Đánh giá hiệu quả một số hệ thống cây trồng luân canh, xen canh cây đậu tương và cây lương thực tại huyện tuần giáo, tỉnh điện biên - Pdf 30



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VŨ ĐÀM HÙNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ HỆ THỐNG
CÂY TRỒNG LUÂN CANH, XEN CANH CÂY
ĐẬU TƯƠNG VÀ CÂY LƯƠNG THỰC TẠI
HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN LUẬN VĂN
THẠC SĨ

KHOA HỌC CÂY TRỒNG
LUẬN VĂN
THẠC SĨ

KHOA HỌC CÂY TRỒNG Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN ĐIỀN
Thái Nguyên - 2014

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn

Vũ Đàm Hùng

iii

MỤC LỤC

Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1. Lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu và đánh giá mô hình sản xuất 4
1.1.2. Khái niệm hiệu quả 5
1.1.3. Hiệu quả kinh tế 6
1.1.4. Hiệu quả xã hội 8
1.1.5. Hiệu quả môi trường 8
1.1.6. Vai trò của cây đậu tương trong các công thức luân canh và xen canh 8
1.1.6.1. Trồng đậu tương luân canh với cây trồng khác 8
1.1.6.2. Trồng đậu tương xen với cây trồng khác 14

năm 2012 38
3.1.2.2. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Tuần Giáo năm 2012 39
3.1.2.3. Dân số xã hội của huyện Tuần Giáo năm 2012 40

v

3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Tuần
Giáo, tỉnh Điện Biên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp 41
3.2. Hiện trạng của một số mô hình hệ thống cây trồng chính 42
3.2.1. Diện tích canh tác bình quân và tình hình sản xuất các loại cây trồng
chính tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 42
3.2.2. Các hệ thống cây trồng chính 44
3.3. Năng suất và hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng trong các hệ thống
canh tác 45
3.3.1. Năng suất và hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng trong các hệ thống
canh tác 45
3.3.2. So sánh hiệu quả kinh tế của các cây trồng trong hệ thống độc canh và
luân canh 47
3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại cây trồng chính đến
môi trường 50
3.4.1. Năng suất sinh khối và khả năng để lại Nitơ trong đất của một số loại
cây trồng chính 50
3.4.2. Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi năng suất, độ phì đất
và mức nhiễm sâu bệnh 52
3.5. Đánh giá khả năng nhân rộng của các mô hình nghiên cứu và các giải
pháp để nhân rộng các mô hình này ra các vùng có điều kiện sinh thái
tương tự 55
3.5.1. Tác động của các chế độ canh tác đến khả năng áp dụng và khả năng
mở rộng diện tích của từng chế độ canh tác 55
3.5.2. Canh tác cây đậu tương trong tương lai gần 57

năm 2012 38

Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Tuần Giáo năm 2012 39

Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu dân số xã hội huyện Tuần Giáo 40

Bảng 3.4. Diện tích canh tác các loại cây trồng bình quân hộ trong
vùng nghiên cứu 42

Bảng 3.5. Tình hình sản xuất một số cây trồng chính năm 2012 43

Bảng 3.6. Các hệ thống cây trồng chính 44

Bảng 3.7. Năng suất và hiệu quả kinh tế của các cây trồng trong các hệ thống
canh tác 45

Bảng 3.8. So sánh hiệu quả kinh tế của các cây trồng trong hệ thống luân canh
và độc canh 47

Bảng 3.9. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất, hiệu quả vốn đầu tư,
và hiệu quả lao động 48

Bảng 3.10. Năng suất sinh khối của một số loại cây trồng chính 51

Bảng 3.11. Khả năng để lại N trong đất của một số cây trồng chính 51

Bảng 3.12. Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi năng suất 52

Bảng 3.13. Tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi độ phì đất 54


một mặt hàng xuất khẩu và là cây cải tạo đất tốt.
Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung
bình khoảng từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hyđrát các bon từ 15 - 16% và nhiều
loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống (Phạm Văn Thiều, 2002)
[11]. Đậu tương là loại duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả
prôtit và lipit. Prôtein của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số các prôtein
có nguồn gốc thực vật. Chính vì vậy, từ hạt đậu tương người ta đã chế biến ra
hàng trăm loại thức ăn khác nhau có giá trị dinh dưỡng cao như đậu phụ, giá,
bột, tương, xì dầu, thịt nhân tạo, v.v
Một đặc điểm hết sức quan trọng ở cây đậu tương là bộ rễ có rất nhiều
nốt sần. Nốt sần là kết quả cộng sính của loài vi sinh vật có tên là Rhizobium
Japonicum với rễ cây đậu tương. Nốt sần đóng vai trò quan trọng trong quá
trình cố định đạm khí trời cung cấp cho cây đậu tương và để lại trong đất.
Nguyễn Danh Đông (1982) cho biết trong nốt sần có thể cố định một lượng
đạm lớn từ 30 - 60 kg/ha trong một vụ trồng đậu tương. Chính vì vậy cây đậu
tương được xác định là cây trồng luân canh và xen canh tốt với các cây ngũ
cốc đặc biệt là với lúa và ngô.
Cây đậu tương vốn được đồng bào các dân tộc huyện Tuần Giáo, tỉnh
Điện Biên gieo trồng từ lâu đời theo tập quán cũ, nhỏ lẻ và để tự cung tự cấp
từ nhiều đời nay. Đến đầu những năm 2000, huyện Tuần Giáo bắt đầu có chủ

2

trương đưa cây đậu tương giống mới và kỹ thuật mới vào trồng khảo nghiệm,
nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập cho nông dân trong
công cuộc xóa đói giảm nghèo. Năm 2012, sản lượng đậu tương thu hoạch
của huyện Tuần Giáo đạt gần 1.600 tấn. Cây đậu tương thường được trồng
trên đất 1 vụ trong vụ xuân và vụ thu đông với phương thức trồng xen, luân
canh với ngô hoặc luân canh với cây lúa.
Việc đưa cây đậu tương vào trồng luân canh và trồng xen với cây lương

xen canh cây đậu tương với cây lương thực tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Xác định được hiệu quả kinh tế của một số hệ thống cây trồng luân
và xen canh cây đậu tương với cây lương thực và tìm ra được hệ thống cây
trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Kết quả nghiên cứu đánh giá được ảnh hưởng của một số loại cây
trồng chính đến môi trường như khả năng để lại Đạm trong đất sau thu hoạch,
các tác động của các chế độ canh tác đến sự thay đổi năng suất, độ phì đất và
mức nhiễm sâu bệnh.
- Đánh giá được khả năng nhân rộng của các mô hình nghiên cứu và
các giải pháp để nhân rộng các mô hình này ra các vùng có điều kiện sinh thái
tương tự.
- Đề tài xác định được những khó khăn, hạn chế làm giảm hiệu quả sản
xuất, hiệu quả kinh tế của nông hộ tại huyện Tuần Giáo, đồng thời đã đưa ra
các giải pháp khắc phục.

4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu và đánh giá mô hình sản xuất.
Ngày nay lý thuyết hệ thống được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong
các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, để phân tích và giải thích các mối quan hệ
tương hỗ. thực tế sản xuất nông nghiệp cho thấy nông nghiệp muốn phát triển
nhanh chóng và hiệu quả thì cần phát triển một cách toàn diện bằng việc tác
động đồng thời nhiều mặt. tức là giải quyết vấn đề theo quan điểm hệ thống.
Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan
hệ tác đông qua lại. Một hệ thống có thể xác lập như một tập hợp các đối
tượng hay các thuộc tính liên kết để tạo thành một chỉnh thể.

nhiêu, có thể chấp nhận được không. Tuy nhiên hiệu quả và kết quả lại phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm
ngành sản xuất và các quy luật kinh tế… Do vậy khi xem xét, đánh giá hiệu
quả cần phải cân nhắc để có kết luận phù hợp.
Trên phạm vi toàn xã hội các chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó là chi
phí lao động toàn xã hội. Vì vậy bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao
động xã hội. Từ đó ta có kết luận rằng: Thước đo hiệu quả chính là sự tiết
kiệm hao phí lao động toàn xã hội, còn tiêu chuẩn của hiệu quả chính là sự tối
đa hóa kết quả và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện nguồn lực nhất định.
Đối với một quốc gia thì hiệu quả được thể hiện trên nhiều mặt: kinh tế,
xã hội, an ninh quốc phòng v.v Điều đó có nghĩa là hiệu quả mang tính chất
không gian, thời gian. Nó thể hiện ở chỗ một hoạt động kinh tế trong một đơn
vị sản xuất có thể có hiệu quả rất cao song nếu xét trong bối cảnh quốc gia thì
chưa trắc đã có hiệu quả. Để hiểu rõ vấn đề này ta có thể xem xét một số vấn

6

đề kinh tế xã hội như: việc chặt phá rừng làm nương rẫy trên thực tế là đem
lại lợi ích cho một số cá nhân, tập thể nào đó xong điều đó có thể tác đông
tiêu cực tới hệ sinh thái, môi trường, gây hạn hán lũ lụt, làm suy giảm đa dạng
sinh học. Điều đó khi xét trên bình diện xã hội thì đó là một tổn thất lớn cho
toàn xã hội.
Như vậy việc đánh giá hiệu quả phải được xem xét một cách toàn diện
cả về mặt không gian và thời gian trong mối liên hệ giữa hiệu quả chung của
nền kinh tế quốc dân với hiệu quả của từng bộ phận riêng biệt của các đơn vị
sản xuất. Hiệu quả đó bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và môi
trường, các thành phần có mối quan hệ mật thiết với nhau như một thể thống
nhất không thể tách rời. Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả
xã hội phải gắn liền với toàn xã hội trên cả mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
Gắn chặt hiệu quả kinh tế của các đơn vị sản xuất với hiệu quả toàn xã hội là

Hiệu quả kinh tế phải lượng hóa được cụ thể việc sử dụng các yếu tố
đầu vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (sản phẩm) trong quá trình sản xuất ở
từng đơn vị, ngành, nền sản xuất xã hội trong từng thời kỳ nhất định các
doanh nghiệp với mục đích là tiết kiệm, lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng
sản phẩm hàng hóa nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp
nhất. Do đó hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và đầu ra
trong quá trình sản xuất (Hoàng Văn Phụ, 2000) [9].
Từ những nội dung trên có thể thấy rằng hiệu quả chính là trung tâm
của mọi quá trình kinh tế và nó liên quan đến tất cả các phạm trù, các quy luật
kinh tế khác. Hiệu quả kinh tế đi liền với nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên
cho sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tạo ra. Bản chất của hiệu quả kinh tế
chính là tương quan so sánh cả tuyệt đối và tương đối giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất.

8

1.1.4. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu
ích về mặt xã hội với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nó đánh giá chủ
yếu về mặt xã hội của hoạt động sản xuất. Các loại hiệu quả liên quan chặt
chẽ với hiệu quả kinh tế và biểu hiện mục đích các hoạt động của con người
như: tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của mọi tầng
lớp dân cư (Nông Quốc Chinh và cs (cộng sự), 2010) [1].
1.1.5. Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do
tác động của các hoạt động sản xuất gây ra như: xói mòn, rửa trôi, ô nhiễm
đất khả năng bảo vệ đất, tích lũy cácbon, giảm phát thải…v.v. Mọi hoạt động
sản xuất được coi là có hiệu quả môi trường khi các hoạt động đó không có
những tác động xấu tới môi trường đó là: Đất, Nước, Không khí và Sinh vật.
Đây là mục tiêu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến tính bền vững của hoạt

động, ) để phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là tăng tổng sản lượng
nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất.
Trong các chế độ luân canh thì luân canh cây đậu tương với các cây
trồng khác được đánh giá là mang lại hiệu quả cao, đồng thời mang lại nhiều
hiệu quả kinh tế, xã hội, và môi trường.
Qua nghiên cứu, đã chỉ ra rằng cây đậu tương trồng liên tiếp không có
lợi vì:
+ Rễ cây đậu tương thường tiết ra một loại axít không có lợi cho rễ và
vi sinh vật phát triển.
+ Mất cân đối dinh dưỡng trong đất, thường lân bị hút nhiều, nên dẫn
tới tình trạng không khôi phục kịp thời và đầy đủ cho cây sử dụng.
+ Tàn dư sâu bệnh được lan truyền từ vụ này sang vụ khác.

10

Cho nên đậu tương thường được trồng luân canh với cây trồng khác và
có lợi rất nhiều mặt.
+ Rễ có nốt sần cố định được đạm không những cung cấp cho cây đậu
tương mà còn để lại trong đất cho cây trồng sau.
+ Thân và lá có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, do vậy để lại trên
ruộng làm tăng chất mùn, làm thay đổi lý tính của đất.
+ Tránh được sâu bệnh lây lan từ vụ trước để lại. (Trần Văn Điền,
2007) [17].
Một biện pháp kỹ thuật phổ biến trồng đậu tương là luân canh với lúa,
ngô hay các cây ngũ cốc khác. Theo Ngô Thế Dân và các cs (1999) [4] luân
canh cây đậu tương với các cây trồng khác có nhiều tác dụng:
- Nâng cao năng suất đậu tương.
- Giảm lượng phân đạm cần thiết cho cây trồng sau.
- Phá vỡ vòng đời của sâu bệnh.
- Giảm được cỏ dại hại đậu tương.

+ Đậu xanh - lúa - lúa mì.
+ Ngô đông - lúa - lúa mì.
+ Đậu xanh - lúa - khoai tây.
Hệ thống canh tác 2 vụ trên đất lúa nên dùng công thức: đậu xanh - lúa;
ngô đông - lúa.
Theo trích dẫn của Ngô Thế Dân và các cs (1999) [4] trong 10 năm
nghiên cứu liên tục ở Illinois, Slife (1976) nhận thấy trong công thức luân
canh ngô - ngô - đậu tương hoặc đậu tương - lúa mì, năng suất trung bình của
cây đậu tương tăng 14% so với độc canh đậu tương. Nghiên cứu hiệu quả của
các công thức trồng xen tại các tỉnh Bắc Kạn, Ngô Xuân Hoàng (2005) [6]
cho biết đất nương rẫy ở vùng thấp, công thức luân canh đem lại hiệu quả
kinh tế cao nhất là đậu tương - bí đỏ/rau/khoai lang (lãi thuần: 10,5 triệu

12

đồng/ha), sau đó đến khoai tàu - ngô bioseed (lãi thuần: 9,54 triệu/ha), lúa
nương - ngô (lãi thuần: 6,36 triệu/ha). Đất nương rẫy ở vùng cao, công thức
luân canh đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất là khoai tàu - ngô bioseed (lãi
thuần: 8,87 triệu/ha) sau đó đến đậu tương - bí đỏ/rau/khoai lang. Chính vì
vậy đưa cây đậu tương vào hệ thống luân canh đã được áp dụng rộng rãi ở tất
cả các vùng sinh thái.
Các công thức luân canh phổ biến ở nước ta
* Vùng núi phía Bắc
+ Đậu tương xuân - lúa mùa - cây vụ đông (hoặc cày giữ ẩm qua đông).
+ Ngô xuân - đậu tương hè (hoặc hè thu) - cây vụ đông (hoặc cày giữ ẩm).
+ Nơi tưới tiêu chủ động: Lúa xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông.
* Trung du đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
+ Đậu tương xuân - lúa mùa sớm - cây vụ đông.
+ Ngô xuân (khoai lang ngắn ngày) - đậu tương hè thu - cây vụ đông.
+ Lúa xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông.

đồng/ha/năm là:
- Trên đất 2 vụ lúa chủ động nước, chân đất lúa, màu:
+ Lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa muộn - khoai tây đông (hoặc rau).
+ Lúa xuân - đậu tương hè - lạc thu - rau vụ đông.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành của các hệ thống luân canh
cây trồng:
- Khí hậu.
- Tính khu vực nghiêm ngặt của cây trồng, tính thời vụ khẩn trương và
tính liên tục của sản xuất nông nghiệp.
- Sự kết hợp đồng thời giữa sử dụng và bồi dưỡng đất.
- Quần thể sinh vật và hệ thống luân canh cây trồng.

14

- Chế độ luân canh cần đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Nông hộ và hệ thống luân canh cây trồng.
- Chính sách và hệ thống luân canh cây trồng.
- Thị trường và hệ thống luân canh cây trồng.
- Tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội.
1.1.6.2. Trồng đậu tương xen với cây trồng khác
Là đem 2 loại cây trồng không có cùng thời gian sinh trưởng nhưng có
cùng thời vụ gieo trồng đem gieo xen với nhau theo hàng, theo hốc hoặc theo
băng. Xen canh cây trồng là biện pháp tốt nhất để đồng thời sử dụng tối ưu
các điều kiện đất, ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng trong đất, góp phần làm
tăng tổng thu nhập cho nhà nông. Thí dụ, trồng ngô xen đậu đỗ (đậu tương,
đậu xanh ). Ngô là loài cây trồng có rễ ăn sâu, yêu cầu dinh dưỡng cao; còn
đậu đỗ là cây thấp, rễ ăn nông, ít yêu cầu dinh dưỡng, mà lại có khả năng
cung cấp thêm đạm cho đất. Khi trồng ngô xen đậu đỗ không có sự cạnh tranh
giữa chúng với nhau về dinh dưỡng và ngô còn sử dụng cả nguồn đạm do đậu
đỗ cố định được. Trên cùng diện tích tổng sản lượng của ngô và đậu xen canh

bông trồng xen thấp hơn hẳn so với trên cây bông trồng thuần là do hoạt động
hữu ích của thiên địch tự nhiên, mà đặc biệt là của nhóm nhện lớn bắt mồi trên
cây bông trồng thuần thấp hơn rất nhiều so với trên cây bông trồng xen với đậu
xanh hoặc đậu tương. Và mật độ nhện lớn bắt mồi trên cây bông trồng xen với
đậu xanh lại thấp hơn rõ ràng so với trên cây bông trồng trong trường hợp trồng
xen 3 cây (bông + ngô + đậu xanh). Trồng bông xen với đậu xanh hoặc với đậu
+ ngô còn hạn chế được sự lây nhiễm của bệnh xanh lùn hại bông.
Trồng cà chua xen với cây ngô hoặc cây đậu đỗ đã làm tăng hoạt động
hữu ích của ong mắt đỏ ký sinh trứng sâu xanh. Tỷ lệ trứng sâu xanh bị ong
mắt đỏ ký sinh trên cây ngô hoặc đậu đỗ được trồng xen với cà chua cao hơn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status