học thuyết ngũ hành và ý nghĩa của nó đối với y học cổ truyền phương đông - Pdf 23


 
Suốt mấy nghìn năm qua, kể từ khi ra đời, học thuyết Ngũ hành là một
trong những học thuyết quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến triết học Trung
Quốc nói riêng, triết học và văn hóa phương Đông nói chung. Không bao lâu
sau khi ra đời, nó đã chiếm vị trí nổi bật, chứng tỏ đó là một học thuyết nhất
quán, hoàn chỉnh không chỉ giải thích nguồn gốc và cơ cấu của vũ trụ, mà còn
góp phần vào giải thích những hiện tượng trong cuộc sống của con người.
Là một học thuyết phát triển mạnh ở phương Đông và tồn tại hàng
nghìn năm trong lịch sử, Ngũ hành phát triển vượt ra ngoài phạm vi triết học
và đặt dấu ấn đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Các nguyên lý
cơ bản của Ngũ hành đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xã
hội ở Trung Quốc và ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ xung quanh như: Việt
Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore
Trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, hôn
nhân, gia đình, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, quân sự, y học cổ truyền, v.v ).
Nghiên cứu học thuyết Ngũ hành để không chỉ khám phá một lý luận
độc đáo khi luận bàn về bản nguyên và cấu trúc của vũ trụ, mà còn thấy được
tính ứng dụng cao của nó trong nhiều lĩnh vực xã hội, thậm chí có lĩnh vực
trừu tượng, huyền bí như: thiên văn, lịch số, phong thuỷ…trong đó đặc sắc và
hữu dụng nhất, phải kể đến y học cổ truyền phương Đông vốn đã tồn tại hàng
nghìn năm nay.
Trong lĩnh vực y học, các quy luật của Ngũ hành đã đặt dấu ấn ở
phương pháp quan sát, quy nạp, tìm sự tương quan của hoạt động sinh lý, bệnh
lý các tạng phủ để chẩn đoán bệnh tật, tìm tính năng, tác dụng của thuốc và
tiến hành hoạt động bào chế thuốc. Kể từ khi xuất hiện Hoàng đế Nội kinh tố
vấn và với ảnh hưởng mạnh mẽ của tác phẩm này, nền y học Trung Quốc và
nhiều nước phương Đông khác có những bước tiến đáng khâm phục.
Học thuyết Ngũ hành vào Việt Nam từ rất sớm. Các nhà tư tưởng Việt
Nam tích cực tiếp nhận và vận dụng học thuyết này một cách sáng tạo trong
nhiều lĩnh vực, nhất là phát triển nền y học dân tộc cổ truyền cả trên phương

cầu của nhân dân về chữa bệnh bằng y học cổ truyền, đồng thời góp phần
khẳng định y học cổ truyền là một khoa học với các phương pháp phòng và
chữa bệnh có hiệu quả, thì việc nghiên cứu cơ sở triết học của nó, mà trước hết
là nghiên cứu học thuyết Âm dương - Ngũ hành, là rất cần thiết. Vì chính học
thuyết Âm dương - Ngũ hành là cơ sở lý luận để giải thích nguyên nhân, cơ
chế phát sinh bệnh học, điều trị học và phòng bệnh của y học cổ truyền.
Đề tài luận án Học thuyết Ngũ hành và ý nghĩa của nó đối với y học cổ
truyền phương Đông góp phần nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện học
thuyết Ngũ hành và vai trò của nó đối với y học cổ truyền phương Đông, qua
đó làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa việc bảo tồn và phát triển bằng cách
ứng dụng các tri thức y học cổ truyền trong việc phòng bệnh, chữa bệnh.

Từ thời cổ đại đến nay, với ý nghĩa thực tiễn khá sâu sắc của học thuyết
Ngũ hành và sự vận chuyển của nó để giải thích những hiện tượng tự nhiên, xã
hội và con người đã được nhiều nhà nghiên cứu phương Đông – trong đó có
Trung Quốc và Việt Nam quan tâm và đã thu được những kết quả to lớn cho
cuộc sống, đặc biệt là những kết quả nghiên cứu về học thuyết Âm dương –
Ngũ hành với y học cổ truyền phương Đông. Nội dung trên đã được thể hiện
trong khối lượng tài liệu to lớn của nhiều tác giả theo hai hướng: hướng triết
học và hướng y học.
Một là, theo hướng thứ nhất, có các công trình tiêu biểu: Đại cương
triết học Trung Quốc; Lịch sử triết học Trung Quốc của Hồng Tiềm - Nhiệm
Hoa - Uông Tử Tung (Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1957); Đạo của Trương
Lập Văn chủ biên, Hồ Châu - Tạ Phúc Chinh - Nguyễn Văn Đức dịch (Nhà
2
xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998). Triết giáo Đông phương của Dương
Ngọc Dũng - Lê Anh Minh (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh,
2003); Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan, Lê Anh Minh dịch
(Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006); Trung Quốc triết học sử đại
cương của Hồ Thích, Huỳnh Minh Đức dịch (Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin,

hành từ góc độ nghiên cứu lịch sử triết học Trung Quốc và phương Đông nói
chung. Có thể kể ra một số tác giả và công trình nghiên cứu tiêu biểu những
năm gần đây như: Nguyễn Đăng Thục với Lịch sử triết học phương Đông
(Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn 1961); Nguyễn Tài Thư (chủ biên) với Lịch sử tư
tưởng Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993); Cao Xuân
Huy với Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu (Nhà xuất
bản Văn học – Hà Nội, 1995); Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc do
3
Doãn Chính (chủ biên) (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997); Triết
lý phương Đông - Giá trị và bài học lịch sử của Doãn Chính (Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006); Lịch sử triết học Trung Quốc của Hà Thúc
Minh (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tập 1; 1999 tập 2)[67]; Từ
điển triết học Trung Quốc của Doãn Chính (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2009),v.v…Trong những tác phẩm kể trên, các tác giả đánh giá cao
vai trò và ý nghĩa của học thuyết Âm dương – Ngũ hành trong lịch sử phát
triển các tư tưởng triết học phương Đông, đồng thời coi nó là một trong các
dòng triết học quan trọng có từ thời kỳ “Bách gia chư tử”.
Hai là, theo hướng thứ hai, có những công trình nghiên cứu đề cập học
thuyết Âm dương – Ngũ hành trong mối quan hệ gắn bó với sự phát triển của
các khoa học và đời sống xã hội và con người như thiên văn học, dự đoán học,
nông học v.v… Trong lĩnh vực y học, học thuyết Âm dương - Ngũ hành đã
được các nhà tư tưởng và danh y nghiên cứu xưa nay đề cập hết sức rộng rãi
và sâu sắc. Từ đời Hán, ở Trung Quốc đã xuất hiện các bộ sách nổi tiếng như
Hoàng đế Nội kinh (chưa rõ tác giả); Thương hàn tạp bệnh luận; Kim Quỹ yếu
lược (của Trương Trọng Cảnh); Nạn kinh (của Tần Việt Nhận). Đây là những
tác phẩm lý luận y học đầu tiên của nền y học Trung Quốc cổ đại đã biết lấy lý
luận duy vật thô sơ là học thuyết Âm dương - Ngũ hành làm hệ thống lý luận
của y học. Dùng lý thuyết ấy để giải thích về mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên, quan hệ lẫn nhau giữa các tạng phủ trong thân thể và theo nguyên tắc
của quan niệm chỉnh thể đã phát minh được những vấn đề có quan hệ đến y

cuốn: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993);
Nguyễn Đức Sự với Cơ sở triết học của bộ Lãn Ông tâm lĩnh và hiện thực lịch
sử nước ta thế kỷ XVIII (Tạp chí Triết học số 1-1974) và Bước đầu tìm hiểu y
lý của Hải Thượng Lãn Ông qua tập: “Ngoại cảm thông trị” (Tạp chí Đông y,
số 110 -111, 1970); Trần Sĩ Nghi với Học thuyết thủy hỏa của Đại y tôn Hải
Thượng Lãn Ông (Tạp chí Đông y số 1, năm 1971); Nguyễn Văn Thọ với
Quan niệm về thận của Hải Thượng Lãn Ông đối chiếu với Tây y (tạp chí
Phương Đông, số 17, năm 1952); Trần Văn Giàu với Sự phát triển của tư
tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng 8 (Tập 1, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1973); Nguyễn Đình Phủ với các công trình: Tìm hiểu và ứng
dụng triết lý Âm dương, Nxb. VHDT, Hà Nội, 1998, và Tìm hiểu và ứng dụng
học thuyết Ngũ hành, Nxb. VHDT, Hà Nội, 2001 v.v Trong các tác phẩm và
các công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả đã đề cập đến học thuyết Âm
dương – Ngũ hành và đều cho rằng: học thuyết Âm dương – Ngũ hành là một
trong những cơ sở triết học quan trọng để hình thành thế giới quan duy vật
phương Đông, đồng thời cũng là cơ sở triết học chủ yếu để xây dựng lý luận y
học cổ truyền phương Đông. Chẳng hạn, Trần Văn Giàu viết: “Nước ta ở thế
kỷ XIX từ triều đình cho tới thứ dân, qua các tầng lớp Nho sĩ, từ trong sách vở
cho tới những phong tục tập quán, đâu đấu cũng thấy dấu vết ảnh hưởng của
thuyết Âm dương – Ngũ hành”[ 34,tr.212], hoặc Đỗ Tất Lợi viết: “Nghề làm
thuốc không thể vượt ra ngoài nguyên lý Âm dương – Ngũ hành… Việc điều trị
bệnh tật là sự lặp lại cân bằng Âm dương trong con người, giữa con người với
trời đất” [54, tr.16]; Trần Văn Thụy trong bộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh với
sự vận dụng những tư tưởng triết học thời cổ (Luận án Tiến sĩ Triết học 1996)
đã đề cập tới học thuyết Âm dương – Ngũ hành và coi đó là một trong những
tư tưởng triết học quan trọng của bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh; Phạm Công
Nhất trong Tư tưởng triết học về con người qua tác phẩm y học của Hải
Thượng Lãn Ông (Luận án Tiến sĩ triết học – 2001); Trần Thị Huyên với
Thuyết âm dương – ngũ hành với tác phẩm Hoàng đế Nội kinh và Hải Thượng
Y tông tâm lĩnh (Luận án Tiến sĩ 2002); Nguyễn Thị Hồng Mai với Tư tưởng

*978-+,* +'/0'12304+5+
Phạm vi nghiên cứu của luận án là nguồn gốc và nội dung cơ bản của
thuyết Ngũ hành; sự vận dụng học thuyết Ngũ hành vào y học cổ truyền Trung
Quốc và Việt Nam; không đi sâu nghiên cứu Ngũ hành với Thiên can, Địa chi,
tức ngũ vận lục khí và những lĩnh vực khác.
:;<#=#$!>;%#$%
:?@A3B304+'12304+5+
Luận án được thực hiện dựa trên thế giới quan và phương pháp luận
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là những nguyên lý về lịch sử Triết học, về
phép biện chứng duy vật; đồng thời sử dụng lý luận Triết học phương Đông về
Ngũ hành và lý luận y học cổ truyền phương Đông để hoàn thành mục tiêu và
nhiệm vụ của luận án.
:*C?+,D*5D+,* +'/0'12304+5+
Phương pháp luận chung
Vấn đề học thuyết Ngũ hành và sự ứng dụng nó trong y học cổ truyền
phương Đông được nghiên cứu theo phương pháp triết học lịch sử. Các nguyên
tắc phương pháp luận được quán triệt là quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể
và phát triển. Với phương pháp luận này cho phép nắm bắt và nhận thức các
khái niệm, phạm trù của học thuyết Ngũ hành được trình bày tương đối toàn
diện, chuẩn xác, như nó vốn có; việc khai thác tài liệu, thông tin phải thực hiện
6
phân tích phê phán một cách biện chứng, thấy được sự thống nhất và khác biệt
của luận đề mà các nhà triết học thời cổ đại Trung Quốc đặt ra và điều chỉnh,
bổ sung trong suốt quá trình phát triển của xã hội Trung Quốc; thấy được tính
không đồng nhất về giá trị của học thuyết đó trong những những lĩnh vực khác
nhau.
Các phương pháp cụ thể
Vấn đề nghiên cứu được tiếp cận và phân tích trên cơ sở phương pháp
lôgic và lịch sử kết hợp với phân tích và tổng hợp, khái quát hoá và hệ thống
hoá để thấy được nguyên lý Ngũ hành và những vấn đề y học cổ truyền có liên

Ngũ hành.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng
dạy môn lịch sử triết học phương Đông, môn y đức và đặc biệt là việc chẩn
đoán và hướng điều trị cũng như phòng bệnh, nâng cao sức khỏe con người.
7
TUUV
Luận án hệ thống hoá và có luận giải mới về sự ra đời và phát triển, đặc
trưng và nội dung của học thuyết Ngũ hành trong đời sống xã hội, trong y học
cổ truyền phương Đông; về những tư tưởng, quan niệm mà học thuyết kế thừa
thể hiện dưới các phạm trù, nguyên lý Ngũ hành; quan niệm về tạng tượng, cấu
tạo y sinh học cơ thể người; về sự tương quan giữa các yếu tố vật chất với cấu
trúc cơ thể người.
Luận án luận chứng tương đối đầy đủ về sự vận dụng sáng tạo học
thuyết Ngũ hành để phát triển tư duy triết học và phép dưỡng sinh, cuối cùng
là phương pháp chẩn đoán, điều trị theo y học cổ truyền theo nguyên lý Ngũ
hành, ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Trên cơ sở đó, luận án
làm sâu sắc hơn ý nghĩa của việc phòng bệnh, chữa bệnh nâng cao thể chất và
sức khỏe con người, góp phần kéo dài tuổi thọ một cách tích cực và cải tạo
giống nòi.
WG#$%
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục (đóng
riêng), luận án có 3 Chương, 10 tiết.
*C?+,
XY!%Z[
I\]
XYI\]
Xuất phát từ điều kiện kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa Trung Quốc cổ
đại đã hình thành và phát triển tư tưởng duy vật thô sơ với năm yếu tố Kim
Mộc Thủy Hỏa Thổ và tính biện chứng sơ khai với các quy luật của học thuyết
Ngũ hành.

gia với học thuyết Ngũ hành đã góp phần xây dựng thế giới quan mới, đưa ra
cách giải thích mới về xã hội, con người.
%Z!%Z[I\]

Học thuyết Ngũ hành nguyên thủy có từ bao giờ? Nội dung xưa nhất
của nó là gì? Hai câu hỏi này có thể trả lời như sau:
*^-+,0_.+Q*1_Ptư liệu tối cổ có ghi chép về Ngũ hành có lẽ là sách
Thượng Thư (hay Thư Kinh), nơi hai thiên: Cam thệ và Hồng phạm.
*^-`0a+Q*0PHọc thuyết Ngũ hành thời Xuân thu
Một là, Ngũ hành chỉ là năm loại vật chất thiết yếu trong sinh hoạt và
lao động của con người, như Hồng phạm đã viết. Quan điểm này được lập lại
trong Tả Truyện. Hai là, khi có thuyết ngũ hành tương khắc rồi, tất nhiên có
thuyết ngũ hành tương sinh. Nói chung, về thời đại của thuyết tương sinh,
phần đông học giả đều căn cứ thiên Thập Nhị Kỷ của sách Lã thị Xuân Thu và
thiên Nguyệt lệnh của sách Lễ ký. Ba là, vào thời Xuân thu, ngũ hành được kết
hợp thiên văn và lịch phổ để giải thích ảnh hưởng qua lại giữa thiên đạo và
nhân sự. Bốn là, sự phối hợp giữa ngũ hành, tứ phương, tứ thời, ngũ âm, 12
tháng, 12 luật, thiên can, địa chi và các con số để tạo thành một hệ thống vũ
trụ.
*^-*-b+c0d' 8e(^-f+5+P Học thuyết Ngũ hành tiếp tục
phát triển ở thời Chiến Quốc (475 - 221 trước Công nguyên), đời Tần (221 -
206 trước Công nguyên), đời Hán (206 trước Công nguyên - 23);
*^-405+PSự phát triển học thuyết Ngũ hành ở các ngành đời
Hậu Hán thể hiện các ngành sấm vĩ học, Nhân tướng học, Mệnh lý học y học
mà đặc biệt là bộ Hoàng đế nội kinh.
9
Sự phát triển của học thuyết Ngũ hành ở các ngành đời Hậu Hán, đời
Lưỡng Tấn (220 – 420), đời Tùy Đường (581-907), đời Tống (966-1127), đời
Nguyên (1271-1362), đời Minh (1368-1644), đời Thanh (1616-1912). Mỗi đời
đều có các nhà mệnh lý học, các nhà y học, các nhà tư tưởng duy vật có liên

bản của vũ trụ, trên cơ sở năm vật thể thân cận nhất với con người, mộc (gỗ,
cây, cối), hỏa (lửa), thổ (đất), kim (vàng, kim loại), thủy (nước).”
10
Ngũ hành là 5 biểu tượng, 5 giai đoạn, 5 vật chính, 5 khí, 5 đức, 5 trạng
thái của sự vận động phát triển.
e+*G-7: có tính chất thô cứng, hình thành mùa thu, khô khan, có
gió, lá rụng, là phương Tây và màu trắng. Hành này biểu hiện bên ngoài như
những quá trình thu gom tích lũy, năng lượng, tiền bạc, tài năng, đức độ, sức
mạnh, khối lượng, vật chất… Trong thời đại ngày nay Kim là sự học tập không
ngừng. Trong Phật học, Kim là “tinh tiến”. Tất cả các vòng Ngũ hành đều bắt
đầu từ tích Kim.
e+**1_: có tính chất giá lạnh, tượng trưng cho nước, tạo nên mùa
đông, là phương Bắc, có màu đen. Hành này biểu hiện bên ngoài như những
quá trình lan tỏa cái tinh túy thu góp mà giai đoạn Kim đã thực hiện được. Nó
lặng lẽ, từ tốn, thấm sâu, thử sai và sửa chữa.
e+*l': tượng trưng cho thực vật, có tính sinh trưởng, hình thành
mùa Xuân, là phương Đông, với màu xanh. Hành này là sự sáng tạo ra cái mới,
hoặc là một mô hình, một đối tượng, một quần thể, một tổ chức…Tính chất
của Mộc vô cùng mạnh mẽ và cứng rắn, đôi khi cũng rất mềm dẻo và uyển
chuyển.
e+*r2: có tính chất nón, tượng trưng cho lửa, hình thành mùa hạ,
chủ phương Nam và màu đỏ. Hành này có biểu hiện bên ngoài ở độ cao về số
lượng, mạnh về cường độ, ít sáng tạo, nhiều sao chép, thu nạp năng lượng từ
bên ngoài ít khắt khe. Biểu hiện ào ào, mãnh liệt, biến đổi nhanh về lượng.
e+**s: là hành chính của Ngũ hành, giúp cho các hành và các mùa
biến chuyển, nên nó được coi là vị trí trọng tâm của bốn mùa, hành mạnh vào
khoảng giữa mùa hạ và mùa thu, màu vàng. Hành này là quá trình lụi tàn của
Hỏa, sự xuống dốc, suy kiệt. Biểu hiện ra bên ngoài là nặng nề, chậm biến đổi,
cam chịu, chấp nhận…
Năm hành ấy nối tiếp nhau, xoay vòng vô tận, không ngừng không

vật cần có sự kềm chế để tạo sự quân bình. Đó là quy luật tương khắc tất yếu
tồn tại trong mọi sự vật.
“Tương” là quan hệ, tác động qua lại.
“Khắc” 克 có nghĩa là hàm ý ức chế, đối lập, bài xích, chế ước với nhau,
ngăn trở. [Còn gọi là “thắng”, đồng nghĩa với “khắc” 克 trong quy luật tương
khắc]
Ngũ hành tương khắc (tương thắng) là quá trình các yếu tố của ngũ
hành chế ước, bài xích, khắc chế lẫn nhau; hay là sự bài xích, chế ước, triệt
tiêu lẫn nhau giữa các hành chất. Trong đó Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim,
Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.
Ngũ hành tương sinh, bên Ngũ hành tương khắc,

trong có lồng tương khắc bao vòng ngoài tương
sinh
12
QUY LUẬT TƯƠNG THỪA. Thừa nghĩa là dư lấn át, thái quá, vượng,
thịnh quá. Quy luật Tương Thừa là quy luật khắc khác thườngPHành khắc quá
mạnh, vượng (thừa) nên quy luật khắc xảy ra một cách dữ dội.
QUY LUẬT TƯƠNG VŨ. Vũ là khinh lờn, không có sự kiềm chế, quy luật
khắc xảy ra trong trường hợp bất cập, suy yếu. Quy luật tương vũ là quy luật
hạn chế tương khắc.
Quy luật phản sinh là quan hệ một hành quá vượng gián tiếp sinh ra
một hành khác cũng vượng theo.
Quy luật phản khắc là quan hệ một hành quá vượng khắc mạnh (tương
thừa) làm hành bị khắc bất cập nên sinh ra hành con suy yếu không khắc lại
nổi hành vượng nói trên.
QUY LUẬT HỖN MANG, là sự tổng hợp tất cả các quy luật.
Ta xét một mô hình hỗn mang khi hai hành Mộc và Hỏa có chiều
ngược nhau: Mộc (suy) sinh ra Hỏa (vượng). Mô hình này như hình vẽ :
Ta có: 3 hành: MỘC, KIM, THỦY suy.

c02+(-x7n-6+'*/+,@?M*2-
- Học thuyết Ngũ hành đã không chỉ thể hiện thế giới quan duy vật chất
phác, mà còn thể hiện tư duy biện chứng trong việc nhận thức thế giới, xã hội
và con người: Học thuyết Ngũ hành đã giải thích quá trình hình thành, tồn tại,
phát triển thế giới qua sự phát triển năm hành chất. Nó vạch ra quá trình tác
động, phát triển các hành chất, trên cơ sở hai quy luật tương sinh và tương
khắc.
Tư tưởng “sinh, khắc” là tư tưởng đầu tiên về sự vận động biện chứng của
các sự vật của học thuyết Ngũ hành. Nó thể hiện một thế giới quan có tính cách
mạng và tiến bộ hơn so với quan niệm nguyên sơ trước đó về thế giới. Sự vận
động “sinh, khắc” còn thể hiện phương pháp luận mới, tiến bộ vì nó chỉ ra rằng các
sự vật, hiện tượng trong thế giới, xã hội, con người không đứng yên, không tĩnh
tại, mà luôn vận động, biến đổi và luân chuyển không ngừng.
Học thuyết Ngũ hành chỉ mang tính tiến hóa bằng sự lặp đi lặp lại, tuần
hoàn bên ngoài; do đó, nó không tạo phủ định của phủ định biện chứng, không tạo
ra sự biến đổi về chất bên trong, cho nên không tạo ra sinh khí cho sự vận động.
Học thuyết Ngũ hành do chỉ miêu tả sự vận động bằng một vòng tròn khép kín
không vẽ lên được sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng theo đường xoắn
ốc đi lên.
Về sự hạn chế của tính biện chứng sơ khai trong học thuyết Ngũ hành,
Đổng Trọng Thư đã có tư tưởng sau: “Ông xem quân đội và bộ máy trừng phạt
của nhà vua là biểu hiện của thế lực “Kim”, quần chúng nhân dân là biểu hiện thế
lực của hành “Mộc”. Cho nên chính phủ trấn áp nông dân bạo động là thể hiện
đúng theo quy luật “kim khắc mộc”. Tuy Đổng Trọng Thư đã cố gắng đưa ra
phương pháp các phạm trù “khí”, “âm dương”, “ngũ hành” v.v… để giải thích quy
luật biến hóa của thế giới, nhưng với quan điểm duy tâm thần bí. Ông lại cho rằng
tất cả những thứ ấy đều bị ý chí của Thượng đế chi phối, ý chí của trời thông qua
các thế lực “âm dương”, “ngũ hành” v.v…để chỉ huy giới tự nhiên và vận mệnh
loài người. Vì thế, triết học của ông mang đậm màu sắc mục đích luận. Đổng
14

Tình trạng
Năng lượng
nảy sinh mở rộng cân bằng thu nhỏ bảo tồn
Không khí
thời tiết
Ấm Nóng Ẩm Mát Lạnh
Thế đất Dài Nhọn Vuông Tròn Ngoằn
ngoèo
Quá trình
phát triển
sinh trưởng hóa thâu tàn
Vật biểu thanh long chu tước kỳ lân bạch hổ huyền vũ
Quả tử Mận Mơ Táo,
Chà là
Đào Hạt dẻ
Ngũ cốc lúa mì đậu gạo hạt gai
dầu
hạt kê
Thiên văn Mộc tinh
(Tuế tinh)
Hỏa tinh
(Huỳnh
tinh)
Thổ tinh
(Trấn
tinh)
Kim tinh
(Thái
Bạch)
Thủy

Thu Đông
Màu sắc Xanh đỏ vàng trắng đen
Mùi vị Chua đắng ngọt cay mặn
Khí hậu Phong thử thấp táo Hỏa
Ngũ âm Giốc Chùy Cung Thường Vũ
Ngũ hành biểu hiện trong lĩnh vực xã hội
,p*e+* l' r2 *s G-7 *1_
Thú nuôi Chó Dê cừu Gia súc
nói chung
Gà Heo
Thú loài
động vật
Có vảy Lông vũ Da nhăn Lông mao Mai cứng
Tân nhạc Mi Sol Đô Rê La
Ngũ đức Nhân Trí Tín Nghĩa Lễ
Ngũ chí
(xúc cảm)
Giận Mừng Lo Buồn Sợ
Tình cảm hô hào,
cổ súy
yêu
thương
thảo thơm luyến tiếc thủ thỉ,
yếu ớt
Thái độ giận dữ mừng rỡ,
vui
suy nghĩ buồn
thương
sợ hãi
16

Bào chế sao dấm sao
đường
mật
sao gừng sao
muối
Huyệt âm
kinh
tĩnh vinh sự kinh hợp
Huyệt
dương kinh
du kinh hợp tỉnh vinh
Ngũ sự hình
dáng
tướng mạo lời nói lắng nghe tư duy
Hành động nắm
chặt, co
quắp
nhăn nhó nôn ọe ho, hen run, sợ
GbQ304+'*C?+,
Xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội Trung Quốc cổ đại, nhân dân
Trung Quốc đã đấu tranh sinh tồn và phát triển. Các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ
sắt là cơ sở cho sự phát triển sản xuất, kinh tế, cuộc sống. Họ lần lượt khám
phá nước (thủy), lửa (hỏa), cây cối (mộc), rồi kim loại (kim), bao trùm là đất
(thổ) trong thực tế cuộc sống. Từ thực tế kinh nghiệm dần dần họ rút ra lý luận
17
về vật chất trong cuộc sống đều cấu tạo bởi năm thành tố vật chất cơ bản là
kim, mộc, thủy, hỏa, thổ và các sự vật này không tồn tại độc lập mà nó luôn
vận động không ngừng và chuyển hóa lẫn nhau tạo thế tồn tại cân bằng. Sự
vận động và chuyển hóa lẫn nhau luôn theo hai quy luật cơ bản là tương sinh
và tương khắc. Trên cơ sở hai quy luật cơ bản đó phát triển thêm năm quy luật

chờ đợi mùa xuân (khởi đầu Thiếu dương) để phát triển dương khí đem lại sức
sống. Dương khí ở nơi người chính là Thủy khí. Thủy khí là nguồn năng lực
tàng trữ trong con người, nhằm duy trì sự sống trong tình trạng Thái âm hủy
diệt. Thủy khí tương ứng với Thái âm, là do nguồn năng lực phát xuất từ thận,
do đó Thận có liên hệ nhiều đối với Thủy khí. “bắc phương sinh hàn; hàn sinh
ra hành Thủy, Thủy sinh ra vị hàm, hàm sinh ra Thận; Thận sinh ra cốt tủy; tủy
sinh ra Can (cứng), ở Tàng là Thận”.
,p*e+*8t-n-x0*-6+n6+*3BAQ9+,a7
18
Tiếp theo sự tương ứng ngũ hành và ngũ tạng là can mộc đó là tâm hỏa bởi
vì hành hỏa là hành chất thứ hai trong ngũ hành. Bởi nguyên lý “Thiên địa vạn vật
đồng nhất thể” nên ngũ hành có sự tương ứng với ngũ tạng, vì thế suy ra hành hỏa
mang tính “trưởng” trong năm giai đoạn phát triển “Sinh, trưởng, hóa, thu, tàng”;
đồng thời hành Hỏa tương ứng Tâm khí.
,p*e+*8t-n-x0*-6+n6+*3BAQ9+,2+
Đổng Trọng Thư trình bày thứ tự các hành chất của Ngũ hành : “Một là
Mộc, hai là Hỏa, ba là Thổ, bốn là Kim, năm là Thủy”. Vậy, hành chất đầu tiên
trong ngũ hành là Mộc và tương ứng năm giai đoạn phát triển là giai đoạn sinh.
Giai đoạn sinh tương ứng tính phát sinh của can khí trong cơ thể người.
Tính chất của hành chất Mộc tương ứng của tạng can ở tính chất cũng
là thời phát.
:,p*e+*8t-n-x0*-6+n6+*3BAQ9+,*b
Kim có nghĩa là kim loại. Kim có tính năng thu liễm. Trong lòng đất, đất
cát mềm, lâu ngày sẽ kết dính lại thành khoáng chất, trong chất có kim loại. Vậy
tương ứng ngũ hành là ngũ tạng Phế. “Tây phương sinh ra táo; táo sinh ra hành
kim, kim sinh ra tân, tân sinh ra Phế; Phế sinh ra bì mao, bì mao sinh ra Thận. Ở
trời là táo, ở đất là kim; ở thể là bì mao; ở khí là thành; ở Tàng là Phế; Tính của nó
là lương (mát), đức của nó là thanh (trong trẻo); công dụng của nó là trắng; hóa của
nó là liễm (thâu, liễm lại) thuộc về trùng là loài giới (loài có vỏ cứng bên ngoài
như trai, sò); chính của nó là Kinh (cứng cáp); lệnh của nó là vụ lộ (mù, móc); biến

đều là vật chất cực kỳ quan trọng, thận âm là gốc âm ngũ tạng, thận âm quan hệ
đến cân bằng âm dương toàn thân, vạch rõ bảo hộ thận âm (tinh) có vai trò quan
trọng số một trong khoa học sinh mệnh cơ thể người. Bảo hộ gồm có 2 ý nghĩa:
- Đối kháng hao tinh tức bế tinh, tức tránh phòng dục.
- Dùng thức ăn, thuốc bổ thận âm, luyện tinh dịch để bổ thận âm.
wƒ…2+*…@-+**r2„8t-Qa73e*r2Q9+,Tâm giữ chức phận chủ tể
trong toàn thân, nếu sáng suốt thì các tạng được yêu và được sống thọ. Giữ tâm
cho thanh, Thanh tâm là một yếu tố quan trọng cho thiền sinh.
wƒ* +Q27@-+*7l'„8t-'2+3eD*N+,Q9+, Cần bớt sự ham
muốn để không bị mất mình dẫn đến tức giận, tức giận dễ dẫn đến mắt mờ.
wƒ…2Q/@-+*G-7„8t-D*b3eQ9+,G-7Lấy khí, thu khí là biện pháp
quan trọng để bảo vệ khí của phế, có ý nghĩa quan trọng trong sinh mệnh học cơ
thể. Dương khí là một phương pháp dưỡng sinh.
wƒ* ++,p@-+*Q*s„ 8t-•3eQ*sQ9+, Giảm ăn để cho Tỳ vị
nghỉ ngơi, nghỉ ngơi để lành mạnh Tỳ vị. Vì thế, tiết chế ăn uống (tiết thực) là
một phương pháp dưỡng sinh.
*†+n6+*Q*‡N*O'Q*0_bQ,p*e+*
Tứ chẩn gồm 04 phương pháp khám bệnh (Vọng chẩn, Văn chẩn, Vấn
chẩn và Thiết chẩn) và dựa trên mối quan hệ tương sinh và tương khắc của
Ngũ hành để kết luận bệnh.
*q2n6+*Q*‡N*O'Q*0_bQ,p*e+*
Sau khi đã chẩn đoán đúng bệnh, biết được nguyên nhân do đâu, lien quan
đến tạng phủ nào, cơ quan bộ phận nào… Phân tích và tổng hợp được bệnh lý,
20
thầy thuốc có thể dung một hay nhiều y thuật cần thiết để chữa bệnh. Cơ sở y lý
của nền y học cổ truyền phương Đông đã được xây dựng trên nền tảng của triết
học phương Đông: Âm Dương và Ngũ hành, vì thế khi dùng y thuật nào đó cũng
cần lưu ý hai phương pháp: chữa bệnh theo Tiên thiên và chữa bệnh theo Hậu
thiên.
:O'Q*0_bQ,p*e+*8e'0l'(-v0Qz2Eˆ:n6+*5+Q9-G*N2

độ hiểu biết và khả năng vận dụng khá nhuần nhuyễn học thuyết Âm dương –
Ngũ hành trong thực tiễn chữa bệnh hằng ngày. Chỉ đến thế ký XVIII, khi bộ
Hải Thượng Y tông tâm lĩnh của Lê Hữu Trác xuất hiện thì thuyết Âm dương –
Ngũ hành mới thật sự được đề cập một cách sâu sắc toàn diện, có thể xem xét
được mọi vấn đề của y học đương thời với tư cách là một cơ sở triết học quan
trọng của y học. Ngoài ra ở thế kỷ 18 có nhiều nhà tư tưởng đã vận dụng học
thuyết Âm dương – Ngũ hành để trình bày quan điểm của mình, như Lê Quý
21
Đôn, Ngô Thì Nhậm, Bùi Dương Lịch v.v… Chẳng hạn, Lê Quý Đôn đã dùng
học thuyết Âm dương – Ngũ hành để chứng minh mối quan hệ giữa “khí” và
“lý”. Bùi Dương Lịch dùng Âm dương – Ngũ hành mà thuyết minh cho những
lẽ tử sinh, họa phúc, tai dị, v.v
GbQ304+'*C?+,
Học thuyết Ngũ hành là một học thuyết triết học lớn xuất phát từ thời
Trung Quốc cổ đại và hoàn thiện trong thời Xuân thu – Chiến quốc và thời Tần
Hán. Nó không chỉ có ý nghĩa về mặt triết học, tư tưởng là đưa ra cách giải thích
có tính duy vật chất phát với việc đưa ra năm yếu tố và đưa ra tư tưởng biện chứng
tự phát thể hiện ở chỗ sự vận động tương tác của năm hành chất là các quy luật
Ngũ hành: Ngũ hành tương sinh, Ngũ hành tương khắc, Ngũ hành tương thừa,
Ngũ hành tương vũ, Ngũ hành phản sinh, Ngũ hành phản khắc và quy luật hỗn
mang của Ngũ hành. Nội dung học thuyết Ngũ hành còn giải thích các đặc điểm
tính chất của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và con người. Đặc biệt,
học thuyết Ngũ hành còn giải thích về cơ cấu cấu tạo, đặc điểm cơ thể con người
có ý nghĩa trong y học cổ truyền phương Đông. Những ý nghĩa nổi bật của học
thuyết Ngũ hành đối với y học cổ truyền phương Đông là sự biểu hiện bệnh lý
người. Thông qua các biểu hiện của Ngũ hành chỉ ra bệnh lý của các tạng: Tâm,
Can, Tỳ, Phế, Thận liên quan đến: Hỏa, Mộc, Thổ, Kim, Thủy qua học thuyết
Tạng tượng. Nó còn có ý nghĩa trong dưỡng sinh, chẩn bệnh, trị bệnh.
Đặc biệt qua điều tra 504 bệnh án tại Khoa Y học cổ truyền của bệnh
viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho phép ta thấy bệnh lý của

thiện áp dụng trong cuộc sống.
Học thuyết Ngũ hành còn làm cơ sở lý luận cho các học phái khác nhau:
Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Tuân Tử, Lão Tử… đặc biệt là y học với quyển sách tổ là
Hoàng đế Nội kinh, vẫn còn giá trị như kinh điển của y học cổ truyền phương
Đông.
Học thuyết Ngũ hành đã ảnh hưởng sâu đậm trong y học, và sách Hoàng
đế Nội kinh có giá trị đối với nền y học cổ truyền. Nhưng riêng Lê Hữu Trác, với
tinh thần tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo, Cụ đã viết bộ Hải Thượng Lãn Ông Y tông
tâm lĩnh để lại nền lý luận đồ sộ cho y học cổ truyền Việt Nam.
Học thuyết Ngũ hành được xây dựng trên sự lao động sáng tạo của
nhân dân lao động thời Trung Quốc cổ đại, dần phát triển thành lý luận, bao
gồm nhiều nhà tư tưởng rồi trải qua thời gian rất dài kết hợp các tư tưởng khác
như kinh dịch, âm dương, tứ tượng, bát quái, 64 quẻ… đã tạo thành một nền
triết học Trung Quốc gốc là cấu hình tư tưởng Trung Quốc. Riêng học thuyết
Ngũ hành đã đóng góp về mặt nhận thức ở hai điểm tiến bộ là: (1) Nó nhận
thức thế giới ở dạng vật chất với năm thành tố cơ bản: kim, mộc, thủy, hỏa,
thổ. (2) Các dạng vật chất đó không đứng yên mà nó luôn vận động theo các
quy luật nhất định. Tuy còn ở dạng lý luận thô sơ và biện chứng chất phác,
nhưng Học thuyết Ngũ hành đã góp phần giải phóng con người ra khỏi thế giới
quan duy tâm và tư tưởng thần quyền tôn giáo.
Từ đó luận án rút ra những kết luận sau:
1. Từ sự vận dụng học thuyết Ngũ hành vào y học cổ truyền phương
Đông, thì hành thổ là hành trung tâm, có chức năng chi phối các hành còn lại.
2. Hành Thổ vận dụng vào học thuyết Tạng tượng là tạng Tỳ và tạng
Tỳ liên quan đến vấn đề ăn uống tiêu hóa. Mà ăn uống, tiêu hóa là yếu tố chính
cho toàn bộ sức khỏe con người.
3. Công trình nghiên cứu 500 bệnh án tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ
Chí Minh, cho nhận định các bệnh án các tạng đều có sự xuất hiện triệu chứng đầu
tiên là vấn đề ăn uống, tiêu hóa. Các vấn đề ăn uống – tiêu hóa: bỏ ăn, ăn nhiều
hoặc ăn ít hơn bình thường, không tiêu hóa, bị ói mữa hoặc chậm tiêu.

Tóm lại, học thuyết Ngũ hành là lý luận rất có giá trị từ xưa đến nay,
làm cơ sở cho nhiều ngành, đặc biệt là nền y học cổ truyền. Nó không bao giờ
mất đi mà nó hòa quyện với các tư tưởng khác nhau như Kinh Dịch, âm
dương, tứ tượng… tạo thành một cấu hình tư tưởng của phương Đông.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status