Tiểu luận học thuyết chính danh và ý nghĩa của nó đối với công tác tuyển chọn cán bộ ở nước ta hiện nay - Pdf 30

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, nền văn minh Trung Quốc
là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn
4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên
nhiều lĩnh vực khoa học. Có thể nói, văn minh Trung Quốc là một trong
những cái nôi của văn minh nhân loại. Bên cạnh những phát minh, phát kiến
về khoa học, văn minh Trung Quốc còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết
triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới.
Nho giáo của Khổng Tử được du nhập vào Việt Nam tư thời Bắc thuộc
và ảnh hưởng của nó vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay. Cùng với Phật giáo,
Lão giáo, Nho giáo của Không tử đã tác động, chi phối nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục,
luân lý… Không phải ngẫu nhiên mà một số nhà khoa học được giải thưởng
Nobel đã cho rằng, nhân loại muốn tồn tại được trong thế kỷ XXI, cần phải
tìm học triết lý của Khổng tử. Còn học giả William James Durant, trong cuốn
“The story of civilisation” đã nhận xét: Càng hiểu biết về Nho giáo và người
sáng lập ra Nho giáo là Khổng tử, chúng ta càng ngạc nhiên khi thấy những
lời giáo huấn của ông rất ít bị lỗi thời trước những tiến bộ như vũ bão của
khoa học và những biến đổi của thời thế.
Nói đến Khổng tử, nói đến Nho giáo người ta nghĩ ngay đến học thuyết
“Chính danh”. Giá trị học thuyết này là rất lớn, không những có ảnh hưởng
đến tư tưởng của người dân Trung Quốc qua hàng nghìn năm lịch sử mà còn
bám rễ vào các nền văn hoá của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Cho đến
nay nhiều tư tưởng, quan niệm về xã hội, con người, đạo đức, giáo dục… thể
hiện trong học thuyết “Chính danh” của Khổng giáo vẫn còn giá trị và mang
tính thời sự. Vì vậy, việc nghiên cứu và trao đổi về những ảnh hưởng của học
thuyết này trong xã hội ta hiện nay là việc làm cần thiết, hữu ích.

Trang 1
Một kho tàng kiến thức đồ sộ và rất có giá trị như thế nếu biết khai thác

và quy nạp và phương pháp so sánh đối chiếu Đồng thời kết hợp sử dụng
phương pháp tọa đàm, trao đổi ý kiến để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên
cứu.
5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
Về mặt lý luận và thực tiễn giúp cho chúng ta hiểu sâu về học thuyết
“Chính danh” của Khổng Tử, ý nghĩa trong cuộc sống xã hội ở nước ta hiện
nay, từ đó có cơ sở để làm luận cứ trong việc tuyển chọn, đào tạo và sử dụng
cán bộ trong giai đoạn hiện nay. Góp phần bác bỏ những quan niệm, luận điệu
sai trái, xuyên tạc sự thật về việc thực hiện “Chính danh” của Nhà nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu của đề tài:
Chương 1: Tư tưởng của Khổng Tử và nội dung học thuyết “chính
danh”.
1.1. Khái quát đặc điểm lịch sử xã hội Trung Quốc cổ đại.
1.2. Nho gia và tư tưởng của Khổng Tử.
1.2.1. Nho gia.
1.2.2. Tư tưởng Khổng Tử.
1.3. Những nội dung cơ bản của học thuyết “Chính danh”.
Chương 2: Những giá trị của học thuyết “chính danh” trong công tác
tuyển chọn cán bộ ở nước ta hiện nay.
2.1. “Chính danh” trong xã hội ta hiện nay.
2.2. Ý nghĩa của học thuyết “Chính danh” đối với công tác tuyển chọn
cán bộ ở nước ta hiện nay.

Trang 3
NỘI DUNG
Chương 1: TƯ TƯỞNG CỦA KHỔNG TỬ VÀ NỘI DUNG CỦA HỌC
THUYẾT “CHÍNH DANH”.
1.1 Khái quát đặc điểm lịch sử xã hội Trung Quốc cổ đại.
Sự phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc cổ đại là thời kỳ Xuân thu -

Do vậy, dân đã nghèo khổ, lại càng thêm nghèo khổ, nên như ở nước Tần
“thây người chết đầy đường”.
Về văn hóa, xã hội: Chữ viết xuất hiện sớm, hệ thống chữ tượng hình ra
đời có khả năng đồng hoá dân tộc. Văn hoá truyền thống: tác phẩm cổ xưa
như Kinh Thi, Kinh thư, kinh nhạc Văn học nghệ thuật: thơ ca nổi tiếng được
lưu hành nhiều trong dân gian.
Về khoa học kỹ thuật: người Trung Quốc để nhiều phát minh như thuốc
súng, la bàn, yên ngựa, xe cút kit, giấy
Chính thời đại lịch sử đầy biến động đó đã dẫn tới những thay đổi sâu
sắc về nhiều lĩnh vực, đã kích thích lòng người, khiến những người tài giỏi
đương thời tìm cách lý giải, tìm cách cứu đời cứu người. Điều đó đã làm nảy
sinh hàng loạt các nhà tư tưởng triết hoc trong giai đoạn này với nhiều học
thuyết khác nhau mà trong đó nổi bật nhất là các trường phái Nho gia, Mặc
gia, Đạo gia, Danh gia, Âm dương gia và pháp gia.
1.2. Nho gia và tư tưởng của Khổng Tử.
1.2.1. Nho gia.
Nho gia là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc
cổ đại. Người sáng lập ra đạo nho là Khổng tử (551 - 479 trước C.N). Người
kế tục nổi tiếng của Khổng Tử là Mạnh Tử (372 - 289 trước C.N) và Tuân Tử
(298 - 238 trước C.N).

Trang 5
Cơ sở hình thành triết học Nho gia từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng
góp của Chu Công Đáng, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội
loạn lạc, Khổng tử đã phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hoá và tích
cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì vậy mà người đời sau coi ông là
người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng lớn khác trên thế giới, người đời sau
không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng Tử một cách trực tiếp mà chủ yếu
qua các ghi chép của học trò ông. Khó khăn nữa là thời kỳ “đốt sách, chôn

bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy
từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị.
Nội dung cơ bản của Nho gia đó là một học thuyết chính trị nhằm cải
tạo xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo
cho được người cai trị kiểu mẫu và kiểu mẫu đó theo Nho gia là Quân Tử. Để
trở thành người quân tử, con người trước hết phải tự đào tạo, phải tu thân. Sau
khi tu thân xong người quân tử phải có bổn phận hành đạo. Đạo ở đây không
đơn thuần là đạo lý, Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân
tố đạo đức, và đạo ở đây bao chứa cả nguyên lý vận hành chung của vũ trụ,
vấn đề là những nguyên lý đó do Nho gia đề xướng và cần phải tuân theo.
Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ
mệnh trời. Còn “tiểu nhân” tức những người dân ngu dốt phải biết kính “thiên
tử” và phục tùng mệnh lệnh của “thiên tử”, dân đối với vua, theo đạo Khổng
phải coi như cha mẹ.
1.2.2. Tư tưởng Khổng Tử.
Khổng tử tên thật là Khổng Khâu tự là Trọng Ni, người làng Xương
Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay. Ông sinh năm 551 trước
công nguyên, đó là lúc mà xã hội Trung Quốc cổ đại loạn lạc, các vua chúa

Trang 7
chuyên tâm hưởng thụ hoặc chém giết nhau để xưng hùng, xưng bá. Đạo lý
nhân luân xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng. Thiện ác khó phân biệt.
Năm 33 tuổi, nước Lỗ loạn lạc Khổng Tử đến nước Tề, sau đó lại quay
về nước Lỗ, dạy học và nghiên cứu sách. Ông san định Kinh thi, Kinh thư,
Kinh dịch, Kinh lễ và soạn Kinh Xuân thu. Môn đệ của ông chép lại những
lời dạy làm thành bộ “Luận ngữ”. Ông hệ thống hóa những tri thức, tư tưởng
đời trước và quan điểm của ông thành học thuyết đạo đức - chính trị nổi tiếng,
gọi là Nho giáo.
Nội dung cơ bản của tư tưởng Khổng Tử gồm có 3 vấn đề cơ bản, đó là:
Thế giới quan, luân lý đạo đức và học thuyết “Chính danh”.

bọn thống trị hãy từ bỏ sùng bái quỷ thần, ra sức nghiên cứu chính sách cai trị
cho hợp lý (“Luận ngữ”, Nhan Uyên, 7).
Như vậy, trong quan điểm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có
những tính chất mâu thuẫn. Khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương
thời, ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn tự vận động, biến
hóa, không phụ thuộc vào mệnh lệnh của trời. Đó là yếu tố duy vật chất phác
và tư tưởng biện chứng tự phát, nhưng mặt khác, ông lại cho rằng Trời có ý
chí và có thể chi phối vận mệnh của con người, đó là một bước lùi trong tư
tưởng triết học của ông. Cũng như thế, một mặt Khổng Tử tuyên truyền sức
mạnh của quỷ thần, nhưng mặt khác, ông lại nhấn mạnh đến vai trò quan trọng
của hoạt động con người trong đời sống. Thực chất mâu thuẫn trong tư tưởng,
tâm trạng và thái độ của Khổng Tử là phản ánh những mâu thuẫn của đời sống
hiện thực thời bấy giờ.
Cùng với quan điểm về vũ trụ và con người, học thuyết về luân lý đạo
đức; chính trị xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi và là thể thống nhất
hữu cơ trong triết học của Khổng Tử trên tư tưởng “thiên nhân tương đồng”.
Những nguyên lý đạo đức căn bản nhất trong học thuyết đạo đức của Khổng

Trang 9
Tử là: nhân, lễ, trí, dũng… cùng với hệ thống quan điểm về chính trị, xã hội
như “nhân trị”, “Chính danh”, “thượng hiền”, “quân tử”, “tiểu nhân” của ông.
Trong những phạm trù đạo đức ấy của Khổng Tử, chữ “nhân” được ông đề
cập với ý nghĩa sâu rộng nhất. Nó được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy
định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ trong gia
tộc đến xã hội. Nó liên quan đến các phạm trù đạo đức, chính trị khác như một
hệ thống triết lý chặt chẽ, nhất quán, tạo thành bản sắc riêng trong triết lý nhân
sinh của ông.
Về tư tưởng chính trị Khổng Tử dựa trên tư tưởng đạo đức của ông. Ông
cho rằng chính phủ tốt nhất là chính phủ cai trị bằng “lễ nghĩa” và đạo đức tự
nhiên của con người, chứ không phải bằng vũ lực và mua chuộc. Ông đã giải

Ngữ… thì chỉ có quyển Luận Ngữ được xem là đáng tin cậy nhất vì những lời
phát biểu của Khổng tử trong sinh thời mà phần lớn là đàm thoại với học trò
của ông.
Do đâu mà Khổng tử đề ra học thuyết “Chính danh”? Trong thời đại của
mình, Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối ren, phức tạp của xã hội phong kiến
thời Chu. Xã hội mà tôn ti trật tự bị rối ren, đảo lộn. Ông lấy làm tiếc cái thời
đầu nhà Chu như Chu Võ Vương, Chu Công… sao mà thời đại tươi đẹp,
phong hóa tốt tươi đến thế! Ông nhìn thấy tình cảnh “tôi thí vua, con giết cha
không phải nguyên nhân của một sáng một chiều”. Mọi sự việc, nguyên nhân
đều có cái cớ của nó. Mà cái cớ này không tự dưng mà có, nó được tích tập
dần dần qua thời gian mà đến một thời điểm nào đó, thì sẽ xảy ra kịch tính
như trên. Kinh dịch có câu “Đi trên sương mà băng giá tới” (Lý sương kiên
băng chí) là thuận với lẽ diễn tiến tự nhiên của mọi sự vật.
Khổng tử thấy tình trạng xã hội thời ông hỗn loạn đến nỗi “tôi giết vua,
con giết cha” là tệ hại lắm rồi, nhưng ông là người không thích bạo lực, không
thích làm cuộc thay đổi triệt để để triệt tiêu cái tệ trên bằng bạo lực cho nên

Trang 11
ông mới đề ra học thuyết “Chính danh” nhằm để cải tạo xã hội, giáo hóa xã
hội dần dần. Bản tính ông thích ôn hòa, thích giáo huấn dần dần hơn là bạo
lực, mà bạo lực chưa chắc gì đã giải quyết triệt để cái tệ “tôi giết vua, con giết
cha” nói trên mà bất quá chỉ thay thế cuộc thí quân này bằng cuộc thí quân
khác hoặc vụ giết cha này bằng vụ giết cha khác. Bạo lực bất quá chỉ giải
quyết việc trước mắt, tức thời, chỉ trị được ngọn chứ làm sao trị được gốc của
tình hình trên, chỉ có cuộc cách mạng tư tưởng mới trị được gốc của cái tệ tôi
giết vua, con giết cha nói trên.
Khổng tử cho rằng mỗi vật và mỗi người trong xã hội đều có một công
dụng nhất định. Nằm trong mối quan hệ nhất định mỗi vật, mỗi người đều có
một địa vị bổn phận nhất định và tương ứng với nó là một danh nhất định. Mỗi
“danh” điều có tiêu chuẩn riêng. Vật nào, người nào mang “danh” nào phải

thì trước hết hãy bỏ binh lực, sau đó đến bỏ lương thực, nhưng không thể bỏ
lòng tin của dân đối với vua, nếu không, chính quyền xã tắc sẽ sụp đổ” (“Luận
ngữ”, Nhan Uyên, 7).
Nếu “việc chính trị, vua cai trị nước nhà mà biết đem cái đức mình bỏ
hóa ra, thì mọi người đều phục theo. Tuy như ngôi sao Bắc Đẩu ở một chỗ mà
có mọi vì sao chầu theo” (“Luận ngữ”, Vi Chính, 1). Ngược lại dân và bề tôi
đối với vua phải như đối với cha mẹ mình, phải tỏ lòng “trung” của mình đối
với vua. Ấy là “Chính danh”, là “phục lễ vi nhân”.
Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ “hiếu”
làm đầu và cha đối với con phải lấy lòng “từ ái” làm trọng. Trong đạo hiếu
của con với cha mẹ, dù rất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở “tâm thành kính”.
“Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là có hiếu. Nhưng loài
thú vật như chó ngựa người ta cũng nuôi được vậy. Cho nên, nuôi cha mẹ mà
chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật đâu” (“Luận ngữ”, Vi Chính, 7).

Trang 13
Trong việc trị nước như tu thân, học đạo sửa mình để đạt được đức
“nhân”, “lễ” được Khổng Tử rất mực chú trọng. Lễ ở đây là những quy phạm,
nguyên tắc đạo đức của nhà Chu. Ông cho rằng, do vua không giữ đúng đạo
vua, cha không giữ đúng đạo cha, con không giữ đúng đạo con…nên thiên hạ
“vô đạo”. Phải dùng lễ để khôi phục lại trật tự, phép tắc, luân lý xã hội, khiến
cho mọi người trở về với “đạo”, với “nhân” và trở thành “Chính danh”. Lễ ở
Khổng Tử là những phong tục, tập quán, những quy tắc quy định trật tự xã hội
và cả thể chế pháp luật nhà nước, như: sinh, tử, tang, hôn, tế, lễ, triều sinh, luật
lệ, hình pháp… Theo Khổng Tử, lễ quan hệ với nhân rất mật thiết. Nhân là
chất, là nội dung, lễ là hình thức biểu hiện của nhân. “Nhân là cái nền tơ lụa
trắng tốt mà trên đó người ta vẽ nên những bức tranh đẹp” (“Luận ngữ”, Bát
Dật, 8). Ông khuyên người “ta chớ xem điều trái lễ chớ nghe điều trái lễ, chớ
nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ” (“Luận ngữ”, Nhan Uyên, 1), thì khi đó
sẽ đạt được “nhân”, xã hội ổn định, vua tôi, cha con, anh em, chồng vợ… đều

Nhà nước ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên
nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không
phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được
nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không
phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng
và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Xã hội chủ nghĩa là đích đến của
sự phát triển, phồn vinh, công bằng, văn minh tiến bộ cho một xã hội trong
mối quan hệ cả về phát triển kinh tế với hoàn thiện văn hóa xã hội và bảo vệ
môi trường. Đó chính là việc thể hiện sự “Chính danh” của mình trên thế
giới.
Về kinh tế: Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình
thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước,

Trang 15
kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư
bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế hoạt
động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát
triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối
xử theo hình thức sở hữu; thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển
doanh nghiệp; tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh
nghiệp nhà nước; tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập
thể; Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh
nghiệp của tư nhân; thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước
ngoài.
Về tư tưởng văn hoá xã hội: Nhà nước xác lập cơ chế dân chủ đại diện
thông qua bầu cử và bãi miễn các đại biểu nhân dân vào các chính quyền dân
cử. Đồng thời nhà nước đã cụ thể hoá các chính trị, xã hội quyền tư do cá
nhân, tự do ngôn luận trong Hiến pháp. Nhà nước tạo điều kiện để nhân dân

ngay rằng, những việc làm của Đảng và Nhà nước là những việc làm chính
danh. Chính danh - ở phạm trù nhân sinh - là người nào mang danh nào (chiếu
theo hệ quy chiếu ngày nay là vị trí công tác, danh phận xã hội, gia đình) thì
phải thực hiện chức phận tương ứng. Đảng và Nhà nước đã làm nhiêu việc vì
dân vì sự phồn vinh của đất nước.
Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta đang đứng trước những thách thức lớn,
mà Đảng ta đã chỉ rõ 4 nguy cơ. Trong đó có nguy cơ về tệ tham ô, tham
nhũng, thoái hoá biến chất về đạo đức, phẩm chất của một bộ phận không nhỏ
cán bộ, Đảng viên lợi dụng chức quyền, sơ hở của pháp luật làm điều trái
phép, trái lương tâm sa hoa, lãng phí, làm mất đi thuần phong mỹ tục của dân
tộc, phai nhạt về mục tiêu lý tưởng, quan liêu xa rời quần chúng đang làm
ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp cách mạng của Đảng ta.

Trang 17
Vẫn còn diễn ra tình trạng cửa quyền, hách dịch, cố bày ra những thủ tục
hành dân, làm việc với dân theo kiểu ban ơn chứ không phải trách nhiệm… ở
những nơi đó không có chính danh công, viên chức Nhà nước và đương nhiên
trật tự kỷ cương bị bóp méo, gây bức xúc trong nhân dân. Đặc biệt gần đây
một số cá nhân có chức vụ trong tổ chức xã hội, tôn giáo như Nguyễn Văn Lý,
Lê Công định, Ngô Quang Kiệt… mà dư luận trong nước đã đề cập đến gần
đây, đã không vì “chính danh, định phận” đã rêu rao, xuyên tạc sự thật về
những gì mà Nhà nước và Đảng ta đã và đang thực hiện vì mục tiêu “dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
2.2. Ý nghĩa của học thuyết “Chính danh” đối với công tác tuyển chọn
cán bộ ở nước ta hiện nay.
Học thuyết “Chính danh” do đức Khổng tử phát kiến cách đây hơn 2.500
năm từ thời Trung Quốc còn đang ở chế độ phong kiến phân quyền với lòng
mong muốn của ông phục hồi lại chế độ, lễ lạc tốt đẹp của thời nhà Chu ban
đầu khi ông nhận thấy tình trạng xã hội khá lộn xộn, mất tôn ti trật tự. Ông
vốn là người khoan hòa, tuy có tư tưởng cách mạng như không thích chiến

thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương và chính sách lớn trong nội dung công
tác cán bộ của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đại hội toàn quốc lần thứ X của
Đảng đã nhấn mạnh: “Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh
chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham
nhũng, lãng phí ”, “Nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứng đầu tổ
chức các cấp, các ngành của hệ thống chính trị ”, "Đổi mới mạnh mẽ, triển
khai đồng bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển,

Trang 19
bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ ", "Xây dựng và
thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài…
(1)
Đảng ta rất chú trọng công tác tuyển chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ đủ
“đức và tài” phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Người cán bộ có “Chính danh” và mẫu mực thì nhân dân mới tin yêu,
nể phục. Đảng ta thực hiện đúng đắn nguyên tắc thống nhất lãnh đạo công tác
cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ
chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán
bộ. Làm tốt công tác quy hoạch và đào tạo nguồn cán bộ. Đánh giá, bồi
dưỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác
thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu. Đổi mới, trẻ hóa
đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục,
kế thừa và phát triển. Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và
quản lý. Xây dựng, chỉnh đốn hệ thống các học viện, trường và trung tâm
chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Mặt khác, trong tuyển chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ cần coi trọng
việc đổi mới cơ chế, chính sách, phương phức và lề lối làm việc. Mỗi cán bộ
trong tổ chức phải có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng,

chúng ta rằng “Muốn xã hội chủ nghĩa phải có con người xã hội chủ nghĩa”
(1)
Suy cho cùng thì “Chính danh” là làm cho mọi việc “ngay thẳng”,
“Chính danh” là làm việc không mờ ám, không che dấu sự thật hoặc bóp méo
sự thật. Tôi thiết nghĩ rằng, chúng ta còn phải tiếp tục nêu cao chính nghĩa,
tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên để phục
vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.
(1)
Hồ Chí Minh toàn tập tập 9, NXB. Chính trị quốc gia, HN,1997. trang 296.

Trang 21
KẾT LUẬN
Trong lịch sử tư tưởng phương đông nói chung cũng như trong lịch sử tư
tưởng Trung Quốc nói riêng, quan niệm danh phận con người và học thuyết
“Chính danh” của Khổng Tử là một trong những học thuyết xuất sắc. Nó
không chỉ có tác dụng và ý nghĩa nhất định đối với sự ổn định của trật tự
Trung Quốc đương thời mà còn có giá trị, ý nghĩa thiết thực đối với sự phát
triển xã hội hiện nay.
Việc Khổng tử nêu ra học thuyết “Chính danh” không phải là ý muốn
chủ quan của ông mà chính là sự phản ánh những nhu cầu tất yếu của điều
kiện khách quan, từ địa vị, lợi ích giai cấp nhất định. Thời đại của ông là thời
đại loạn lạc, trật tự kỷ cương đảo lộn, do vậy Nho giáo nói chung và Khổng
Tử nói riêng rất quan tâm đến vấn đề định danh trong xã hội.
Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế như đã nêu ở trên nhưng học thuyết của
ông đã trở thành một hệ thống lý luận đầu tiên và chặt chẽ về vấn đề này.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh, việc xác định danh phận rõ ràng là một điều hết sức cần thiết để mổi
người mỗi vị trí nổ lực rèn luyện đồng thời để loại bỏ những vị trí yếu kém

tin.
4. Giáo trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại - Trần Đình Hượu -
Nhà xuất bản giáo dục.
4. Tạp chí Văn hoá - Nghệ thuật, Hà Nội, số tháng 2/2003, bài “Nho giáo
trong tương lai văn hoá Việt Nam”
5. Tạp chí Triết học, số 8, tháng 11-2001 bài “Chúng ta kế thừa tư tưởng gì ở
Nho giáo” - Minh Anh.

Trang 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status