ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ MINH HOA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ
THUẬT PHÙ HỢP CHO SẢN XUẤT
HOA LILY TẠI LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2014
trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại Khoa Nông
học, phòng quản lý đào tạo sau Đại học đã giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo
điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp, anh em bè bạn và
gia đình đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thần cho tôi trong thời gian
học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Trần Thị Minh Hoa
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Sự cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích 3
3. Yêu cầu 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 3
4.1. Ý nghĩa khoa học 3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống 5
1.2. Cơ sở của việc nghiên cứu thời vụ 5
1.3. Cơ sở của việc nghiên cứu mật độ trồng 5
1.4. Nguồn gốc và phân loại hoa Lily 6
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sinh trưởng, phát triển
và chất lượng hoa của giống Robina vụ Tết Nguyên đán tại Lạng Sơn 38
3.2.1. Ảnh hưởng của thời vụ trồng tới tỷ lệ nảy mầm
của giống Robinathí nghiệm 38
3.2.2. Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái ra lá và tốc độ
tăng trưởng chiều cao của giống Robina thí nghiệm 39
3.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ tới các giai đoạn sinh trưởng
và phát triển của giống Robina thí nghiệm 41
3.2.4. Ảnh hưởng của thời vụ đến đặc điểm hình thái và
chất lượng hoa của giống Robina thí nghiệm 42
3.2.5. Ảnh hưởng của thời vụ tới tình hình sâu bệnh hại
trên giống Robina thí nghiệm 44
3.2.6. Hiệu quả kinh tế với các thời vụ khác nhau 45
v
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng mật độ trồng tới sự sinh trưởng
và phát triển của giống hoa Lily Robina tại Lạng Sơn 46
3.3.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng,
phát triển của giống Robina thí nghiệm 46
3.3.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng
của giống Robina thí nghiệm 48
3.3.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng tới đặc điểm hình thái và
chất lượng hoa của giống Robina thí nghiệm 50
3.3.4. Ảnh hưởng của mật độ trồng tới tình hình sâu bệnh hại trên
giống Robina thí nghiệm 52
3.3.5. Hiệu quả kinh tế với các mật độ trồng khác nhau 53
Chương IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
4.1. Kết luận 54
4.2. Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Bảng 3.17: Hiệu quả kinh tế trồng Lily Ribona ở các thời vụ 45
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm hình thái
và động thái ra lá của giống Lily Robina 46
vii
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây của giống Lily Robina 47
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn
phát triển của giống Lily Robina 49
Bảng 3.21: Một số chỉ tiêu về năng suất và chất lượng hoa
của giống Lily Robina ở các mật độ trồng khác nhau 50
Bảng 3.22. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến độ bền của hoa Lily Robina 51
Bảng 3.23: Mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính 52
Bảng 3.24: Hiệu quả kinh tế ở các mật độ trồng 53
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khi điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì giá trị
của cây hoa cũng ngày càng tăng theo, thậm chí tăng với cấp số nhân. Đơn
giản vì những giá trị nghệ thuật và sáng tạo luôn được đánh giá cao trong thời
đại của tri thức và công nghệ ngày nay.
Hoa là biểu hiện của khát vọng hướng tới cái đẹp và tình yêu thiên
nhiên, vạn vật của con người. Chúng đem lại cho con người sự thoải mái, thư
giãn khi thưởng thức vẻ đẹp của chúng. Không chỉ vậy, hoa còn mang lại giá
tri kinh tế cao hơn hẳn so với những cây trồng khác. Theo Viện Nghiên Cứu
Rau Quả thì hiện nay, lợi nhuận thu được từ 1 ha trồng hoa cao hơn 10 - 15
lần so với trồng lúa và 7 – 8 lần so với trồng rau.
vậy, trồng hoa Lily đang thu hút lớn các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.
Chính vì thế, nghề trồng hoa rất có triển vọng phát triển, đồng thời là hướng
đi mới giúp người nông dân đẩy nhanh việc xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn
việc làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn và cũng là hướng giúp chuyển
dịch nhanh cơ cấu trong nông nghiệp.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc nước ta có điều kiện tự nhiên
như đất đai, khí hậu… rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây
hoa lily. Đối với Lạng Sơn, nghề trồng hoa mặc dù chưa phát triển nhưng đã
có những góp đáng kể, là nguồn thu nhập chính của một số hộ nông dân ở
khối 9 phường Tam Thanh – Thành phố Lạng Sơn.
Do quá trình đô thị hoá, diện tích đất nông nghiệp ở thành phố ngày
càng giảm; trong khi đó nhu cầu về hoa của người dân không ngừng tăng cao,
vì thế nghề trồng hoa ở Lạng Sơn vẫn có điều kiện phát triển. Nghề trồng hoa
có thể tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, đồng thời tạo nguồn
thu nhập không nhỏ cho các hộ gia đình trồng hoa ở Lạng Sơn. Nhưng trong
thời gian qua, chưa có sự quan tâm thoả đáng để nghề trồng hoa phát triển.
Đặc biệt là công tác nghiên cứu thử nghiệm và xây dựng mô hình sản xuất
hoa có giá trị kinh tế cao ở các vùng có điều kiện sinh thái thuận lợi. Người
dân muốn trồng hoa nhưng thiếu giống tốt, thiếu kỹ thuật, thiếu định hướng từ
3
các cơ quan quản lý và các nhà chuyên môn vì vậy mà không dám đầu tư vào
lĩnh vực mới mẻ này. Trong đó Lily là giống cây trồng mới được nhập nội,
các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, nhất là thời vụ trồng, mật độ trồng
phù hợp chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số
biện pháp kỹ thuật phù hợp cho sản xuất hoa Lily tại Lạng Sơn" làm cơ sở
khoa học và thực tiễn cho việc mở rộng sản xuất hoa Lily tại địa phương.
2. Mục đích
- Lựa chọn được giống hoa lily có năng suất, chất lượng tốt, màu sắc
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống
Cây hoa Lily mới được phát triển mạnh ở nước ta những năm gần đây,
giống Lily đưa vào sản xuất chủ yếu là nhập nội từ Hà Lan, Trung Quốc hoặc
Đài Loan, chúng chưa được nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái
một cách hệ thống trước khi trồng, nên dẫn đến một số giống có chất lượng
hoa kém, mẫu mã xấu, nở hoa không đúng dịp gây khó khăn cho người sản
xuất, hiệu quả kinh tế thấp, có khi dẫn đến thất bại. Nghiên cứu giống sẽ giúp
chúng ta nắm bắt được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng phù hợp
của chúng với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn được những giống
phù hợp với điều kiện của địa phương trước khi đưa vào sản xuất.
1.2. Cơ sở của việc nghiên cứu thời vụ
Ở mỗi một thời vụ có điều kiện ngoại cảnh khác nhau, ảnh hưởng đến
sinh trưởng phát triển của cây cũng khác nhau.
Hơn nữa, Lily là cây hoa cao cấp, hoa thường nở tập trung, giá trị kinh
tế cao. Ở những ngày thường, nhu cầu loại hoa này không lớn, khả năng tiêu
thụ hoa khó, giá bán thấp, trong khi đó những dịp lễ, tết như: ngày 8/3, ngày
20/11, tết Nguyên đán, nhu cầu về hoa Lily là rất lớn, dễ tiêu thụ trên thị
trường, giá bán cao. Nghiên cứu thời vụ trồng Lily ở nước ta chưa nhiều, việc
nghiên cứu thời vụ không những giúp chúng ta xác định được thời gian trồng
hợp lý mà còn xác định được thời vụ trồng có hiệu quả kinh tế cao.
1.3. Cơ sở của việc nghiên cứu mật độ trồng
Mỗi một loại cây trồng, yêu cầu trồng ở một mật độ nhất định mới sinh
trưởng, phát triển thuận lợi, cho năng suất và chất lượng cao. Đối với hoa
Lily, tuỳ theo mục đích thương mại làm hoa cắt cành hay hoa chậu mà người
6
nguồn gốc từ châu Á, như : L.lancifolium, L.lechtlinii, L.maximwiczii,
L.pumilum, L.bulbiferum, L.davidii
7
+ Nhóm 3: Nhóm Lily thơm. (Longiflorum Lily) với các chủng loại
L.longiflorum, Lily Đài Loan (L.formosanum), Lily trắng (L.candidum), Lily
Vương (L.regale) là chính.
+ Nhóm 4: Nhóm Lily Tinh Diệp (Martagon Lily), gồm Lily Hán Lâm
(L.hansonii), Lily Tinh Diệp (L.martagon) là chính, cùng với
L.chalcedonicum, Lily ốc đan (L.cernuum, L.davidii, L.lancifolium ) lai tạo
chọn lọc ra.
b. Phân loại theo Hội làm vườn Hoàng gia Anh:
Hội làm vườn Hoàng gia Anh (1964) dựa vào nguyên sản bố mẹ, đặc
trưng hình thái, màu sắc hoa người ta chia Lily thành 9 nhóm:
b1. Nhóm Lily lai châu Á (Asiatic hybrids)
Gồm những giống lai có nguồn gốc ở châu Á, hoa nở vào đầu mùa hè,
là nhóm lai giữa các loài: L.lancifolium (syn.L.tigrinum), L. cernuum, L.
davidii, L. maximowiczii, L.maculatum, L.hollandicum, L. amabile, L.
pumilum, L. concolor, và L. bulbiferum Đây là nhóm dễ trồng và cũng dễ ra
hoa nhất.
Nhóm này có đặc điểm là màu hoa rất phong phú: đỏ thẫm, cam, vàng,
hồng, xanh tía, mầu mận và trắng; nhìn chung hoa không có mùi thơm.
Dựa vào hình dáng hoa nhóm này lại được phân ra làm 3 loại: hướng
lên trên, hướng ra ngoài và hướng xuống dưới
- Loại hoa hướng lên trên: mọc đơn hoặc trên hoa tự, ra hoa sớm. Các
giống thường thấy như: Angel’s Touch, Aurora Borealis, Peachy Keen, Gold
Ballerina
- Loại hoa hướng ra ngoài: giống thường thấy là Apricot Pixels, Fire
Mountain, Grand Cru, Orange Art, Braudwine
- Loại hoa chúc xuống: gồm các giống: Ambrosia, King Pete,
Thông Giang (L.sargentiae), Lily Nghi Xương (L.luecanthum) Hoa hình loa
kèn, có thể hoa hướng ra ngoài hoặc hướng xuống dưới, có hương thơm, đặc
biệt là ban đêm. Một số giống thuộc nhóm này: Black Dragon, Copper King,
Golden Sunburst, Midnight, Moonlight, African queen, Pink Perfection,…
b7. Nhóm lai Phương Đông (Oriental hybrids)
Phần lớn các giống thuộc nhóm này do lai một số chủng L.auratum và
L.speciosum. Đặc điểm là thân có chiều hướng cao, hoa khá to, hướng ra
ngoài và có hương thơm. Hiện nay có rất nhiều giống Lily lai Phương Đông
9
được đưa vào sản xuất thương phẩm, như: Casa blanca, Angelique, Dizzy,
Maru, Souvenir, Rio regro, Pink expressions, Stargazer, Sorbonne,
Starfighter, Acapulco, Tiber, Collection, Mixed, Miss Lucky, Montezuma,
Muscadet
b8. Nhóm Lily lai tạo (interdivisional hybrids-Orienpets: OT hybrids, LA
hybrids, AA hybrids…)
Gồm những giống lai khác, như lai giống giữa nhóm Phương Đông và
nhóm Loa kèn, nhóm thơm với nhóm châu Á Hiện nay nhóm này có nhiều,
nhờ lai giống đã tạo ra các giống mới có khả năng chống chịu tốt với điều
kiện ngoại cảnh, sâu bệnh Một số giống LA (lai
L
ongiflorum và Asiatic):
Aerobic, Ballroom, Best seller, Canillo, Carmine diamond; giống AA (lai
Aurelian và Asiatic): Fiery belles, Ivory belles, Silky belles; giống OA (lai
Oriental x Asiatic): Elegant crown, Fancy crown, Fuego crown; giống OT (lai
Oriental x Trumpet): Yelloween, Altary, American bandstand, American
dream, American jouney
b9. Loài hoang dại (The wild species)
Gồm những loài thuộc nội địa của bắc châu Mỹ, châu Âu và châu Á
(Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ ) là những loài được trồng trong môi trường
Italia, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất hoa Lily ở một số nước trên thế giới
Đơn vị: ha
TT Nước Năm 1989-1990 Năm 1997-1998 Năm 1999-2001
1 Hà Lan
1200 4000 5000
2 Pháp
30 150 420
3 Canada và Mỹ
200 215 235
4 Nhật
370 350 360
5 Úc
50 350 400
6 Chi Lê
8 45 135
7 Hàn Quốc
131 209 250
(Nguồn: Đặng Văn Đông, 2004)[6]
11
Hà Lan là nước đứng đầu trong các nước sản xuất hoa Lily về cả củ
giống và hoa Lily thương phẩm. Lily là cây đứng thứ 5 trong các loài hoa cắt
quan trọng của Hà Lan (Van Tuyl. J.M, 1996)[41]. Trong những năm gần đây
diện tích trồng Lily của Hà Lan tăng nhanh chóng: từ 100 ha năm 1970 lên
4800ha năm 2000 (Van Tuyl. J.M, 2005)[40]. Phần lớn Lily được lai giống và
sản xuất ở Hà Lan (Chi.H.S, 1999)[28]. Thông qua các chương trình nghiên
cứu, tạo giống tiên tiến: nuôi cấy mô tế bào trong ống nghiệm (In vitro), tạo
giống đa bội thể, chuyển gen đã tạo ra nhiều giống mới có khả năng thích ứng
rộng, chống chịu sâu bệnh tốt, hoa đẹp, năng suất cao (Van Tuyl.J.M,
cây đứng thứ tư trong các cây hoa cắt ở Hàn Quốc (Kim.Y, 1996)[35]; năm
2003 Hàn Quốc xuất khẩu hoa Lily sang Nhật giá trị khoảng 10 triệu USD,
nhập khẩu giống từ Hà Lan trị giá khoảng 4 triệu USD (Rhee, 2005)[35].
Hàn Quốc có 11 loài Lily nội địa, trong đó 8 loài L.concolor var pulchellum,
L.callosum,L.amabile,L.cernuum,L.lancifolium(L.tigrinum),L.leichtliniiuva
maximowiczii, L.pumilum và L. dauricum thuộc nhóm Sinomartagon và 3 loài
L.hansonii, L. tsingtauense và L.distichum thuộc nhóm Martagon. Diện tích
trồng Lily tăng, năm 1985: 32ha, năm 1992 là 223ha, trong đó giống
L.longiflorum, chiếm 55%; lai châu Á và lai phương Đông chiếm 37%, 8% là
các nhóm khác. Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắm và cũng là
một trong những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á, mỗi
năm nhập khẩu hoa giá trị khoảng 500 triệu USD. Hoa Lily đứng ở vị trí thứ
tư trong các loài hoa ở Nhật. Hiện nay diện tích trồng hoa Lily của Nhật Bản
khoảng 550ha (Okazaki.K, 1996)[39]. Lily phân bố ở nhiều vùng, mỗi vùng
có những đặc trưng riêng: vùng Kagoshima sản xuất giống L.longiflorum,
vùng Niigata và Hokkaido sản xuất giống lai châu Á, vùng Toyama sản xuất
giống speciosum, Giống Stargazer và Casa Blanca không những được ưa
chuộng ở Nhật mà còn nổi tiếng trên thế giới. Sản xuất củ giống ở Nhật chủ
13
yếu là loài L.longiflorum với diện tích 180ha, cung cấp khoảng 20 triệu củ
giống cho thị trường.
Ngoài các nước kể trên còn có nhiều nước khác trên thế giới trồng
Lily, như: Mỹ, Đức, Pháp, Canada, Israel, Úc, Chi Lê, Mêhicô, Côlômbia,
NewZeland, Thái Lan, Singapore, Ma lai xi a
* Một số đặc điểm chung của ngành sản xuất hoa trên thế giới
Đặc điểm cơ bản của ngành sản xuất hoa tiên tiến trên thế giới là tạo
lập cơ chế chính sách, đầu tư, hỗ trợ đồng bộ, thoả đáng, để thúc đẩy sản xuất
phát triển.
Có sự hợp tác chặt chẽ giữa các công ty tư nhân và người sản xuất. Bên
Năm 1928, Nhật Bản bắt đầu có những nghiên cứu đầu tiên về Lily, đó
là nghiên cứu về lai giống giữa L.formosanum và L.longiflorum. Sau đó mở
rộng nghiên cứu ra nhiều lĩnh vực khác, như: giải quyết hiện tượng bất dục do
lai xa khác loài, nuôi cấy mô, nuôi cấy noãn sào trong môi trường dinh dưỡng
cơ bản – MS (Murashige and Skoog, 1962)[33].
Từ đầu thập niên 1990 nghiên cứu sản xuất giống lai khác loài Lily đã
được tiến hành ở Hàn Quốc (Rhee, 2002)[35]. Hiện nay Hàn Quốc đang tập
trung nghiên cứu sản xuất giống sạch bệnh vi rút, nghiên cứu sản xuất kết hợp
quản lý dịch hại, khắc phục bệnh sinh lý để đưa vào trồng trọt.
1.6. Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam
1.6.1. Tình hình sản xuất hoa Lily ở Việt Nam
* Tình hình sản xuất hoa Lily trong nước
So sánh với chủng loại hoa khác thì sản xuất hoa Lily ở nước ta chiếm
một tỷ lệ thấp về cả diện tích và số lượng.
Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng hoa Lily nhiều nhất so với
các địa phương khác trong cả nước, chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng
hoa. Tình hình phát triển hoa Lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, do có điều kiện ngoại
cảnh phù hợp cho sự phát triển của các giống hoa. Hơn nữa Đà Lạt có kỹ thuật
15
trồng hoa Lily cao hơn những vùng khác, nên hoa sinh trưởng phát triển tốt, chất
lượng hoa đồng đều. Lily là một trong những loại hoa đem lại hiệu quả kinh tế
cao cho một số công ty hoa ở Đà Lạt. Ở đây có một công ty nước ngoài đầu tư
sản xuất hoa Lily từ năm 1994, diện tích trồng hoa Lily khoảng 4 ha, mỗi năm
cung cấp cho thị trường 3 triệu cành.
Hiện nay, một số tỉnh miền núi phía Bắc, như: Lạng Sơn, Sơn La, Bắc
Kạn, Hoà Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Thái Nguyên đã
tiến hành sản xuất một số giống Lily thương mại: Tiber, Lily thí nghiệm,
Siberia, Acapulco, Stargazer, Yelloween, Starfighter nhưng mới ở quy mô
thử nghiệm nhỏ, chưa đưa ra sản xuất đại trà.
nhập cao, nhưng cũng gặp khá nhiều rủi ro và phụ thuộc nhiều vào điều kiện
tự nhiên.
- Các giống hoa chủ yếu nhập nội từ nước ngoài, bằng nhiều con đường
khác nhau, nhưng chủ yếu lại bằng con đường không chính thức nên rất khó
khăn cho việc quản lý chất lượng giống, bị động sản xuất, giá thành sản phẩm cao.
- Chưa có sự chỉ đạo thống nhất, sản xuất thiếu tính đồng bộ.
- Diện tích ít, sản lượng thấp, chất lượng hoa chưa cao.
* Triển vọng của nghề trồng Lily ở nước ta
Hoa Lily mới phát triển mấy năm gần đây ở nước ta nhưng đã được
nhiều người yêu thích, thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng.
Hiện nay, ở Việt Nam, Lily được xếp vào loại hoa cao cấp, thường đắt
hơn 10-15 lần so với các loại hoa thông thường như: cúc, hồng, cẩm chướng,
chỉ đắt sau phong lan và địa lan (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004)[6].
Với nhu cầu tiêu thụ hoa của thị trường như trên, Việt Nam có nhiều cơ
hội để sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ hoa ở trong nước và trên thế giới.
1.6.2. Tình hình nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam
1.6.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống hoa Lily
Việt Nam có 2 loài Lilium hoang dại: L.browii F.E. Brown var.
Cochesteri Wils mọc trên núi đá, các đồi cỏ ở Bắc Thái, Cao Lạng (nay là tỉnh
17
Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và Lạng Sơn) và loài L.poilaneigag.nep
xuất hiện ở đồi cỏ Sa Pa-Hoàng Liên Sơn (nay là tỉnh Lao Cai) (Võ Văn Chi,
Dương Đức Tiến, 1978 [3]; Lê Quang Long và CS, 2006)[11]. Tuy nhiên, các
giống Lily trồng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được nhập nội từ Hà Lan, Đài
Loan hoặc Trung Quốc. Nghiên cứu về hoa Lily tập trung ở một số hướng:
khảo nghiệm để lựa chọn được những giống nhập nội phù hợp với điều kiện
sinh thái từng vùng; nghiên cứu sản xuất củ giống bằng kỹ thuật in vitro, nuôi
cấy bioreator
Nghiên cứu khảo nghiệm hoa Lily được thực hiện ở nhiều vùng phía