BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÕNG ISO 9001 : 2008 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
Sinh viên : Đoàn Thị Liên
Giảng viên hƣớng dẫn : TS. Hoàng Chí Cƣơng
ThS. Nguyễn Đoan Trang HẢI PHÕNG – 2015
HẢI PHÕNG – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÕNG NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Đoàn Thị Liên Mã SV: 1112401056
Lớp: QTTN101 Ngành: Quản trị Doanh nghiệp
Tên đề tài: Chiến lược marketing nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
thép tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ và Thương Mại Trang Khanh
NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI
1. Nội dung và các yêu cầu cần giải quyết trong nhiệm vụ đề tài tốt nghiệp
Học hàm, học vị: Tiến sĩ
Cơ quan công tác: Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng
Nội dung hướng dẫn: Chiến lược marketing nhằm mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm thép tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ và Thương Mại Trang
Khanh
Ngƣời hƣớng dẫn thứ hai:
Họ và tên: Nguyễn Đoan Trang
Học hàm, học vị: Thạc sĩ
Cơ quan công tác: Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng
Nội dung hướng dẫn: Chiến lược marketing nhằm mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm thép tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ và Thương Mại Trang
Khanh
Đề tài tốt nghiệp được giao ngày 01 tháng 06 năm 2015
Yêu cầu phải hoàn thành xong trước ngày 03 tháng 08 năm 2015
Đã nhận nhiệm vụ ĐTTN Đã giao nhiệm vụ ĐTTN
Sinh viên Người hướng dẫn
Đoàn Thị Liên Hải Phòng, ngày tháng năm 2014
Hiệu trƣởng
MARKETING NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƢỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2
1.1 Khái quát về thị trường tiêu thụ sản phẩm 2
1.1.1 Khái niệm về thị trường 2
1.1.2. Vai trò và chức năng của thị trường 3
1.1.3. Tầm quan trọng của việc mở rộng thị trường tiêu thụ 5
1. 2. Chiến lược Marketing nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp 7
1.2.1. Khái niệm chiến lược và chiến lược marketing 7
1.2.2. Quy trình hoạch định chiến lược marketing nhằm mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp 10
1.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giả hiệu quả chiến lược marketing nhằm mở
rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp 18
CHƢƠNG 2: CHIẾN LƢỢC MARKETING NHẰM MỞ RỘNG THỊ
TRƢỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM THÉP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
CÔNG NGHỆ VÀ THƢƠNG MẠI TRANG KHANH 20
2.1. Khái quát tình hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của Công Ty Cổ Phần
Công Nghệ và Thương Mại Trang Khanh 20
2.1.1. Sơ lược qúa trình hình thành và phát triển của Công ty 20
2.1.2. Đặc điểm hoạt động của công ty 22
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty 24
2.1.4. Cơ cấu lao động 27
2.1.4. Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 29
1.5. Thuận lợi và khó khăn của Công ty 30
2.2. Phân tích chiến lược marketing nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
thép tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ và Thương Mại Trang Khanh 33
2.2.1. Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty 33
2.2.2. Thực trạng nghiên cứu, phân tích marketing của công ty 35
2.2.3. Lựa chọn thị trường mục tiêu của công ty 35
2.2.4. Xác lập và triển khai các giải pháp marketing-mix 36
PGS.PTS Phó Giáo sư – Phó Tiến sĩ
TS Tiến sĩ
ThS Thạc sĩ
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
HĐQT Hội đồng quản trị
ĐH Đại học
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UBND Ủy ban nhân dân
TC Tiêu chuẩn
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
XD Xây dựng
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 1
LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường với tình hình ngày càng gay gắt, đòi hỏi mỗi chủ thể
trong nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp thương mại nói riêng phải biết
phát huy mọi nỗ lực vươn lên, tạo chỗ đứng cho mình trên thương trường để có
thể tồn tại và phát triển. Muốn làm được điều này thì các doanh nghiệp phải biết
tìm mọi cách đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ, từ đó mở rộng thị phần của doanh
nghiệp trên thị trường, nâng cao uy tín, vị thế của doanh nghiệp.
Có thể nói, hoạt động tiêu thụ hàng hóa luôn gắn liền với sức sống của
rộng lẫn nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, thị trường là lĩnh vực của sự trao đổi và
lưu thông hàng hoá. Trên thị trường diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi
các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Đó là nơi gặp gỡ của cung và cầu, là nơi mà
cả người bán và người mua tìm kiếm các lợi ích riêng của mình. Thị trường có
thể được hình thành do yêu cầu của việc trao đổi một thứ hàng hoá, dịch vụ hoặc
của một đối tượng có giá tri nào đó. Khi nghiên cứu thị trường theo nghĩa rộng,
người ta thường đề cập tới những yếu tố đặc trưng cơ bản là:
- Chủ thể của quá trình trao đổi
- Phương tiện trao đổi trên thị trường
- Điều kiện của quá trình trao đổi.
Đối với một doanh nghiệp, hoạt động của họ thường gắn liền với thị
trường sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cụ thể. Đó là nơi đảm bảo cung ứng các yếu
tố đầu vào và giải quyết vấn đề đầu ra cho sản phẩm sản xuất kinh doanh. Vì
vậy, các doanh nghiệp thường không quan tâm đến thị trường nói chung mà chỉ
quan tâm đến thị trường sản phẩm của doanh nghiệp. Nói một cách khác, vấn đề
cơ bản mà các nhà kinh doanh quan tâm đến thị trường là những người mua
hàng và nhu cầu của họ về những hàng hoá của doanh nghiệp.
Theo Philip Kotler: “Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn
cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia
trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó” ( Xem Quản trị marketing -
Philip Kotler - NXB Thống kê – 2003, Trang 17).
Quan điểm này coi khách hàng là thị trường của doanh nghiệp. Quy mô
của thị trường phụ thuộc vào số người có nhu cầu và có những tài nguyên được
người khác quan tâm, và sẵn sàng đem những tài nguyên đó để đổi lấy cái mà họ
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 3
mong muốn. Với quan điểm đó đã mở ra khả năng khai thác thị trường rộng lớn
cho các doanh nghiệp. Thị trường luôn ở trạng thái vận động và phát triển. Khả
năng phát triển khách hàng sẽ quyết định sự phát triển thị trường của các nhà
kinh doanh.
Chức năng thực hiện:
Thông qua các hoạt động trao đổi trên thị trường, người bán và người mua
thực hiện được các mục tiêu của mình. Người bán nhận tiền và chuyển quyền sở
hữu cho người mua. Đổi lại, người mua trả tiền cho người bán để có được giá trị
sử dụng của hàng hoá. Tuy nhiên, sự thể hiện về gía trị chỉ xảy ra khi thị trường
đã chấp nhận giá trị sử dụng của hàng hoá. Do đó, khi sản xuất hàng hoá và dịch
vụ doanh nghiệp không chỉ tìm mọi cách để giảm thiểu các chi phí mà còn phải
chú ý xem lợi ích đem lại từ sản phẩm có phù hợp với nhu cầu thị trường hay
không.
Như vậy thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá và
dịch vụ hình thành nên các giá trị trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân
phối các nguồn lực.
Chức năng điều tiết kích thích:
Cơ chế thị trường sẽ điều tiết việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , tức là kích
thích các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực có mức lợi nhuận
hấp dẫn, có tỷ suất lợi nhuận cao, tạo ra sự di chuyển sản xuất từ ngành này sang
ngành khác. Thể hiện rõ nhất của chức năng điều tiết là sự đào thải trong quy
luật cạnh tranh. Doanh nghiệp nào, bằng chính nội lực của mình, có thể thoả
mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường, phản ứng một cách kịp thời, linh hoạt, sáng
tạo với các biến động của thị trường thì sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại sẽ bị
phá sản. Ngoài ra thị trường còn hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng theo mục
đích có lợi nhất nguồn ngân sách của mình.
Chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt cho được chu kỳ
sống của sản phẩm, để xem sản phẩm đang ở giai đoạn nào, tức lã xem sét mức
độ hấp dẫn của thị trường đến đâu để từ đó có các chính sách phù hợp.
Chức năng thông tin:
Thị trường sẽ cung cấp cho nhà sản xuất hay nhà kinh doanh thương mại
và người tiêu dùng những thông tin sau: Tổng số cung, tổng số cầu, cơ cấu cung
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 5
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 6
đang đứng trên bờ vực của sự phá sản cũng có thể vươn lên chiếm lĩnh và làm
chủ thị trường nếu họ nhạy bén, phát hiện ra xu thế của thị trường hay những kẽ
hở thị trường mà mình có thể len vào được.
Muốn thành công trong kinh doanh thì một doanh nghiệp không chỉ dành
được một thị phần thị trường mà hơn thế nữa nó phải vươn lên đứng trong nhóm
các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong lĩnh vực mà mình tham gia. Để làm
được điều này thì bắt buộc doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng thị trường
của mình và có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
Việc mở rộng thị trường nhằm giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ
tiêu thụ sản phẩm, khai thác mọi tiềm năng của thị trường một cách triệt để, hiệu
quả của hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao, tăng lợi nhuận và khẳng
định được vai trò, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Do vậy việc mở rộng
thị trường là một hoạt động có tầm quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp
nào, nó góp phần không nhỏ vào việc thành công hay thất bại trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Mở rộng thị trường là điều kiện để doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận
Có nhiều cách để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp như nâng giá trong
diều kiện bán ra không đổi nhưng những cách đó rất khó thực hiện khi nhiều
sản phẩm cạnh tranh nhau trên thị trường. Do đó muốn gia tăng lợi nhuận thì
cách tốt nhất là doanh nghiệp phải tiêu thụ được thêm nhiều hàng hoá, nghĩa là
phải mở rộng được thị trường, thu hút được thêm nhiều khách hàng mua và tiêu
dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Hoạt động mở rộng thị trường của doanh
nghiệp có thể thực hiện theo hai hướng: thâm nhập sâu hơn vào thị trường (mở
rộng theo chiều sâu) hoặc mở rộng và thâm nhập vào thị trường mới (mở rộng
theo chiều rộng).
- Mở rộng thị trường giúp doanh nghiệp phát triển ổn định, tăng thị phần,
nâng cao vị thế của mình trên thị trường trong nước và thế giới
Trong điều kiện nền kinh tế trong nước, khu vực và trên thế giới có nhiều
Ngày nay, thuật ngữ chiến lược được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
vực khác nhau. Trong lĩnh vực kinh doanh,cũng có nhiều cách tiếp cận về chiến
lược.
Theo cách tiếp cận truyền thống, chiến lược kinh doanh được xem như
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 8
tổng thể dài hạn của một tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu lâu dài. Theo Alfred
Chandler, Giáo sư ĐH Harvard cho rằng “Chiến lược là việc xác định các mục
tiêu cơ bản dài hạn của một doanh nghiệp và thực hiện chương trình hoạt động
cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được những mục tiêu ấy”.
Như vậy, tư tưởng của ông thể hiện rõ chiến lược là một quá trình hoạch định có
tính sáng suốt, trong đó doanh nghiệp lựa chọn những mục tiêu cho mình, xác
định chương trình hành động để hoàn thành tốt nhất những mục tiêu đó và tìm
cách phân bổ nguồn lực tương ứng. Phương thức tiếp cận truyền thống có ưu
điểm là giúp các doanh nghiệp dễ dàng hình dung ra công việc cần làm để hoạch
định chiến lược và thấy được lợi ích của chiến lược với phương diện là kế hoạch
dài hạn. Tuy nhiên, trong môi trường kinh doanh luôn biến động như ngày nay
cho thấy được hạn chế của cách tiếp cận truyền thống do nó không có khả năng
thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của môi trường kinh doanh.
Theo cách tiếp cận hiện nay, chiến lược có thể rộng lớn hơn những gì mà
doanh nghiệp dự định hay đặt kế hoạch thực hiện. Theo quan niệm của
Mintzberg, ông cho rằng chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết
định và chương trình hành động. Mẫu hình có thể là bất kỳ kiểu chiến lược nào,
chiến lược được thiết kế từ trước hay chiến lược đột biến.
Theo quan niệm hiện đại, nội dung chiến lược bao gồm “5P”: Kế hoạch
(Plan); Mưu lược ( Ploy); Cách thức (Pattern); Vị thế (Position); Triển vọng
(Perspective) mà công ty có được hoặc muốn đạt được trong quá trình hoạt
động kinh doanh. Quan điểm hiện đại bao gồm một loạt những quy định và hành
động trong một mô thức tương quan năng động.
Cách tiếp cận hiện đại giúp doanh nghiệp dễ dàng ứng phó linh hoạt trước
giá, xúc tiến và phân phối các sản phẩm dịch vụ, ý tưởng để đáp ứng nhu cầu
của thị trường mục tiêu và đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Theo Philip Kotler: “Chiến lược marketing là một hệ thống luận điểm
logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị hay một tổ chức tính toán cách giải
quyết những nhiệm vụ marketing của mình liên quan đến thị trường mục tiêu, hệ
thống marketing mix và mức chi phí cho marketing”.
- Các thị trường mục tiêu: chiến lược marketing phải xác định chính xác
những phần thị trường mà công ty cần tập trung những nỗ lực cơ bản của mình
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 10
vào đó. Những phần thị trường này khác nhau về các chỉ tiêu mức độ ưa thích,
phản ứng đáp lại và số thu nhập. Công ty sẽ hành động rất khôn ngoan, nếu tập
trung nỗ lực và công sức vào những phần thị trường mà nó có thể phục vụ tốt
nhất, xét theo giác độ cạnh tranh. Đối với mỗi phần thị trường mục tiêu được
chọn cần xây dựng một chiến lược marketing riêng.
- Hệ thống marketing mix: người quản lý phải trình bày khái quát những
chiến lược cụ thể đối với từng phần tử của hệ thống marketing mix, như hàng
hóa mới, tổ chức bán hàng tại địa phương, quảng cáo, kích thích tiêu thụ, giá cả
và phân phối hàng hóa. Cần lập luận từng chiến lược theo quan điểm nó đã tính
đến những nguy cơ, khả năng đồng thời người quản lý phải xác định chính xác
ngân sách dành cho marketing cần thiết để triển khai tất cả những chiến lược đã
nêu. Người quản lý biết rằng ngân sách càng nhiều thì càng đảm bảo được mức
tiêu thụ cao hơn, nhưng cần phải xây dựng ngân sách đảm bảo khả năng sinh lợi
cao nhất.
(Marketing căn bản – Philip Kotler – NXB Lao động Xã hội - 2007, Trang 437)
1.2.2. Quy trình hoạch định chiến lược marketing nhằm mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
1.2.2.1. Công tác nghiên cứu, phân tích marketing của doanh nghiệp
Để hiểu được khách hàng của công ty, các đối thủ cạnh tranh thì các công
ty cần phải tiến hành nghiên cứu marketing. Nhà quản lý thực hiện nghiên cứu
những kết luận về các vấn đề nghiên cứu.
- Trình bày kết quả nghiên cứu: tùy vào quy mô điều tra nghiên cứu mà có
cách thức trình bày kết quả khác nhau. Nếu cuộc nghiên cứu chỉ là những điều
tra thăm dò chớp nhoáng thì báo cáo có thể trình bày bằng miệng trước khi viết
thành văn. Còn nếu cuộc nghiên cứu có quy mô lớn thì các kết quả nghiên phải
được thể hiện dưới dạng các báo cáo văn bản. Người phụ trách quản trị
marketing là người sẽ có trách nhiệm sử dụng các kết quả nghiên cứu.
Tóm lại, nghiên cứu marketing là một hoạt động đòi hỏi nghiệp vụ cao, để
thực hiện thành công phải có các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực này.
(Marketing – PGS.PTS Trần Minh Đạo – NXB Thống kê – 1999, Trang 33)
1.2.2.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu
Lựa chọn thị trường mục tiêu là một trong những nội dung quan trọng
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 12
nhất của lý thuyết marketing và là một khâu không thể thiếu được của tiến trình
hoạch định các chiến lược marketing.
Marketing đòi hỏi phải thực hiện qua 3 bước chủ yếu. Thứ nhất là phân
đoạn thị trường, một công việc nhằm phát hiện và xác định những đặc điểm của
những nhóm người mua khác nhau có thể cần phải đảm bảo những sản phẩm
hay marketing mix riêng. Bước thứ hai là xác định thị trường mục tiêu, tức là
lựa chọn một hay nhiều khúc thị trường để tham gia. Bước thứ ba là định vị trên
thị trường tức là tạo dựng và tuyên truyền những lợi ích đặc biệt quan trọng của
sản phẩm trên thị trường đó.
Bước 1: Phân đoạn thị trường.
Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể thành các
đoạn (nhóm) người tiêu dùng rõ ràng trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu
cầu, ước muốn và các đặc tính hay hành vi. Những nhóm này có thể đòi hỏi
những mặt hàng hay hệ thống marketing riêng. Công ty xác định các phương
thức phân khúc thị trường, xác định các đặc điểm của những khúc thị trường thu
được và đánh giá mức độ hấp dẫn của từng khúc thị trường
tiêu. Định vị thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải quyết định khuếch trương bao
nhiêu điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào giành cho khách hàng mục
tiêu.
Để xác định các lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp cần thực hiện các biện
pháp để đảm bảo rằng sản phẩm của doanh nghiệp chiếm một vị trí đặc biệt về
một hoặc một số thuộc tính nào đó trong tâm trí của khách hàng ở phân đoạn thị
trường mà doanh nghiệp hướng đến.
Các hoạt động trọng tâm của chiến lƣợc định vị:
- Tạo được một hình ảnh cụ thể cho sản phẩm, thương hiệu trong tâm trí
khách hàng ở thị trường mục tiêu.
- Lựa chọn vị thế của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu.
- Tạo được sự khác biệt cho sản phẩm, thương hiệu.
- Lựa chọn và khuyếch trương những điểm khác biệt có ý nghĩa.
Các bƣớc của tiến trình định vị:
- Bước 1: Tiến hành phân đoạn thị trường, lựa chọn đoạn thị trường mục
tiêu theo đúng yêu cầu của marketing.
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 14
- Bước 2: Vẽ biểu đồ định vị, đánh giá thực trạng và xác định vị thế cho
doanh nghiệp trên biểu đồ đó.
- Bước 3: Xây dựng các phương án định vị.
- Bước 4: Soạn thảo các chương trình marketing mix để thực hiện chiến
lược định vị đã lựa chọn.
Sau khi đã xác định hình ảnh và vị thế của sản phẩm, doanh nghiệp bắt
tay vào soạn thảo hệ thống marketing - mix. Hệ thống marketing - mix phải có
sự nhất quán trong việc khắc họa hình ảnh về doanh nghiệp và nhãn hiệu đúng
tầm với vị trí mà doanh nghiệp đã chọn.
(Giáo trình Marketing căn bản – GS.TS Trần Minh Đạo – NXB ĐHKTQD –
2009, Trang 164)
1.2.2.3. Xác lập, triển khai marketing – mix
nhanh. Việc mở rộng hay tấn công vào những phân đoạn mới của thị trường là
tương đối thuận tiện. Cần phải sử dụng các nguồn lực để: Cải tiến chất lượng và
phát triển mẫu mã mới. Khai thác các đoạn thị trường mới. Tìm kiếm các kênh
tiêu thụ mới.
Giai đoạn bão hoà: Đây là giai đoạn kéo dài nhất nó được đặc trưng bởi
số lượng bán ra ổn định. Ở cuối giai đoạn này khối lượng hàng hoá bán ra giảm
dần.
Trong giai đoạn này thì chi phí kinh doanh tính cho một đơn vị sản phẩm
thấp nhất, lãi tính cho một đơn vị sản phẩm cao nhất do khối lượng sản phẩm
bán ra lớn nhất nên tổng lợi nhuận thu được lớn nhất. Khi sản lượng tiêu thụ bị
chững lại và giảm xuống, doanh nghiệp cần có ngay các biện pháp, chính sách
để khai thác thị trường ở giai đoạn tiếp sau.
Giai đoạn suy thoái: Đặc trưng của giai đoạn này là khối lượng sản phẩm
tiêu thụ giảm rất nhanh. Nếu không giảm sản lượng sản xuất thì khối lượng sản
phẩm tồn kho lớn dần dẫn tới lợi nhuận giảm nhanh. Nếu tình trạng này kéo dài
thì doanh nghiệp có thể bị thua lỗ nặng dẫn tới phá sản. Doanh nghiệp cần phải
tìm những biện pháp hữu hiệu để khắc phục như: cải tiến sản phẩm, quảng cáo,
chuẩn bị sẵn những sản phẩm thay thế để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh được diễn ra liên tục.
1.2.2.3.2. Chính sách về giá
Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Đoàn Thị Liên – QTTN101 16
Giá cả là yếu tố trực tiếp trong Marketing- mix tạo ra thu nhập và là một
trong những yếu tố linh hoạt nhất của Marketing- mix, nó có thể thay đổi nhanh
chóng, không giống như các tính chất của sản phẩm và những cam kết của kênh,
đồng thời việc định giá và cạnh tranh giá là những vấn đề nổi trội được đặt ra
cho những người làm marketing. Chiến lược định giá phụ thuộc vào mục tiêu
marketing của công ty. Khi xác định giá cho sản phẩm, công ty cần xem xét các
bước của quá trình định giá như sau:
Thứ nhất, Công ty lựa chọn được mục tiêu marketing của mình thông qua