Hoạt động thu hút khách nội địa đến du lịch phú yên thực trạng và giải pháp luận văn ths du lịch - Pdf 30



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THIỀU THỊ THÚY
HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH NỘI ĐỊA ĐẾN
DU LỊCH PHÚ YÊN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ MẠNH HÀ Hà Nội, 2015

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Bố cục của luận văn 3
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT
ĐỘNG THU HÚT KHÁCH NỘI ĐỊA TỚI ĐIỂM ĐẾN 4
1.1. Khách và điểm đến du lịch 4
1.1.1. Khách du lịch 4
1.1.2. Điểm đến du lịch 6
1.2. Hoạt động thu hút khách nội địa tới điểm đến 15
1.2.1. Khái niệm hoạt động thu hút khách du lịch 15
1.2.2. Hoạt động thu hút khách nội địa tới điểm đến của ngành Du lịch
địa phương 15
1.2.3. Hoạt động thu hút khách nội địa tới điểm đến của các doanh nghiệp
du lịch địa phương 18
Tiểu kết chương 1 20
Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH NỘI ĐỊA
TỚI DU LỊCH PHÚ YÊN 21
2.1. Điểm đến du lịch Phú Yên 21
2.1.1. Các yếu tố cơ bản của cung du lịch Phú Yên 21
2.1.2. Các yếu tố cơ bản của cầu du lịch nội địa về điểm đến Phú Yên 43
2.2. Hoạt động thu hút khách nội địa tới Phú Yên 47

2.2.1. Hoạt động thu hút khách nội địa tới Phú Yên của ngành du lịch Phú
Yên 47
2.2.2. Hoạt động thu hút khách nội địa tới Phú Yên của các doanh nghiệp
du lịch địa phương 52
2.2.3. Đánh giá chung 55
2.3. Phân tích SWOT du lịch Phú Yên 58
2.3.1. Điểm mạnh - S 58
2.3.2. Điểm yếu - W 58

STT Viết tắt Nguyên văn
1 CSHT Cơ sở hạ tầng
2 CSVCKT Cơ sở vật chất kỹ thuật
3 DV Dịch vụ
4 KDL Khách du lịch
5 NLCT Năng lực cạnh tranh
6 Sở VHTTDL Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch
7 SPDL Sản phẩm du lịch
8 TNDL Tài nguyên du lịch
9 TP Thành phố DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Danh mục bảng
Bảng 2.1: Số lượng cơ sở lưu trú tại Phú Yên giai đoạn 2000 – 2013 38
Bảng 2.3: Doanh thu du lịch nội địa tại Phú Yên giai đoạn 2000 – 2013 44
Bảng 2.4: Kết quả đánh giá về hàng hóa dịch vụ du lịch 46
Bảng 2.5. Phân tích SWOT ngành du lịch Phú yên 61

Danh mục biểu
Biểu đồ 2.2: Lượng khách nội địa đến Phú Yên giai đoạn 2000 – 2013 43
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phú Yên là một tỉnh duyên hải Nam Trung bộ được thiên nhiên ưu đãi nhiều
danh lam thắng cảnh cấp quốc gia như gành Đá Đĩa, đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài,
đầm Ô Loan v.v., nhiều di tích lịch sử quốc gia và lễ hội đa dạng để phát triển du
lịch. Tuy nhiên, hiện tại số lượng khách du lịch đến Phú Yên vẫn còn khá khiêm

• Ở Việt Nam: Vấn đề thu hút khách du lịch tới điểm đến đã được nhiều học
viên lựa chọn là luận văn tốt nghiệp như đề tài: “Một số giải pháp thu hút khách du
lịch Úc đến Việt Nam” của tác giả Lê Thị VânAnh, thực hiện năm 2013, đề tài
“Định hướng và giải pháp thu hút khách du lịch Trung Quốc đến tỉnh Lào Cai” của
tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải, thực hiện năm 2012, v.v Ngoài ra còn nhiều nghiên
cứu khác nhằm thu hút du khách tới một điểm đến hoặc một đơn vị kinh doanh đã
được thực hiện.
• Ở Phú Yên: Ngành du lịch Phú Yên đã được quan tâm phát triển, cụ thể đã
có những kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh như kế hoạch cho giai đoạn 2012 –
2015, định hướng 2020 tầm nhìn 2025. Nhiều hội thảo về du lịch như hội thảo
“Giải pháp kết nối điểm đến du lịch Phú Yên”, hội thảo về phát triển sản phẩm du
lịch (SPDL), bàn về SPDL đặc trưng, v.v Bên cạnh đó, cũng có một số đề tài
nghiên cứu về du lịch Phú Yên trên các khía cạnh về giải pháp phát triển hiện tại.
Tuy nhiên, chưa đề tài nghiên cứu cũng như chưa có giải pháp nào nhằm thu hút
khách nội địa đến Phú Yên.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
• Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đưa ra các giải pháp thu hút khách nội
địa đến du lịch Phú Yên.
• Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề về lý luận khoa học liên quan đến hoạt động thu hút
khách du lịch tới điểm đến.
- Đánh giá thực trạng hoạt động thu hút khách nội địa đến du lịch Phú Yên.
- Đưa ra các giải pháp nhằm thu hút khách du lịch nói chung, khách nội địa
nói riêng đến Phú Yên ngày một nhiều.
3

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thu hút khách đến nơi đến.

1.1. Khách và điểm đến du lịch
1.1.1. Khách du lịch
1.1.1.1. Khách du lịch
Có nhiều quan điểm cũng như khái niệm khác nhau về khách du lịch:
Khách du lịch (KDL) là người lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác
với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích như
nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao,
v.v
Theo luật du lịch Việt Nam, thì KDL: Là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
[Khoản 3, Điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt nam]
Như vậy, một người được gọi là KDL phải thỏa mãn 3 tiêu chuẩn:
- Rời khỏi nơi cư trú thường xuyên;
- Thời gian: hơn 24 giờ và dưới 1 năm;
- Có mục đích: nghỉ ngơi, tham quan, hành hương, tìm hiểu, khám phá, v.v.
trừ mục đích lao động kiếm tiền.
1.1.1.2. Khách du lịch nội địa
KDL nội địa là công dân của một nước đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ của
quốc gia đó.
KDL nội địa của Việt Nam: là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. [Khoản 2, Điều 34,
chương V, Luật Du lịch Việt nam]
1.1.1.3. Đặc điểm tâm lý khách du lịch nội địa
Theo tâm lý chung của khách du lịch Việt Nam, du lịch là một kỳ nghỉ sau
thời gian lao động vất vả, là thời gian để được làm “thượng đế”. Bởi thế, họ có một
số những đặc điểm tâm lý sau:
5

- Không chấp nhận những chuyến đi có cường độ cao, di chuyển và vận động
quá nhiều.

Công nhân xí nghiệp, nhân viên công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Vừa tham
gia chương trình du lịch, vừa thực hành các hoạt động phong trào gắn kết nội bộ,
chịu chi phí ngoài chương trình nhiều, luôn mong muốn và yêu cầu nhà tổ chức
chương trình du lịch và hướng dẫn viên phải chuyên nghiệp và có kế hoạch chuẩn bị
thật chi tiết.
1.1.2. Điểm đến du lịch
1.1.2.1. Khái niệm điểm đến du lịch
Điểm đến du lịch là một phạm vi cụ thể mà trong đó du khách ở lại ít nhất
một đêm và chứa đựng các SPDL như các dịch vụ (DV) bổ trợ và các điểm hấp dẫn,
các nguồn lực du lịch với ranh giới địa lý và hành chính xác định bởi quản lý, hình
ảnh, nhận thức của cạnh tranh thị trường. (UNWTO, 2003)
Như vậy, điểm đến du lịch có thể được xác định bằng nhiều cách: hoặc theo
ranh giới quản lý hành chính của một địa phương, vùng lãnh thổ, hoặc theo vùng
địa lý, hay theo thị trường… nhưng phải chứa một mức độ phát triển du lịch đủ lớn
có thể thoả mãn nhu cầu của du khách.
Sự hấp dẫn và trải nghiệm điểm đến được hình thành bởi các yếu tố: sức hấp
dẫn du lịch, các tiện nghi công cộng và cá nhân, khả năng tiếp cận, nguồn nhân lực,
hình ảnh và đặc điểm, giá cả. Như vậy, sự hấp dẫn của một điểm đến du lịch phụ
thuộc vào các yếu tố của cung và cầu du lịch điểm đến.
1.1.2.2. Các yếu tố cơ bản của cung du lịch điểm đến
(i) Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch (TNDL) là yếu tố cơ bản nhất tạo ra sức hấp dẫn điểm
đến, tạo động lực ban đầu cho khách du lịch tới điểm đến.
Theo Luật Du lịch Việt Nam thì TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự
nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các
giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố
cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
[Khoản 4, điều 4, Luật Du lịch 2005]
Theo nghĩa thông dụng nhất, có thể hiểu TNDL là một dạng đặc sắc của tài
nguyên trên trái đất. Nó bao gồm các thành phần và những kết hợp của điều kiện,

chi phí thấp nhất.
8

Trong khi đó, DV vận chuyển nhằm đưa khách từ nơi cư trú đến các điểm du
lịch và ngược lại, giữa các điểm du lịch và trong phạm vi một điểm du lịch. Để thực
hiện DV này, người ta có thể sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác nhau
như máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, ô tô, phương tiện vận chuyển thô sơ như xa trâu, xe
ngựa, xe bò kéo v.v
Như vậy, hệ thống giao thông và phương tiện vận chuyển là yếu tố cơ bản
nhất tạo ra sự thuận tiện tiếp cận điểm đến. Hệ thống giao thông càng đầu tư phát
triển, phương tiện vận chuyển du lịch càng phong phú đa dạng thì điểm đến càng
tạo nên sức thu hút mạnh mẽ đối với du khách.
(iii). Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
CSVCKT du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và tổ
chức thực hiện tiêu dùng SPDL và cung du lịch. Mức độ khai thác tiềm năng du lịch
để tạo ra SPDL và sự đáp ứng các nhu cầu du lịch, tức là tạo ra cung du lịch, phụ
thuộc rất nhiều vào CSVCKT du lịch. CSVCKT du lịch là yếu tố cơ bản nhất tạo ra
tiện nghi sinh hoạt cho du khách. Chính vì vai trò quan trọng như vậy nên sự phát
triển ngành Du lịch, sự hình thành cung du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây
dựng và hoàn thiện CSVCKT.
CSVCKT du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào
việc tạo ra và tổ chức thực hiện cung du lịch nhằm đáp ứng cầu du lịch. Như vậy
ngoài những cơ sở vật chất chuyên ngành Du lịch như khách sạn, nhà hàng, các khu
nghỉ tổng hợp, các phương tiện vận chuyển du lịch và các trang thiết bị du lịch
khác, còn có một phần CSVCKT của ngành khác như giao thông, thương nghiệp,
văn hóa, y tế, bưu điện, DV công cộng v.v. tham gia vào quá trình tạo cung du lịch.
• Cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống
Là yếu tố đảm bảo cho KDL có nơi ăn, nghỉ trong quá trình thực hiện chuyến
du lịch. KDL có thể chọn một trong các khả năng nghỉ ngơi tại khách sạn, nhà trọ,
nhà nghỉ, nhà người quen, lều trại và các hình thức tương tự khác. Để thỏa mãn nhu

khả năng cung cấp các SPDL cho khách, từ đó tác động đến việc xây dựng và phát
triển thành công ngành Du lịch của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương và
từng điểm tham quan du lịch.
10

(iv). Nhân lực du lịch tại địa phương
Nguồn nhân lực du lịch chính là động lực phát triển du lịch của một địa
phương vì những lý do: Thứ nhất, SPDL hầu hết là sản phẩm DV, chất lượng sản
phẩm tạo ra của ngành du lịch lại rất khó đo lường, hiệu quả sản phẩm chủ yếu
được đánh giá bằng sự trải nghiệm, vì thế, việc tạo ra một đội ngũ lao động của
ngành được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp… là hết
sức quan trọng; thứ hai, thực hiện những công việc để tạo ra và ghép nối các yếu tố
tạo cung du lịch đòi hỏi phải có nguồn nhân lực du lịch. Có thể nói nguồn nhân lực
là chủ thể tạo ra các yếu tố cấu thành cung du lịch (trừ tài TNDL thiên nhiên không
do nhân lực du lịch tạo ra, nhưng được bàn tay con người vun đắp, tu bổ, hoàn thiện
và phát triển) và phối hợp các yếu tố để tạo ra cung du lịch.
Như vậy, chỉ có thể tạo ra cung du lịch nói riêng và phát triển du lịch nhanh,
bền vững nói chung trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và toàn diện, phục vụ tích
cực cho sự phát triển kinh tế xã hội, nếu có một đội ngũ nhân lực du lịch chất lượng
cao, số lượng đủ, cơ cấu hợp lý và có trách nhiệm cao với ngành, với đất nước, gồm
đông đảo những công nhân, nhân viên lành nghề, những nhà khoa học, công nghệ
du lịch tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát,
những nhà lãnh đạo, quản lý tận tụy, biết nhìn xa trông rộng.
(v). Chính sách phát triển du lịch của địa phương
Chính sách phát triển du lịch của địa phương là nhân tố quan trọng tác động đến
quá trình phát triển ngành của một địa phương. Để địa phương thật sự trở thành một
điểm đến có sức thu hút, thì cần có hệ thống chính sách phát triển du lịch phù hợp bao
gồm chính sách dài hạn và chính sách cấp bách thể hiện trong chiến lược, quy hoạch,
các chương trình, đề án phát triển du lịch. Chính sách phải đảm bảo khuyến khích, huy
động tập trung nguồn lực, khai thác tối ưu tiềm năng, thế mạnh của địa phương mình;

khách. Như vậy, một điểm đến mà hàng hóa DV du lịch càng thỏa mãn được mong
muốn của du khách cho chuyến đi thì càng có khả năng gia tăng lượng cầu.
Tuy nhiên, việc lựa chọn và xây dựng hệ thống hàng hóa và DV du lịch đáp
ứng được nhu cầu của du khách cần dựa trên nền tảng của nội dung và cơ cấu của
cầu du lịch, bao gồm:
12

• Cầu du lịch về dịch vụ
- Cầu du lịch về DV chính: là nhóm cầu du lịch về DV vận chuyển và cầu về
DV lưu trú và ăn uống của khách du lịch.
Cầu du lịch về DV vận chuyển đảm bảo sự di chuyển tất yếu từ nơi ở thường
xuyên của khách du lịch đến các điểm tham quan du lịch và ngược lại, cũng như
việc đi lại tại các điểm tham quan du lịch của khách. Bản chất của du lịch là sự di
chuyển. Do vậy, cầu du lịch về vận chuyển đóng vai trò quyết định. Trên thị trường
du lịch, cầu về DV vận chuyển luôn được đặc ra đầu tiên. Có đáp ứng được nhu cầu
về DV vận chuyển mới có cơ sở để thực hiện các cầu khác trong chuyến đi du lịch.
Ăn uống, lưu trú mặc dù không phải là mục đích của chuyến đi, nhưng do
tính chất tự nhiên của nhu cầu sinh lý, cầu về DV lưu trú và ăn uống chiếm phần
đáng kể trong tổng chi tiêu của khách du lịch và có ý nghĩa xác định phần còn lại
của cầu trong du lịch và đảm bảo chất lượng của chuyến đi du lịch. Tuy vậy, cầu về
DV lưu trú và ăn uống trong chuyến đi du lịch có những nét khác biệt so với cầu ăn
uống và lưu trú tại nơi ở thường xuyên của con người. Trong khi ăn, ngủ tại nhà chỉ
là nhu cầu thiết yếu hàng ngày, đảm bảo cho sự tồn tại của con người theo quy luật
trong môi trường và khung cảnh quen thuộc, thì nhu cầu về lưu trú và ăn uống trong
khi di chuyển địa điểm và ở nơi tham quan du lịch, là đòi hỏi không chỉ đáp ứng
nhu cầu sinh hoạt thiết yếu mà còn là một sự khám phá, thưởng thức của KDL trong
mỗi chuyến đi. Từ đặc trưng này của cầu du lịch, các cơ sở lưu trú và ăn uống cần
chú ý nhiều hơn đến việc phục vụ KDL bằng những DV lưu trú, món ăn, đồ uống
thể hiện những đặc sản riêng có của mình, của địa phương mình hơn là phục vụ họ
bằng món ăn, đồ uống của họ.

lưu niệm hầu như chỉ xuất hiện và đáp ứng trên thị trường du lịch. Đáp ứng tố cầu
về hàng lưu niệm sẽ mang lại hiệu ứng quảng bá, quảng cáo cao, hình thành cầu về
tham quan điểm du lịch, khôi phục ngành nghề thủ công truyền thống sản xuất hàng
lưu niệm và tạo khả năng xuất khẩu tại chỗ.
- Cầu du lịch về hàng hóa có giá trị kinh tế đối với KDL: trong quá trình đi
du lịch, KDL thường kết hợp mua các hàng hóa có giá trị kinh tế cao. Cầu du lịch
về hàng hóa có giá trị kinh tế cao xuất phát từ nhu cầu mua sắm phục vụ cho bản
than và gia đình của KDL. Nhưng trong những trường hợp nhất định, có những
14

KDL kết hợp mua những hàng có giá trị kinh tế, giá cả rẻ hơn so với nơi thường trú
của họ để bán nhằm trang trải chuyến đi hoặc mục đích sinh lợi.
Cầu du lịch về hàng hóa là một bộ phận cấu thành trong cầu du lịch nhằm
thỏa mãn nhu cầu về tình cảm, để ghi lại dấu ấn về chuyến đi hay đáp ứng nhu cầu
khác. Cầu du lịch về hàng hóa giữ vai trò quan trọng trong một chuyến du lịch, là
một yếu tố làm cho tour du lịch thêm sinh động, không bị nhàm chán, có tác động
quan trọng tạo nên một nhịp giãn cần thiết cho KDL.
Trên cơ sở đó, xét thấy một điểm đến du lịch có sức thu hút thì không chỉ
xây dựng cho mình hệ thống các hàng hóa và DV đầy đủ theo cơ cấu nhu cầu của
du khách, mà còn phải biến nó trở thành yếu tố đặc sắc, độc đáo mà KDL quan tâm
và yêu thích.
(iv). Hình ảnh du lịch của địa phương
Hình ảnh điểm đến du lịch là sự kết hợp các ý niệm, niềm tin, ấn tượng và
nhận thức của mỗi người về điểm du lịch [Baloglu, S., & McCleary, W. K. (1999)]
và do vậy là một trong những yếu tố cơ bản tác động đến quyết định lựa chọn điểm
đến của du khách.
Yếu tố độc đáo hoặc hình ảnh của một địa phương là rất quan trọng trong việc
thu hút du khách đến một nơi để du lịch. Sẽ không đảm bảo được một điểm đến tham
quan có tính hấp dẫn cao nếu không đạt được hiệu quả trong vấn đề tạo hình ảnh này.
Nhiều phương tiện khác nhau có thể được sử dụng để quảng bá hình ảnh điểm đến (ví

phương này.
1.2.2. Hoạt động thu hút khách nội địa tới điểm đến của ngành Du lịch địa
phương
Hoạt động thu hút khách nội địa tới điểm đến của ngành Du lịch địa phương
là tổng hợp các hoạt động nhằm giúp cho du khách biết đến, tạo sự dễ tiếp cận điểm
đến cho du khách trong nước để kích thích họ tới du lịch. Những công việc cụ thể
như sau:
• Thực hiện công tác xúc tiến du lịch
Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu marketing thì bản chất của hoạt
động xúc tiến du lịch điểm đến là quá trình truyền tin để cung cấp thông tin về sản
16

phẩm, về điểm đến nhằm thuyết phục khách lựa chọn sản phẩm cũng như lựa chọn
điểm đến cho chuyến du lịch của mình.
Theo quan điểm này, để thực hiện được mục tiêu xúc tiến du lịch điểm đến
cần phải sử dụng các công cụ xúc tiến. Theo các chuyên gia marketing thì hoạt động
xúc tiến bao gồm nhiều công cụ: quảng cáo, quan hệ công chúng, xúc tiến bán,
marketing trực tiếp, v.v. tuy nhiên, ở phương diện hoạt động thu hút khách du lịch
tới điểm đến của ngành Du lịch địa phương, thì một địa phương cần quan tâm nhất
đến công cụ quảng cáo.
Quảng cáo: là một hoạt động giới thiệu về điểm đến nhằm tới những thị
trường mục tiêu nhất định được thực hiện qua các phương tiện truyền thông và phải
trả tiền.
Mục tiêu của quảng cáo là mở rộng thị trường, giới thiệu sản phẩm, xây dựng
và củng cố thương hiệu điểm đến.
Một số phương tiện để quảng cáo: báo, tạp chí, truyền hình, truyền thanh,
quảng cáo ngoài trời, internet, thông qua các cuộc triển lãm, v.v
Theo Luật Du lịch Việt Nam xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền,
quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch (theo Khoản
17, Điều 4 Luật Du lịch).

các địa phương cần phải liên kết, hỗ trợ nhau phát huy lợi thế, khai thác các nguồn
lực một cách hợp lý. Liên kết du lịch cho phép khai thác những lợi thế tương đối
của nhau về TNDL, về hạ tầng, CSVCKT và các nguồn lực khác cho phát triển du
lịch, tạo ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn đối với các bên liên
quan, từ đó có thể thu hút được các nhà đầu tư, thu hút KDL đến mỗi địa phương.
Do vậy, đẩy mạnh hợp tác, liên kết xúc tiến, quảng bá du lịch là việc làm cần thiết
để tạo sức mạnh chung.
Liên kết du lịch được xác định là một giải pháp quan trọng giúp cho ngành
du lịch của các địa phương phát triển bền vững. Để việc liên kết thực sự đem lại
hiệu quả, ngành Du lịch của các địa phương cần phối hợp chặt chẽ nhằm khai thác
triệt để thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, biến các giá trị văn hóa truyền
18

thống thành sức mạnh thu hút du lịch, hướng tới một nền du lịch phát triển bền
vững và lâu dài.
• Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương
Cộng đồng địa phương là một nhân tố quan trọng góp phần vào việc phát
triển du lịch của một địa phương, tạo sức hút du lịch cho địa phương đó. Cộng đồng
địa phương có mối quan hệ mật thiết trong vấn đề khai thác TNDL để hình thành
nên các hoạt động, loại hình và SPDL. Việc phát triển du lịch có sự tham gia của
cộng đồng là quan điểm phát triển hợp lý ngày càng được xã hội quan tâm và
khuyến khích.
Sự tham gia của người dân vào các hoạt động du lịch sẽ không chỉ mang lại
lợi ích cho cộng đồng mà còn góp phần nâng cao chất lượng du lịch. Sự hiện diện
và tham gia của cộng dộng dân cư địa phương vào hoạt động du lịch nổi lên như
một nhân tố cần thiết để thu hút khách.
Như vậy, để một điểm đến thực sự có sức hút không chỉ có sự nỗ lực tham
gia của ngành Du lịch địa phương, các doanh nghiệp mà còn cần có sự tham gia của
cộng đồng địa phương điểm đến đó.
1.2.3. Hoạt động thu hút khách nội địa tới điểm đến của các doanh nghiệp du


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status