Học thuyết ngũ hành và ý nghĩa của nó đối với y học cổ truyền phương đông - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
   ĐOÀN NGỌC MINH
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI Y HỌC
CỔ TRUYỀN PHƯƠNG ĐÔNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố. Đoàn Ngọc Minh
Kết luận chương 1 … ………………………………………… 91
CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH TRONG TỰ NHIÊN, XÃ HỘI
VÀ CON NGƯỜI ……………. 94
2.1. Nội dung cơ bản của học thuyết Ngũ hành .…… 94
2.1.1. Những yếu tố cơ bản tạo nên Ngũ hành .…………… 94
2.1.2. Sự biểu hiện của Ngũ hành trong tự nhiên,
xã hội và con người …………………………………………….104
2.1.3. Những quy luật cơ bản của Ngũ hành …………….… 119
2.2. Cách giải thích mới về thế giới của học thuyết Ngũ hành…… 129

3
2.2.1. Quan điểm duy vật chất phác trong học thuyết Ngũ hành
về sự nhận thức và giải thích thế giới ……………… 129
2.2.2. Học thuyết Ngũ hành với quan điểm biện chứng sơ khai… 132
Kết luận chương 2 ……………………………………………… 134
CHƯƠNG 3 : Ý NGHĨA CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
VỚI Y HỌC CỔ TRUYỀN PHƯƠNG ĐÔNG ………… 136
3.1. Khái quát về y học cổ truyền phương Đông và ý nghĩa
việc vận dụng học thuyết Ngũ hành đối với y học cổ truyền
phương Đông ………………………………………………… 136
3.2. Những biểu hiện của học thuyết Ngũ hành trong
bệnh lý người ………………………………… ……… 142
3.2.1. Ngũ hành với biểu hiện bệnh lý ở tạng thận …… 143
3.2.2. Ngũ hành với biểu hiện bệnh lý ở tạng tâm ……… …… 144
3.2.3. Ngũ hành với biểu hiện bệnh lý ở tạng can … ………… 145
3.2.4. Ngũ hành với biểu hiện bệnh lý ở tạng phế 146
3.2.5. Ngũ hành với biểu hiện bệnh lý ở tạng tỳ …………… 147
3.3. Học thuyết Ngũ hành với phương pháp dưỡng sinh,
chẩn bệnh và chữa bệnh …………………………………… 148

Hồng Kông, Singapore Trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế,
chính trị, văn hoá, hôn nhân, gia đình, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, quân sự, y
học cổ truyền, v.v ).
Ngũ hành là biểu tượng của một trong hai nền văn minh Trung Hoa
xưa. Từ thời thượng cổ đến thời Xuân Thu (thế kỉ thứ VIII, trước công
nguyên), đất Trung Hoa chia làm hai miền khác nhau về phương diện chủng
tộc và văn hoá: lưu vực sông Hoàng Hà và lưu vực sông Dương Tử. Hoa tộc
miền Bắc đã tổ chức thành một liên bang phong kiến rộng lớn, gồm hàng trăm
chư hầu, dọc theo bờ sông Hoàng Hà; trong khi dân tộc lưu vực sông Dương
Tử thì sống rời rạc, chia thành nhiều tiểu quốc độc lập. Nhà Trung Hoa học
người Pháp, Marcel Granet (1884-1940), cho rằng, rất có thể nguyên nhân của
sự phát triển văn minh chính thức Trung Hoa là sự tiếp xúc của hai nền văn
minh chính yếu, một bên là văn minh vùng cao ráo của lúa kê, một bên là văn
minh vùng đồng thấp của lúa gạo. Học thuyết Ngũ hành - tinh hoa của văn

5
minh Hoa tộc miền Bắc, được làm giàu, phong phú thêm bởi sự dung hoà với
văn minh ma phương hay Lạc Thư của Tam Miêu hình thành Hà Đồ; Hà Đồ
ghép với Âm Dương của Việt tộc miền Nam với Bát quái và Kinh Dịch làm
thành nền tảng văn hoá Trung Hoa, để rồi trên mảnh đất ấy mọc lên nhiều cổ
thụ triết lý đặc sắc và sum suê.
Nghiên cứu học thuyết Ngũ hành để không chỉ khám phá một lý luận
độc đáo khi luận bàn về bản nguyên và cấu trúc của vũ trụ, mà còn thấy được
tính ứng dụng cao của nó trong nhiều lĩnh vực xã hội, thậm chí có lĩnh vực
trừu tượng, huyền bí như: thiên văn, lịch số, phong thuỷ…trong đó đặc sắc và
hữu dụng nhất, phải kể đến y học cổ truyền phương Đông vốn đã tồn tại hàng
nghìn năm nay.
Trong lĩnh vực y học, các quy luật của Ngũ hành đã đặt dấu ấn ở
phương pháp quan sát, quy nạp, tìm sự tương quan của hoạt động sinh lý,
bệnh lý các tạng phủ để chẩn đoán bệnh tật, tìm tính năng, tác dụng của thuốc

bình đẳng giới, chênh lệch giàu nghèo… cùng với sự phát minh ra lý thuyết
hỗn độn, hiệu ứng cánh bướm, hình học fractal, những hệ phi tuyến… là cơ sở
sâu xa cho sự xuất hiện tinh thần hậu hiện đại. Đối với hậu hiện đại, mọi sự
thật thường hằng sẽ biến mất, thay vào đó là những biểu hiện của những bề
mặt không bản chất. Trong thời hậu hiện đại, những lý thuyết có từ thời Ánh
sáng đều đã bị đổ vỡ (Lyotard).
Trong bối cảnh ấy, với sự thôi thúc của nền khoa học hậu hiện đại,
người ta lại nghĩ đến, nói đến tư tưởng của triết học phương Đông, trong đó
có học thuyết Ngũ hành với niềm tin vào một lý thuyết về sự thống nhất, góp
phần lắp vào khe hở của lý thuyết đương đại về thế giới.
Kể từ khi hai nền văn hoá Đông - Tây giao lưu và tiếp biến, thế giới lại
một lần nữa nhận thấy rằng: Ngũ hành là một cơ sở quan trọng tạo nên một
cái nhìn mới về sự huyền vĩ của văn hoá phương Đông. Khi bắt đầu tìm hiểu
khái niệm, nguyên lý của học thuyết này, ai cũng cảm thấy dường như mình

7
hiểu được nó, nhưng khi đi sâu khám phá bản chất và thực tại khách quan mà
nó phản ánh thì người ta lại bế tắc, cảm nhận rất rõ về tính chưa thuyết phục
của các ý kiến đã nêu. Biết bao luận bàn của hậu thế về diễn biến lịch sử, nội
dung và bản chất của học thuyết Ngũ hành đang tiếp tục bỏ ngỏ. Chính cái
huyền vĩ của nó đã là một hấp dẫn. Nhưng, đó cũng chính là điểm tựa cho
những suy ngẫm khi tri kiến về những vấn đề của khoa học hiện đại.
Trong hơn bốn thập kỷ qua, khoa học lí thuyết của thế giới gần như bị
chững lại, khoa học thế giới đang lâm vào tình trạng thoái trào giống như đầu
thế kỉ XX. Những tiến bộ của công nghệ đang là nỗ lực cuối cùng để lấp kín
những khe hở của khoa học lí thuyết. Tương lai không sáng sủa của khoa học
duy lý, cho thấy rằng nhân loại đang tiến dần vào chặng đường khó khăn của
khoa học. Trong bối cảnh đó, nhà vật lí học nổi tiếng Stephen Hawking, sinh
năm 1942, đã nói về một lí thuyết thống nhất, mà nếu phát kiến được lý
thuyết đó thì “tất cả chúng ta, các nhà khoa học, các triết gia và cả mọi người

Và lí thuyết mà các nhà khoa học hàng đầu hiện nay mong đợi có thể
thấy được những gợi mở từ trong học thuyết Ngũ hành. Mặc dù có không ít
quan niệm khác nhau, thậm chí phủ định nó, nhưng dần dà người ta nhận ra
tính minh triết và đặt vấn đề về tính khoa học của nó. Bởi lẽ, “Ngũ hành là chỉ
vào thế lực tự nhiên, vì luôn luôn động nên gọi là Hành và phản chiếu vào
tinh thần người ta thành ra có những biến thái, động tác tâm lý, sinh lý”
(Nguyễn Đăng Thục), nó đã giải thích từ sự hình thành vũ trụ đến những vấn
đề liên quan tới con người. Thiên Hồng Phạm đã mở đầu: Sơ nhất viết Ngũ
hành. Thứ nhị viết kính dụng Ngũ sự để khẳng định một nguyên lý căn bản: Ở
vũ trụ chỉ có Ngũ hành, ở con người chỉ có Ngũ sự; Ngũ sự hoà với Ngũ
hành, tức Thiên - Nhân hợp nhất. Đấy là quan điểm Vạn vật nhất thể. Tư
tưởng này đã tồn tại mấy nghìn năm và học thuyết Ngũ hành vẫn thể hiện
bằng sự hiệu quả thiết thực và hữu dụng trong thực tiễn đời sống xã hội, nhất
là phương Đông từ xưa đến nay.

9
Hơn nữa, ở Việt Nam việc chữa bệnh bằng y học cổ truyền đã có hiệu
quả rõ rệt và được nhân dân ngày càng tin dùng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế
đó, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất mạnh vai trò của việc kết hợp y học cổ
truyền với y học hiện đại. Có thể nói đó là một trong những quan điểm cơ bản
về y tế của Đảng. Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn còn một số nhận thức sai lệch
khi cho rằng, y học cổ truyền chỉ là tập hợp những kinh nghiệm dân dã về một
số bài thuốc và vị thuốc thông thường; rằng y học này chưa có cơ sở lý luận
rõ ràng, vì vậy hiệu quả chữa bệnh còn hạn chế; hoặc là quan niệm thổi phồng
vai trò của Ngũ hành và y học cổ truyền, cho rằng với sự chỉ dẫn của Ngũ
hành, y học cổ truyền có thể “chữa bách bệnh”. Rõ ràng là, quan điểm kết hợp
y học cổ truyền với y học hiện đại của Đảng và Nhà nước ta chưa được nhận
thức đầy đủ, chưa được vận dụng một cách nhuần nhuyễn và có hiệu quả.
Để thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu
cầu của nhân dân về chữa bệnh bằng y học cổ truyền, đồng thời góp phần

hoá Thông tin, Hà Nội, 2004). Khi trình bày nội dung nghiên cứu này, các tác
giả kể trên đều khẳng định Âm dương và Ngũ hành là những phạm trù triết
học quan trọng trong thế giới quan của người Trung Quốc. Đó là những khái
niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối với sự sản sinh và biến hóa của
vũ trụ, là cội nguồn của các quan điểm duy vật và biện chứng trong các tư
tưởng triết học mang màu sắc Trung Quốc. Chẳng hạn tác giả Ngô Vinh
Chính đánh giá: “Việc sử dụng các phạm trù Âm dương và Ngũ hành đánh
dấu bước tư duy khoa học đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng
của các khái niệm thượng đế, quỷ thần truyền thống. Đó là cội nguồn duy vật
và biện chứng trong tư tưởng triết học của người Trung Quốc”[17, tr.43].
Ngược dòng lịch sử quá trình nghiên cứu, chúng ta thấy việc đánh giá
và vận dụng học thuyết Âm dương – Ngũ hành đã từng được đề cập rộng rãi
trong các tác phẩm của người Trung Quốc cổ xưa. Từ đời Hán trở đi, nhiều
tác giả như Lưu Biểu, Quảng Lô, Vương Bật, Phí Trực (đời Hán); Trịnh
Huyền (đời Hán); Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trình Hạo, Trình Di (đời Tống);

11
Hoàng Tôn Hy, Tôn Viêm, Mao Kỳ Linh, Hồ Vi, Huệ Đống, Trương Huệ
Ngôn, Lý Quang Địa (đời Thanh)… đều khẳng định tư tưởng chủ đạo trong
Kinh Dịch là tư tưởng về mối quan hệ giữa âm và dương. Trong những năm
gần đây một loạt các công trình nghiên cứu xuất bản ở Hồng Kông và Đài
Bắc (Đài Loan) như Chu Dịch tân giải của Tào Thăng; Chu Dịch cổ kinh kim
chú của Cao Hanh; Dịch học tân luận của Nghiêm Linh Phong… đều bàn về
lẽ biến hóa của Âm dương trong Kinh Dịch.
Kinh Dịch là sách nói về Âm dương, còn Kinh Thư là tác phẩm đầu tiên
của người Trung Quốc cổ đại đề cập tới khái niệm Ngũ hành, nghiên cứu và
dịch thuật về Kinh Thư ở Việt Nam đã được Thẩm Quỳnh biên dịch từ năm
1965 và là cơ sở cho nhiều tác giả Việt Nam tiếp tục nghiên cứu và bàn luận
về thuyết Âm dương – Ngũ hành.
Bên cạnh việc tập trung nghiên cứu riêng rẽ về các tác phẩm của người

thống lý luận của y học. Dùng lý thuyết ấy để giải thích về mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên, quan hệ lẫn nhau giữa các tạng phủ trong thân thể và
theo nguyên tắc của quan niệm chỉnh thể đã phát minh được những vấn đề có
quan hệ đến y học như bệnh lý, chẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh v.v…
Ở Việt Nam, những công trình vận dụng học thuyết Âm dương - Ngũ
hành vào y học đã xuất hiện ngay từ thời Trần. Các tác phẩm và tác giả tiêu
biểu phải kể tới Chu An với Y học giản yếu, Tuệ Tĩnh với Nam dược thần
hiệu và Hồng nghĩa giác tư y thư. Đến thế kỷ XVIII, xuất hiện nhà tư tưởng,
nhà y học nổi tiếng Lê Hữu Trác, với bộ sách Hải Thượng Lãn Ông Y tông
tâm lĩnh nổi tiếng (Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 1993), trong đó ông đã vận
dụng học thuyết Âm dương - Ngũ hành để giải thích đời sống xã hội, và
phương pháp bảo vệ sức khỏe cho con người. Sang nửa cuối thế kỷ XIX, nhà
tư tưởng cũng đồng thời là nhà y học Nguyễn Đình Chiểu cũng đã vận dụng
học thuyết Âm dương – Ngũ hành để diễn giải các vấn đề về lý luận y học
trong tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp.

13
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã có nhiều tác giả, nhiều
công trình nghiên cứu về học thuyết Âm dương - Ngũ hành trong lý luận y
học cổ truyền phương Đông. Chẳng hạn, Lê Trần Đức với các công trình
nghiên cứu về Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác, Nguyễn Đình Chiểu… Hoàng Tuất
[117-118] với các công trình Học thuyết Âm dương và phương dược cổ
truyền; Học thuyết Tâm - Thận trong y học cổ truyền; Phó Đức Thảo [106]
với Học thuyết Thủy hỏa và mệnh môn trong y học cổ truyền; Lê Khánh Trai
với Khảo cứu về tiền đề Âm dương - Ngũ hành từ Kinh Dịch và mô hình kinh
mạch trong cơ thể người; Hoàng Phương [74] với Tích hợp đa văn hóa Đông
Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai; Trần Thúy [98] với Nội kinh v.v
Tất cả các tác giả này đều khẳng định Âm dương – Ngũ hành là lý luận không
thể thiếu đối với y học cổ truyền.
Những năm gần đây, một số tác giả và các công trình nghiên cứu có xu

(Luận án Tiến sĩ Triết học, 1996) đã đề cập tới học thuyết Âm dương – Ngũ
hành và coi đó là một trong những tư tưởng triết học quan trọng của bộ Hải
Thượng y tông tâm lĩnh; Phạm Công Nhất trong Tư tưởng triết học về con
người qua tác phẩm y học của Hải Thượng Lãn Ông (Luận án Tiến sĩ triết
học, 2001); Trần Thị Huyên với Thuyết âm dương – ngũ hành với tác phẩm
Hoàng đế Nội kinh và Hải Thượng Y tông tâm lĩnh (Luận án Tiến sĩ, 2002);
Nguyễn Thị Hồng Mai với Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác trong tác
phẩm Hải Thượng Y tông tâm lĩnh (Luận án Tiến sĩ, 2012). Với sự vận dụng
học thuyết Âm dương - Ngũ hành vào y học cổ truyền Việt Nam, đặc biệt học
thuyết Thủy hỏa của danh y Lê Hữu Trác trong tác phẩm Hải Thượng Lãn
Ông Y tông tâm lĩnh.
Nhìn chung, các tác giả và công trình nghiên cứu nói trên đều nói lên
mối quan hệ giữa Âm dương - Ngũ hành với các hoạt động sống của con
người và khẳng định lý thuyết này là cơ sở triết học chủ yếu cho việc hình
thành và phát triển lý luận và thực tiễn của nền y học cổ truyền phương Đông
từ xưa tới nay. Tuy vậy, các quan niệm trên còn rời rạc, tản mạn, chưa thành
hệ thống nhất quán. Có thể nói, cho đến nay, chưa có tác phẩm nào nghiên

15
cứu một cách tập trung và có hệ thống về sự hình thành và phát triển học
thuyết Ngũ hành trong y học cổ truyền phương Đông, đề tài “Học thuyết Ngũ
hành với ý nghĩa của nó đối với y học cổ truyền phương Đông” góp phần làm
sáng tỏ những vấn đề trên.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ lịch sử phát triển, nội dung
cơ bản của học thuyết Ngũ hành và ý nghĩa của chúng đối với sự phát triển y
học cổ truyền của phương Đông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích trên, luận án triển khai thực hiện các nhiệm vụ

và khác biệt của luận đề mà các nhà triết học thời cổ đại Trung Quốc đặt ra và
điều chỉnh, bổ sung trong suốt quá trình phát triển của xã hội Trung Quốc;
thấy được tính không đồng nhất về giá trị của học thuyết đó trong những
những lĩnh vực khác nhau.
Các phương pháp cụ thể
Vấn đề nghiên cứu được tiếp cận và phân tích trên cơ sở phương pháp
lôgic và lịch sử kết hợp với phân tích và tổng hợp, khái quát hoá và hệ thống
hoá để thấy được nguyên lý Ngũ hành và những vấn đề y học cổ truyền có
liên quan và mang tính độc lập tương đối trong sự phát triển, có lôgic nội tại
và được hình thành, phát triển từ những điều kiện lịch sử nhất định của xã hội
Trung Quốc từ thời thượng cổ.
Việc thu thập và xử lí thông tin được thực hiện thông qua phương pháp
nghiên cứu lí thuyết nhằm làm rõ một số khái niệm, phạm trù có liên quan và
nghiên cứu, khai thác tư liệu, văn bản; phương pháp so sánh cho thấy được sự
tương đồng và khác biệt khi trình bày sự biến đổi của Ngũ hành qua các thời
kỳ lịch sử; phương pháp thống kê số liệu thực tiễn từ 500 bệnh án góp phần
thực hiện những yêu cầu của nhiệm vụ luận án. 17
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Nội dung và bản chất của học thuyết Ngũ hành được phân tích qua các
đặc điểm, sự biến hoá của năm hành chất và quy luật vận động của chúng;
tương quan Ngũ hành với những biểu hiện của tạng tượng trong cơ thể sinh lý
con người.
Kết quả nghiên cứu của luận án có nhiều ý nghĩa:
Ý nghĩa khoa học:
Luận án đưa đến một cách tiếp cận và phương pháp nhận thức mới về
các nguyên lý của học thuyết Ngũ hành, về đặc điểm các hành chất cơ bản của
Ngũ hành trong triết học phương Đông biểu hiện ra các mặt tự nhiên, xã hội


19
Chương 1
NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH

1.1. NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa của Trung Quốc cổ đại
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng
tầng, triết học trong quá trình hình thành và phát triển luôn chịu sự chi phối,
quyết định bởi những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Lịch sử triết học
hàng ngàn năm của nhân loại đã chứng minh rằng không có một học thuyết

Khởi đầu, lịch sử Trung Quốc đã trải qua thời kỳ xã hội nguyên thủy
với các truyền thuyết về thời thượng cổ như Bàn Cổ, Tam hoàng, Ngũ đế.
Theo những truyền thuyết này, xã hội nguyên thủy Trung Quốc đã phát triển
tuần tự qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn được đánh dấu bằng những phát
minh quan trọng như lửa, đồ đá, dụng cụ bằng xương động vật… chứng tỏ
thành quả của những nhận thức và lao động tuyệt vời mà nhân dân Trung
Quốc đã đạt được trong thời kỳ cổ đại.
Đời nhà Hạ 2205 - 1766 trước công nguyên, nhà nước chiếm hữu nô
lệ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc cổ đại là sự ra đời nhà Hạ, kết thúc thời
kỳ lịch sử xã hội Trung Quốc từ trước đó hàng nghìn năm. Tuy nhiên, hiện
nay còn có một số quan điểm khác cho rằng nhà nước chiếm hữu nô lệ ra đời
vào thời Ân (1766 - 1027 tr.CN) (xem Trần Đình Hượu), hoặc (Petơrốp, Viện
sĩ Liên Xô) ra đời vào thời Tây Chu.
Như vậy, trong quá trình tìm hiểu thực tế cuộc sống để sinh tồn, con
người đã bước lần tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ qua thực tiễn. Tư tưởng
Ngũ hành đã khởi đầu khám phá một vài yếu tố của Ngũ hành từ thời nhà Hạ
là đất, nước, cây cối và đặc biệt là lửa. Những khám phá ban đầu này (đất,
nước, cây cối và lửa), nó vừa là nhận thức mới về vật chất phục vụ cuộc sống,
vừa giúp cho lao động bước đầu tiến bộ của nhân dân Trung Quốc cổ đại thời
kỳ nhà Hạ.

21
Giai đoạn nhà Thương
Năm 1766 trước công nguyên, Thành Thang, vua một nước nhỏ (vốn
thuộc Hạ) ở vùng hạ lưu sông Hoàng Hà, vì nhà Hạ vô đạo nên nhà Thương
hội quân chư hầu đã lật đổ triều vua cuối cùng của nhà Hạ, lập nên nhà
Thương đặt đô tại đất Bạc (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay). Khoảng 300 năm
sau Công Nguyên vua tiếp theo của nhà Thương là Bàn Canh đã dời đô đến
đất Ân (thuộc thành phố An Dương tỉnh Hà Nam ngày nay). Vì thế, nhà
Thương còn được gọi là nhà Ân. Dưới triều đại Ân - Thương, nền kinh tế xã

Năm 1123 trước công nguyên, con của vua Chu Văn Vương là Chu
Vũ Vương đã nổi dậy diệt vua Trụ nhà Ân Thương lập ra nhà Chu, đóng đô ở
Hạo Kinh (phía tây thành Tây An ngày nay). Lịch sử gọi là Tây Chu.
Thời Tây Chu, lực lượng sản xuất đã đạt tới trình độ cao hơn nhiều so
với Ân – Thương. Việc sử dụng các công cụ, vật dụng bằng sắt bắt đầu xuất
hiện đã thúc đẩy một số ngành thủ công nghiệp phát triển, từ đó làm cho kỹ
thuật canh tác đất đai được cải thiện. Các lĩnh vực nhận thức về các khoa học
tự nhiên như: lịch pháp, thiên văn, địa lý, y học… cũng đã phát triển rất
mạnh. Về chính trị, hệ thống chính trị đã tương đối hoàn thiện hơn so với nhà
Ân – Thương trước đó. Là một nhà nước được xây dựng trên cơ sở của chế độ
chiếm hữu nô lệ, song cách thức quản lý quốc gia của nhà Chu lại theo kiểu
“phong hầu kiến địa” (cắt đất phong tước hầu) nặng về huyết thống, giòng
tộc. Người đứng đầu nhà Chu được gọi là “Thiên tử” có uy quyền tuyệt đối.
Cùng với sự hoàn thiện hệ thống chính trị, nhà Chu cũng tiến hành cải cách
quan hệ sản xuất, thực hiện rộng rãi chế độ “tỉnh điền”, một kiểu quản lý và
thu lợi từ đất đai (do nhân dân lao động trực tiếp sản xuất) của giai cấp thống
trị quý tộc nhà Chu lúc bấy giờ. Chính vì vậy, cùng với sự phát triển mọi mặt
đời sống xã hội so với thời kỳ Ân – Thương, các mâu thuẫn giai cấp trong
lòng xã hội tộc Chu đang dần dần bộc lộ gay gắt.
Tư tưởng triết học Trung Quốc có mầm mống từ thời tiền sử, nhưng
đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc mới thực sự trở thành một hệ thống. Xuân
Thu – Chiến Quốc, về niên đại, được xem là bắt đầu từ năm 771 và kết thúc

23
vào năm 221 trước công nguyên. Thời kỳ Đông Chu còn gọi là thời kỳ Xuân
thu – Chiến quốc (771 – 221 trước công nguyên), là giai đoạn giao thời giữa
hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ suy tàn và hình thái kinh tế - xã hội
phong kiến sơ kỳ. Thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc được chia thành hai giai
đoạn: giai đoạn Xuân thu và giai đoạn Chiến quốc.
Giai đoạn Xuân thu được đánh dấu bằng sự kiện Chu Bình Vương lên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status