, vừa là tiền đề của cạnh tranh. Lợi nhuận này không nên xóa bỏ ngay lập tức
mà chỉ nên giảm dần để doanh nghiệp có thể có điều kiện thời gian tạo ra sự đổi
mới, cải tiến khác.
Chính vì vậy, theo Clark sự vận hành của cạnh tranh được đo bằng giảm giá,
tăng chất lượng hàng hóa cũng như hợp lý hóa trong sản xuất. Tóm lại, nội dung
cơ bản của lý thuyết cạnh tranh hiệu quả là phân biệt rõ những nhân tố không
hoàn toàn là có ích, nhân tố nào có hại cho chính sách cạnh tranh và nhận biết
được điều kiện nào là điều kiện cần và đủ cho tính hiệu quả cạnh tranh trong nền
kinh tế.
1.2. Năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá.
Trong cạnh tranh nảy sinh kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả
năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có
khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh.
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Năng lực cạnh tranh của quốc gia hay năng lực cạnh tranh của một nền kinh
tế được hiểu là thực lực là lợi thế mà nền kinh tế hay quốc gia đó huy động được
để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị
trường thế giới một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng
cao cho nền kinh tế của mình và cho quốc gia mình.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được
lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ
pháp phân tích chuỗi giá trị. Một số yếu tố để đánh giá năng lực cạnh tranh của
một doanh nghiệp như :
- Số chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp cung ứng trên thị trường so với
các đối thủ cạnh tranh.
- Số mặt hàng của doanh nghiệp có mức độ hấp dẫn cao hơn về mẫu mã, giá
cả, dịch vụ sau bán hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
- Số mặt hàng của doanh nghiệp có sự thuận tiện hơn về hệ thống phân phối
so với các đối thủ cạnh tranh.
- Số mặt hàng có năng lực cạnh tranh cao hơn trên thị trường so với các đối
thủ cạnh tranh.
- Số tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh mà doanh nghiệp đáp ứng được so
với các đối thủ cạnh tranh.
- Số ưu thế mà doanh nghiệp có được so với các đối thủ cạnh tranh.
Một doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực thường kinh doanh nhiều
mặt hàng trong một lĩnh vực và trong nhiều lĩnh vực khac nhau. Vì vậy, không
phải tất cả các mặt hàng do doanh nghiệp sản xuất ra đều có năng lực cạnh tranh
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
16
Chuyên đề tốt nghiệp
hoặc có năng lực cạnh tranh bằng nhau. Một tất yếu sẽ xảy ra là một số mặt
hàng có năng lực cạnh tranh cao nhưng một số mặt hàng khác lại có năng lực
cạnh tranh thấp . Trong trường hợp đó, ta chỉ nên đánh giá năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp theo một hoặc một số mặt hàng.
* Để đánh giá năng lực cạnh tranh (sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh) của
một mặt hàng, ta có thể dùng các tiêu chí sau:
- Mức doanh thu của mặt hàng đó trong từng năm.
- Thị phần của mặt hàng đó trên thị trường trong từng năm so với các đối thủ
cạnh tranh.
- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã, kiểu cách,…so với các đối thủ
cạnh tranh.
nhiều công nghệ sản xuất tiên tiến có khả năng làm mất lợi thế của công ty với
chi phí thấp hơn.
1.3.2. Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm
Mục tiêu của chiến lược khác biệt hóa sản phẩm có được lợi thế cạnh tranh
bằng cách tạo ra sản phẩm mà khách hàng cho rằng có những điểm khác biệt.
Công ty theo đuổi chiến lược này có khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng
theo cách mà đối thủ cạnh tranh không làm được, do đó công ty có thể đặt giá
cao hơn giá trung bình ngành. Khả năng tăng thu nhập bằng cách đặt giá cao cho
phép công ty theo chiến lược các đối thủ và có được lợi nhuận cao hơn trung
bình.
Ưu điểm: Công ty nào theo đuổi chiến lược khác biệt hóa sẽ ít bị cạnh tranh từ
các đối thủ vì họ có lòng trung thành về nhãn hiệu sản phẩm của khách hàng. Và
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
18
Chuyên đề tốt nghiệp
vì vậy cũng không bị áp lực từ phía khách hàng do họ cung cấp các sản phẩm
đặc biệt duy nhất. Còn đối với các nhà cung cấp sức ép đối với công ty cũng rất
ít, họ có thể chịu việc tăng giá đầu vào ở một mực độ nào đó do mục tiêu hàng
đầu của họ cần tạo ra sự khác biệt hóa. Và cuối cùng lòng trung thành của khách
hàng là rào cản lớn để ngăn chặn sự đe dọa từ các đối thủ tiềm ẩn và các sản
phẩm thay thế.
Nhược điểm: Khả năng duy trì sự khác biệt của công ty là không lây dài và
không ổn định vì dễ bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước sản phẩm giống như của
công ty. Mối nguy hiểm nữa là sự khác biệt hóa và mức giá cao hơn mức trung
bình của công ty không được thị trường chấp nhận. Điều này sẽ là nguy cơ dẫn
đến chiến lược khác biệt hóa không thành công.
1.3.3. Chiến lược trọng tâm (tập trung )
Chiến lược tập trung trọng điểm khác với hai chiến lược trên ở chỗ công ty
đeo đuổi chiến lược này chỉ phục vụ nhu cầu của một số nhóm khách hàng hoặc
phân đoạn thị trường nào đó. Công ty theo đuổi chiến lược này chủ yếu phục vụ
khi quyết định tính khả thi của chiến lược.
Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong nước với đồng tiền
của các quốc gia khác. Thay đổi về tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến tính
cạnh tranh của sản phẩm do công ty sản xuất trên thị trường quốc tế. Khi giá trị
của đồng tiền trong nước thấp so với các đồng tiền khác, hàng hoá sản xuất
trong nước sẽ tương đối rẻ hơn, trái lại hàng hoá sản xuất ở ngoài nước sẽ tương
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
đối đắt hơn. Một đồng tiền thấp hay đang giảm giá sẽ làm giảm sức ép từ các công
ty nước ngoài và tạo ra nhiều cơ hội để tăng sản phẩm xuất khẩu và ngược lại.
Tỷ lệ lạm phát:
Lạm phát có thể gây xáo trộn nền kinh tế làm cho sự tăng trưởng kinh tế
chậm lại, tỷ lệ lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trở nên không lường
trước được. Nếu lạm phát tăng liên tục, các hoạt động đầu tư trở thành công việc
hoàn toàn may rủi.
Thực trạng của lạm phát là ở chỗ nó làm cho tương lai kinh doanh trở nên khó
dự đoán được. Nếu trong một môi trường mà lạm phát mạnh sẽ không thể nào
dự đoán được giá trị thực của lợi nhuận có thể thu được từ một dự án. Sự bất
trắc này làm cho các công ty không muốn bỏ tiền vào đầu tư. Hành động này lại
hạn chế sự hoạt động của nền kinh tế và cuối cùng thì đẩy nền kinh tế rơi vào
tình trạng khủng hoảng. Do vậy, lạm phát cao là một nguy cơ đối với công ty.
Quan hệ giao lưu quốc tế:
Những thay đổi về môi trường quốc tế có thể xuất hiện cả những cơ hội cũng
như nguy cơ về việc mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước của một công
ty. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay mang lại nhiều cơ
hội cho công ty các nước đầu tư vào. Đồng thời cũng tạo ra sự cạnh tranh ngày
càng mạnh hơn ở cả thị trường trong nước và quốc tế.
1.4.1.2. Các yếu tố công nghệ
nguy cơ. Toàn cầu hóa sẽ giúp mở rộng thị trường hoạt động của doanh nghiệp,
xóa bỏ các rào cản kinh tế, giúp các doanh nghiệptiếp thu được những tiến bộ
khoa học công nghệ một các nhanh chóng. Nhưng đồng thời nó lại cũng tạo ra
áp lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn do sức ép từ các đối thủ tiềm ẩn cùng ngành
ngày càng tăng, các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập vào thị trường nội địa
ngày càng tăng. Chính vì vậy, các doanh nghiệp trong nước phải nhận thức rõ
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
22
Chuyên đề tốt nghiệp
toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế là một xu thế không thể đảo ngược. Họ buộc phải
nâng cao sức cạnh tranh, phải nhanh chóng nắm lấy cơ hội do quá trình này tạo
ra nhưng đồng thời phải có biện pháp để đẩy lùi và hạn chế nguy cơ thách thức.
1.4.2. Các yếu tố môi trường vi mô (môi trường ngành )
Michael E. Porter của trường quản trị kinh doanh Harvard đã đưa ra những vấn
đề cốt lõi nhất để giúp cho các nhà quản lý sử dụng phân tích môi trường ngành
Porter đưa ra mô hình năm lực tác động vào ngành:
* Mức độ cạnh tranh giữa các công ty đang hoạt động trong ngành.
* Khả năng cạnh tranh của các đối thủ tiềm ẩn.
* Mức độ cạnh tranh của các sản phẩm thay thế.
* Sức ép về giá của người mua.
* Sức ép về giá của người cung ứng.
Lập luận của Porter là mỗi tác động ngày càng lớn mạnh của những lực đó có
thể coi là một sự đe dọa khi mà nó làm giảm lợi nhuận. một tác động cạnh tranh
yếu tố có thể được coi là cơ hội khi nó cho phép công ty kiếm được lợi nhuận
nhiều hơn.
1.4.2.1. Sự cạnh tranh của các đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là các công ty hiện không ở trong ngành nhưng có khả năng
nhảy vào những hoạt động kinh doanh trong ngành đó. Đổi thủ mới tham gia
trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của công ty do họ đưa vào khai
thác các năng lực sản xuất mới với mong muốn giành được một thị phần thị
liệu đầu vào và các bộ phận máy móc thiết bị với một khối lượng lớn, sự phân
bổ đều những chi phí cố định cho một khối lượng sản xuất lớn hơn và cả tính
hiệu quả của sản xuất lớn trong quảng cáo.
Nếu công ty có được những lợi thế này sẽ buộc các công ty mới xâm nhập
vào đương đầu với những khó khăn về quy mô sản xuất nhỏ và phải đương đầu
với những bất lợi về chi phí lớn.
Phan Thị Thảo Lớp: Kế hoạch 46B
24
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4.2.2. Sự cạnh tranh của sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của công ty trong những ngành khác
nhau nhưng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng giống như các công ty
trong ngành. Những công ty này thường cạnh tranh gián tiếp với nhau. Ví dụ các
công ty trong ngành cà phê cạnh tranh một cách gián tiếp với các công ty trong
ngành chè và những ngành nước giải khát không cồn. Nếu giá của cà phê tăng
quá lớn so với giá chè thì người uống cà phê sẽ chuyển sang uống chè.
Như vậy, sự tồn tại những sản phẩm thay thế hình thành một sức ép cạnh
tranh rất lớn. Nó giới hạn mức giá của một công ty có thể định ra và do đó giới
hạn mức lợi nhuận của công ty. Ngược lại nếu sản phẩm của công ty có ít các
sản phẩm thay thế, công ty có cơ hội để tăng giá và kiếm thêm được lợi nhuận.
1.4.2.3. Sức ép về giá của người mua
Người mua được xem như là sự đe dọa mang tính cạnh tranh khi họ đẩy giá
cả xuống hoặc khi họ yêu cầu chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn làm cho
chi phí hoạt động củ doanh nghiệp tăng lên. Ngược lại nếu người mua có những
yếu thế sẽ tạo cho công ty cơ hội để tăng giá và kiếm nhiều lợi nhuận hơn.
Người mua có thể gây áp lực với công ty đến mức độ nào phụ thuộc vào thế
mạnh của họ trong quan hệ với công ty. Theo Porter, những yếu tố tạo nên áp
lực cho người mua là:
- Khi ngành cung cấp gồm nhiều công ty nhỏ còn người mua chỉ là số ít công
ty nhưng có quy mô lớn.