Xây dựng mô hình quản trị tinh gọn áp dụng
tại một số doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa
ở Việt Nam
Trần Thị Luyến
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh; Mã số 60 34 05
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Minh
Năm bảo vệ: 2014 Keywords. Quản trị kinh doanh; Mô hình quản trị; Doanh nghiệp nhỏ.
Content
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo
ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Trong những năm gần đây, hoạt động của doanh
nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy
động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi
và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải
quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo, giảm các tệ
nạn xã hội.
Nước ta hiện có khoảng hơn 500.000 DN đang hoạt động trên cả nước, trong đó số
lượng các DNNVV chiếm tới 98% (Theo số liệu thống kê năm 2011)
1
.
Các doanh nghiệp
Từ hai công thức (1) và (2) có thể thấy cách thức hiệu quả giúp làm tăng lợi nhuận
doanh nghiệp chính là cắt giảm chi phí hoặc tăng doanh thu. Chi phí ở đây được hiểu là chi
phí bao gồm chi phí sản xuất, kinh doanh thực và chi phí lãng phí.Chi phí thực là chi phí
cần thiết để duy trì sản xuất kinh doanh đảm bảo chất lượng và dịch vụ, do đó không thể
cắt bỏ, thứ cần thiết cắt bỏ ở đây là chi phí lãng phí.Chi phí lãng phí thường thấy như: nhân
công thừa, NVL thừa, máy móc chờ đợi, hàng tồn kho, và các lãng phí trong tư duy và
phương pháp làm việc. Quản trị tinh gọn là mô hình tập trung vào việc phát hiện nhận diện
các lãng phí, từ đó có các phương pháp khoa học để loại bỏ các loại lãng phí này.
Chính vì vậy, việc nâng cao lợi nhuận thông qua tăng doanh thu vẫn luôn là bài toán
không dễ và càng khó giải hơn trong điều kiện kinh tế khó khăn, không ít doanh nghiệp đã
tìm đến giải pháp cắt giảm lãng phí, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực sẵn có, từ
đó cắt giảm được chi phí sản xuất, kinh doanh.Xuất phát từ thực tế khách quan nêu trên, tác
giả chọn đề tài: “Xây dựng mô hình QTTG áp dụng tại một số doanh nghiệp sản xuất
nhỏ và vừa ở Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình và mong muốn
nghiên cứu sâu về lý thuyết quản trị tinh gọn, về tình hình cụ thể của các DNNVV Việt
Nam khi áp dụng phương pháp quản trị tinh gọn, tìm ra những khó khăn và thuận lợi, từ
đó xây dựng được mô hình quản trị tinh gọn phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp Việt
Nam.
Luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu thực chứng dựa trên các câu hỏi nghiên cứu như
sau: Quản trị tinh gọn có lợi ích như thế nào đối với doanh nghiệp?,Các DNSXNVV Việt
Nam áp dụng các công cụ của QTTG có hiệu quả như thế nào?,Tại sao các DNSXNVV
Việt Nam chưa áp dụng các công cụ QTTG vào sản xuất?, từ đó đi phân tích nguyên nhân
dựa vào câu hỏi trên để từ đó đưa ra các giải pháp bằng câu hỏi: Giải pháp gì cho các
DNSXNVV ở Việt Nam để áp dụng QTTG vào sản xuất?
Từ đó đưa ra mô hình và đề xuất các giải pháp cho phù hợp với đặc điểm của các
DNSXNVV ở Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp, giúp các
doanh nghiệp phát triển, đóng góp chung vào xây dựng, phát triển nền kinh tế đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu về QTTG
Khái niệm tinh gọn đã xuất hiện cách đây khoảng 100 năm, nhưng chỉ từ khi
Toyota bắt đầu áp dụng và biến nó thành một công cụ thần kỳ đưa nhà sản xuất ô tô này
có khuôn mức đo lường, các DN rất khó có thể mang lại giá trị gia tăng cho khách hàng và
chính DN mình.
3. Hiroshi Katayama, David Bennett, (1996) "Lean production in a changing
competitive world: a Japanese perspective", International Journal of Operations &
Production Management, Vol. 16 Iss: 2, pp.8 – 23. Nhóm tác giả đã phân tích các khái
niệm cơ bản của sản xuất tinh gọn và xu hướng của Nhật Bản, giải thích được tại sao trong
giai đoạn khủng hoảng, các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài lại ảnh hưởng đến
khả năng tồn tại của SXTG ở Nhật Bản. Nhóm tác giả cũng đi khảo sát 4 trường hợp cụ thể
để tìm ra các vấn đề trong việc áp dụng SXTG ở Nhật và đưa ra một số khái niệm mới phù
hợp với điều kiện môi trường.
4. Michael A. Lewis, (2000) "Lean production and sustainable competitive
advantage", International Journal of Operations & Production Management, Vol. 20 Iss:
8, pp.959 – 978. Với nghiên cứu này, tác giả phân tích chi tiết SXTG, 6 sigma và
TQM.Đồng thời đi sâu vào ba trường hợp cụ thể để kết luận rằng SXTG góp phần nâng
cao lợi thế cạnh tranh bền vững của DN, và tác giả cũng đưa ra một số đề xuất cho các
nghiên cứu sau này.
5. Angle Martínez, Sánchez and Manuela Pérez, (2001), “Lean indicators and
manufacturing strategies”, International Journal of Operations and Production
Management, Vol. 21, No. 11, pp. 1433 - 1451. Nghiên cứu đã đánh giá các yếu tố trong
sản xuất tinh gọn và mức độ tầm quan trọng của các yếu tố.Mục tiêu thứ hai của nghiên
cứu này là kiểm định mối liên hệ trong việc sử dụng các yếu tố được nêu ra trong phần
tổng quan tài liệu. Mối liên hệ chặt chẽ được tìm thấy ở cặp yếu tố: hỗ trợ kỹ thuật từ nhà
cung cấp và hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà cung cấp; tỉ lệ nhân viên làm việc nhóm và tỉ lệ
công việc hoàn thành. Cuối cùng, nhóm tác giả phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng các
yếu tố trong sản xuất tinh gọn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân
tích sẽ tập trung vào 4 mục tiêu của doanh nghiệp sản xuất: chất lượng sản phẩm, thời gian
chờ, tính linh hoạt và chi phí.
6. Yang Pingyu, Yuyu, (2010), “The barriers to SMEs’ implementation of lean
production and countermeasures- Based on SME in Wenzhou”, International Journal of
Innovation, Management and Technology, Vol 1, No 2,6/2010, pp: 220-225.Bằng việc
Manufacturing Technology Management, Vol. 22 No. 4, pp. 444 - 473. Bằng phương pháp
tổng quan tài liệu, nhóm tác giả đã thấy được phần lớn nghiên cứu tập trung phân tích các
công cụ, phương pháp của sản xuất tinh gọn như kanban, so sánh hệ thống sản xuất kéo và
đẩy (Pull và Push systems), Các phương pháp của sản xuất tinh gọn khác như giảm chu
kỳ sản xuất, cải tiến quá trình, vẫn chưa được chú trọng. Do vậy, với nghiên cứu này,
nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp mô phỏng để thể hiện chuỗi giá trị của một trường
hợp nghiên cứu, từ đó nêu bật được lợi ích của việc áp dụng các công cụ, phương pháp của
sản xuất tinh gọn. Nghiên cứu khẳng định rằng tại doanh nghiệp này, chỉ có một số
công cụ phương pháp như cân bằng dòng sản phẩm, cải tiến quá trình, 5S, được áp
dụng và các công cụ, phương pháp này có tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có thể áp dụng các công cụ còn lại
một cách phù hợp, doanh nghiệp có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển
mạnh mẽ hơn.
10. Nguyen Dang Minh, (2012), “Contribution of Total Productive Maintenance to
the Environmental Conservation”, Journal of Information and Management, Vol. 33, No.
1, pp. 186-198. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng TPM (tạm dịch là Duy trì năng suất tổng thể) đã
được áp dụng rộng rãi tại các doanh nghiệp Nhật Bản nhằm nâng cao hiệu suất, khả năng
sử dụng của các thiết bị, dụng cụ, từ đó giảm thiểu chi phí sản xuất và chi phí đầu tư thiết
bị. Đồng thời, TPM góp phần bảo vệ môi trường thông qua việc giảm tiêu thụ năng lượng,
nước và hạn chế khí thải. Đặc biệt, tác giả khẳng định rằng khi áp dụng kết hợp TPM với
5S, JIT, TQM không chỉ doanh nghiệp sản xuất mà các doanh nghiệp dịch vụ, bảo dưỡng,
xây dựng, sẽ hoạt động hiệu quả hơn.
11. S. Vinodh, K.R. Shivraman and S. Viswesh, (2012), “AHP-based lean concept
selection in a manufacturing organization”, Journal of Manufacturing Technology
Management, Vol. 23 No. 1, pp. 124-136.Việc lựa chọn khái niệm thích hợp về sản xuất
tinh gọn là việc quyết định dựa trên nhiều tiêu chí.Quá trình phân tích thứ bậc AHP được
các tác giả sử dụng như một công cụ để giải quyết vấn đề trên.Dựa trên kết quả của quá
trình phân tích AHP, nghiên cứu đã đưa ra khái niệm sản xuất tinh gọn phù hợp nhất cho
các doanh nghiệp áp dụng.Khái niệm và mô hình áp dụng sản xuất tinh gọn trên được kiểm
chứng trong một trường hợp doanh nghiệp sảm xuất.
vậy mô hình đưa ra còn chưa phù hợp hoàn toàn với điều kiện các doanh nghiệp Việt Nam.
13. Toon Van Dael, (2012), “Application of lean manufacturing in a new plant of
Ariston Vietnam”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Bằng các phương
pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, tác giả đã hệ thống một số lý thuyết về quản trị tinh
gọn.Đồng thời, dựa trên nhu cầu tại doanh nghiệp Ariston Việt Nam, tác giả đã thực hiện
nghiên cứu và đề xuất kế hoạch áp dụng và triển khai sản xuất tinh gọn tại nhà máy. Do
nghiên cứu sâu vào một trường hợp doanh nghiệp nên đề xuất của tác giả chưa thể ứng
dụng tại các doanh nghiệp khác.
14. Đinh Trọng Thể, (2012), “Nghiên cứu áp dụng mô hình quản lý sản xuất tinh
gọn tại Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung – Ninh Bình”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Bách khoa
Hà Nội. Bắt đầu với tổng quan tài liệu, tác giả đã hệ thống được các nội dung chính trong
sản xuất tinh gọn.Đồng thời, bằng cách nghiên cứu thực trạng của một doanh nghiệp, tác
giả đã phân tích các loại lãng phí và đề xuất các công cụ phù hợp để cắt giảm các loại lãng
phí.Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp áp dụng
thành công sản xuất tinh gọn, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Đây cũng là
trường hợp nghiên cứu 1 tình huống cụ thể của doanh nghiệp, chưa phải là nghiên cứu xây
dựng mô hình.
15. Nguyễn Đăng Minh và nhóm tác giả, (2013), “Áp dụng 5S tại các doanh nghiệp
sản xuất nhỏ và vừa ở Việt Nam – Thực trạng và khuyến nghị”, Tạp chí Khoa học, Đại học
Quốc Gia Hà Nội, số 1 năm 2013, tr. 24-32. Với nghiên cứu này, nhóm tác giả đã chỉ ra
thực trạng của việc áp dụng 5S, một công cụ trong quản trị tinh gọn, tại các doanh nghiệp
sản xuất nhỏ và vừa Việt Nam thông qua việc thực hiện khảo sát 52 doanh nghiệp. Đồng
thời, bằng cách phân tích số liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 5S có
tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua 4 thông số: chất lượng sản
phẩm, chi phí sản xuất, thời gian giao hàng và thị phần. Cuối cùng, tác giả sử dụng phương
pháp phân tích 5WHYS để tìm ra các nguyên nhân gốc rễ của vấn đề tồn tại trong hiện
trạng áp dụng 5S tại 52 doanh nghiệp và đưa ra một số khuyến nghị.Tuy nhiên nghiên cứu
này chỉ dừng lại ở khuyến nghị cho việc phát triển mô hình 5S tại Việt nam.Chưa phải là
nghiên cứu điển hình về xây dựng mô hình quản trị tinh gọn.
Nhìn chung, tại Việt Nam, số lượng nghiên cứu về quản trị tinh gọn còn rất hạn chế.
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu thực chứng trong đó có: Phương
pháp phân tích tổng hợp; phương pháp điều tra khảo sát; phương pháp phỏng vấn chuyên gia
với mục đích trả lời câu hỏi: “Tại sao các DNSXNVV ở Việt Nam chưa áp dụng QTTG vào
sản xuất?”, được tiến hành theo 3 bước như sau:
- Bước 1: Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết (thu thập
và phân tích dữ liệu thứ cấp) về quản trị tinh gọn, đồng thời nghiên cứu thực tiễn tại một số
DNSXNVV kết hợp với phỏng vấn chuyên gia, từ đó rút ra kinh nghiệm trong việc áp
dụng quản trị tinh gọn. Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp thu thập dữ
liệu sơ cấp thông qua thực hiện điều tra khảo sát doanh nghiệp bằng bảng hỏi để thấy hiện
trạng áp dụng quản trị tinh gọn tại các DNNVV ở Việt Nam.
- Bước 2: Từ những dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập ở bước 1, đề tài nghiên cứu sử dụng
phương pháp phân tích theo tư duy của khoa học giải quyết vấn đề để phân tích vấn đề tồn
tại trong việc áp dụng quản trị tinh gọn tại các DNNVV ở Việt Nam.
- Bước 3: Dựa vào phần phân tích ở bước 2, nghiên cứu đề xuất mô hình quản trị tinh gọn
(5S, Kaizen, Mieruka) cho các DNSXNVV ở Việt Nam. Tiếp đó, đề xuất mô hình tối ưu
và các giải pháp cho các DNSXNVV ở VN để tiến hành triển khai.
Trình tự phương pháp nghiên cứu
cứu được kết cấu thành 4chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận vềquản trị tinh gọn
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng áp dụng QTTG tại một số doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa ở Việt
Nam
Chương 4: Phân tích nguyên nhân và đề xuất mô hình QTTG áp dụng tại một số doanh nghiệp
sản xuất nhỏ và vừa ở Việt Nam
Reference
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo bằng Tiếng Việt
1. Jeffrey K.Liker (2006), Trường Khanh, Sỹ Huy, Hắc Hải dịch (2012), “The Toyota
way- Phương thức Toyota”, Nhà Xuất bản Lao động - Xã Hội.
2. Đỗ Tiến Long, (2010), “Triết lý Kaizen và lãnh đạo doanh nghiệp” (PDF), Tạp chí
khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh số 26, tr. 262-270.
3. Mekong Capital (2004), “Giới thiệu về Lean manufacturing cho các doanh nghiệp Việt
Nam”, Tr. 4- 5- 6- 7- 15- 18.
4. Nguyễn Đăng Minh, (2013), “Áp dụng 5S tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa ở
Việt Nam – Thực trạng và khuyến nghị”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc Gia Hà Nội, số
1 năm 2013, tr. 24-32.
5. Nguyễn Thị Đức Nguyên, Bùi Nguyên Hùng (2010) “Áp dụng lean manufacturing tại
Việt Nam thông qua một số tình huống”, Tạp chí Phát triển & Hội nhập, Số 8, tr. 41- 48.
6. Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Đăng Minh (2014), “Quản trị tinh gọn tại các doanh
nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc
Gia Hà Nội, ngày 23/4/2014.
7. Đinh Trọng Thể, (2012), “Nghiên cứu áp dụng mô hình quản lý sản xuất tinh gọn tại
Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung – Ninh Bình”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội.
Tài liệu tham khảo bằng Tiếng Anh