ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM TUẤN ANH HOµN THIÖN PH¸P LUËT VIÖT NAM VÒ CHUYÓN NH¦îNG
QUYÒN Sö DôNG §ÊT NH»M H¹N CHÕ GIAO DÞCH T¦ LîI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Tuấn Anh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
quyền sử dụng đất để hạn chế giao dịch tư lợi 20
1.3.2. Sự cần thiết của điều chỉnh pháp luật về chuyển nhượng quyền sử
dụng đất để hạn chế giao dịch tư lợi 22
1.4.
QUI ĐỊNH VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ NĂM
1992 ĐẾN NAY
23
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG
GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT 31
2.1.
ĐIỀU KIỆN ĐỂ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM HIỆN NAY
31
2.1.1. Nội dung quy định về trình tự thủ tục xác lập quyền sử dụng đất 31
2.1.2. Các quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 34
2.1.3. Trình tự và thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xác
lập quyền dân sự 35
2.2.
HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT
58
2.3.
THỰC TRẠNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG
CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
66
2.4.
NGUYÊN NHÂN VÀ HẠN CHẾ GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG
QUÁ TRÌNH CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
3.2.4. Thống kê và kiểm soát các giao dịch đất đai qua phòng công
chứng tại địa phương 110
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một loại tài sản đặc biệt mà cùng với thời gian thì giá trị của
nó đã làm cho nhiều người ngỡ ngàng. Nhiều con đường, nhiều khu quy hoạch
được thiết lập thì càng có nhiều người giàu lên từ đất đai. Sau khi Luật đất đai
năm 2013 có hiệu lực, tài nguyên đất đai được sử dụng có hiệu quả, đảm bảo
vai trò quản lý và đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, thu hút
các nguồn lực và vốn đầu tư nước ngoài trong việc khai thác, sử dụng đất.
Từ năm 2008 đến nay ta có thể thấy thị trường bất động sản đang đóng
băng nhưng không phải vì vậy mà nó giảm đi sức hút từ các nhà đầu tư. Bình
quân hàng năm thu ngân sách từ thị trường bất động sản bình quân trên 21.000
tỷ đồng/năm, chiếm trên 7% tổng thu ngân sách, nhưng có đến 70% giao dịch
nhà đất diễn ra trên thị trường không chính thức, thị trường "ngầm". Theo các
chuyên gia, số thu này sẽ lớn hơn nhiều nếu các giao dịch ngầm về nhà đất
được kiểm soát [13].
Có thể nói do giá trị, lợi ích mà đất đai mang lại cho người sử dụng nó là
quá lớn nên các hành vi giao dịch tư lợi về đất đai hiện nay diễn ra khá phổ biến.
Nước ta đã ban hành Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 105/2009/NĐ-CP
ngày 11/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính về đất đai, Nghị định số
13/2006/NĐ-CP ngày 24/01/2006… quy định khá chi tiết về các vấn đề đất
đai ở nước ta hiện này nhưng những lợi ích của nó đã làm cho nhiều người
mờ mắt, lợi dụng kẽ hở của pháp luật hoặc bất chấp các quy định đó tiến hành
trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giao dịch tư lợi tuy là một vấn đề mới, nhưng thực tế ở Việt Nam chưa 3
có nhiều tác giả tiếp cận vấn đề này. Công trình tiêu biểu mà tôi mới tiếp cận
được là: "Một số giao dịch tư lợi trong thực tiễn chuyển nhượng quyền sử
dụng đất" của tác giả Doãn Hồng Nhung - Nguyễn Thị Nắng Mai đăng trên
tạp chí Nhà nước và Pháp luật, năm 2012 [24]. Đây là luận văn đầu tiên khai
thác khía cạnh giao dịch tư lợi trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích cơ sở lý luận, đánh giá
thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế các giao dịch tư lợi
trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Để thực hiện mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các vấn đề lý luận về các giao dịch tư lợi trong chuyển nhượng
quyền sử dụng đất qua đó xác định những tác động của giao dịch tư lợi trong
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam quy định thế nào đối với các
hành vi giao dịch tư lợi trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình các giao dịch tư lợi trong
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Việt Nam, đưa ra các nhận xét kiến nghị
trong công tác quản lý đất đai và rút ra các bài học kinh nghiệm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các giao dịch tư lợi trong chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Đồng thời đánh
giá các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý
sử dụng đất đai và các quy định pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: đề tài đi từ những vấn đề chung
đến những vấn đề riêng, từ những hiện tượng riêng lẻ đến những cái chung.
5
- Phương pháp thống kê: đây là phương pháp quan trọng, được sử dụng
xuyên suốt đề tài. Đề tài tập hợp những văn bản pháp luật liên quan đến vấn
đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các giao dịch tư lợi liên quan đến
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thực tiễn việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất làm cơ sở khoa học, lý luận để nghiên cứu làm rõ mục đích nghiên
cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn và tính mới của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thực tế nhận thấy giao dịch tư lợi là một vấn đề mới và ít được quan
tâm trong lý luận pháp luật ở Việt Nam nhất là trong hoạt động chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận về giao dịch tư lợi trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai
đồng thời đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chuyển quyền sử dụng đất.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ thực tế cho thấy các giao dịch tư lợi đang diễn ra rất phong phú mà
việc nắm bắt quản lý chúng gặp rất nhiều khó khăn do cả lý do khách quan và
lý do chủ quan. Vì vậy, qua luận văn tác giả muốn làm sáng tỏ những nguyên
nhân và hạn chế dẫn đến giao dịch tư lợi khách quan và chủ quan, từ đó đưa
ra các kiến nghị về xây dựng và sửa đổi pháp luật của Việt Nam để hạn chế các
giao dịch tư lợi đặc biệt là trong vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
6.3. Tính mới của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về giao dịch tư lợi trong chuyển
sở hữu của Nhà nước. nhà nước đại diện cho nhân dân Việt Nam thực hiện
quyền sở hữu về đất đai. Quyền sở hữu đất đai cũng như quyền sở hữu các tài
sản khác bao gồm ba quyền năng: Quyền chiếm hữu, quyền sở hữu, quyền
định đoạt. Tuy nhiên, Nhà nước không phải lúc nào cũng thực hiện đồng thời
cả ba quyền năng trên mà giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng dưới sự kiểm
soát, giám sát của Nhà nước. Nói cách khác, Nhà nước không phải người sử
dụng trực tiếp đất đai mà thông qua việc giao đất, cho thuê đất, nhà nước đã
chuyển quyền sử dụng đất đai cho các chủ thể khác.
Trước Hiến pháp năm 1980, nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu đối
với đất đai như sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể. Từ những
năm tám mươi của thế kỷ XX, nhân dân Việt Nam xây dựng xã hội chủ nghĩa
trên phạm vi cả nước dựa trên nền tảng công hữu hóa tư liệu sản xuất chủ yếu
là đất đai. Vì vậy, Hiến pháp năm 1980 qui định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân, do Nhà nước quản lý.
Kế thừa Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 qui định: đất đai
thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch
và pháp luật, bảo đảm quyền sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà
nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Tổ chức và 8
cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất,
được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo qui định của pháp
luật. Quy định này của Hiến pháp 1992 đã mở ra bước phát triển mới của chế
độ sở hữu về đất đai, nhất là công nhân việc chuyển quyền sử dụng đất của tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình.
Điều 53 và Điều 54 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Đất đai là tài sản
công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất
quản lý. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận
quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo
xuất, kinh doanh và các nhu cầu khác của cá nhân, tổ chức.
Nội dung của quyền sử dụng đất không chỉ nằm ở việc người được giao
đất, cho thuê đất trực tiếp khai thác giá trị từ đất mà còn khai thác lợi ích kinh
tế từ đất đai thông qua các hoạt động: chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp…
người sử dụng đất không những trực tiếp sử dụng đất đai để thu lợi mà còn có
thể thông qua việc chuyển quyền sử dụng từ mình cho một người khác để đạt
lợi ích kinh tế. Bằng các qui định cụ thể về chuyển quyền sử dụng đất trong
Luật đất đai năm 2013 hay trong các văn bản pháp luật khác, nhà nước đã mở
rộng quyền cho người sử dụng đất, biến người sử dụng đất thành chủ nhận
đích thực của đất đai mặc dù họ không phải là chủ sở hữu.
* Đặc điểm quyền sử dụng đất
Thứ nhất, quyền sử dụng đất là một loại quyền dân sự đặc thù, là quyền
tài sản gắn liền với đất đai. Đất đai là một tài sản thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước quản lý và thực hiện quyền của chủ sở hữu tài sản. Việc khai thác,
sử dụng đất đai thông qua các hoạt động trực tiếp nhưng Nhà nước là tổ chức
quyền lực, đại diện cho toàn dân không thể trực tiếp thực hiện hành vi sử
dụng, khai thác nguồn tài nguyên quý giá này, cho nên Nhà nước trao quyền
sử dụng cho các chủ thể khác (cá nhân, tổ chức kinh tế, hộ gia đình…) sử 10
dụng hiệu quả, không để đất đai rơi vào tình trạng bị bỏ hoang, không ở tình
trạng "vô chủ". Người sử dụng đất có quyền khai thác đất đai phục vụ các nhu
cầu của mình, có nghĩa vụ bảo quản, bồi bổ cho đất màu mỡ, không được gây
thiệt hại cho đất đai như làm đất đai bị xói mòn, bạc mầu, tự thay đổi mục
đích sử dụng của loại đất được giao, cho thuê…
Quyền sử dụng đất là quyền tài sản đặc biệt còn thể hiện ở chỗ giá trị
của quyền sử dụng đất thay đổi theo nhu cầu xã hội, theo mục đích sử dụng đất.
Khi nhu cầu sử dụng đất tăng cao thì giá trị quyền sử dụng đất cũng tăng và
ngược lại, giá trị quyền sử dụng đất bị giảm khi nhu cầu của thị trường giảm.
năm 2013 đã được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 về thi hành Luật đất đai và Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày
19/5/2014 về hồ sơ địa chính do Bộ trưởng bộ Tài nguyên và môi trường ban
hành. Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất không tuân thủ các qui định về
trình tự, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất thì giao dịch sẽ vô hiệu.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất
* Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 thì hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nghĩa vụ chuyển giao đất và quyền sử
dụng của mình cho bên nhận chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng có
nghĩa vụ trả cho người chuyển nhượng với khoản tiền tương ứng với giá trị
quyền quyền sử dụng đất (Điều 697 Bộ luật Dân sự 2005).
Nhà nước, với vai trò là người đại diện chủ sở hữu về đất đai, đồng thời
là người quản lý việc sử dụng đất đã ra những quy định rất chặt chẽ, về việc
chấm dứt hay thiết lập các quan hệ luôn luôn được thực hiện theo một vòng
trật tự nhất định. 12
* Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Để hiểu rõ về những đặc trưng riêng của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất chúng ta cần đi sâu vào phân tích và so sánh với một số
hình thức chuyển nhượng đất đai khác.
Một là, so sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với
hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất.
Cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử
dụng đất là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất, theo đó Nhà nước chấm
dứt quyền sử dụng đất của bên này để thiết lập quyền sử dụng đất cho bên kia.
trường bất động sản, bao gồm:
- Đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất không phải là rừng tự
nhiên được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân.
- Đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng ổn định vào
mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã
được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.
- Đất nông nghiệp được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất đối với
tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Đất nông nghiệp được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất một lần
cho cả thời gian thuê đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức
nước ngoài, cá nhân nước ngoài.
- Đất ở được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở; đất
ở được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở; đất ở được Nhà nước cho thuê trả
tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đối với người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh
doanh nhà ở.
- Đất ở do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng vào mục đích làm nhà ở
đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. 14
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích
công cộng có mục đích kinh doanh được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng
đất đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài.
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích
công cộng có mục đích kinh doanh được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất
một lần cho cả thời gian thuê đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài.
- Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 13)
Với những quyền năng to lớn mang tính tuyệt đối này, nếu không có
những quy định ràng buộc chặt chẽ và cơ chế giám sát hữu hiệu thì tất yếu
sẽ nảy sinh những giao dịch tư lợi, nhất là khi đất đai trở thành một thứ hàng
hóa có giá trị như hiện nay. Đặc biệt là trong hoạt động chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về giao dịch tư lợi và đang
có nhiều ý kiến khác nhau về giao dịch tư lợi.
Khái niệm về "Tư lợi" (Self Interest) được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau. Có trường hợp cho rằng tư lợi là lợi ích của cá nhân, cũng có trường
hợp hiểu tư lợi là tư nhân về lợi ích tức là cá nhân thông qua một thủ đoạn
nào đó được che đậy bởi vỏ bọc của hành vi hợp pháp để mang lại một lợi ích
nhất định cho mình.
Về khái niệm giao dịch tư lợi: Khoa học pháp lý gọi "giao dịch tư lợi"
là các giao dịch mà trong đó có thể sẽ chứa đựng khả năng xung đột về quyền
lợi. Ở những giao dịch này, quyền lợi của nhà nước, của tập thể của một số cá
nhân có nguy cơ bị xâm hại do các chủ thể thiết lập giao dịch với "người liên
quan". Những người liên quan này trực tiếp có quyền quyết định thiết lập các
giao dịch hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết định đó nên họ có khả
năng thu lợi riêng cho cá nhân từ việc thực hiện các giao dịch đã thiết lập, nếu
không có sự kiểm soát cần thiết. 16
Theo báo cáo đất đai với tổng kết sơ bộ năm 2010 của 60 tỉnh, thành
trên cả nước thì đã phát hiện 190.000 trường hợp vi phạm về diện tích đất là
8.000 ha, trong đó sai phạm phổ biến là bán đất trái phép, cấp đất, giao đất
trái thẩm quyền (khảo sát của thanh tra chính phủ) [22].
Các sai phạm trong quy hoạch đất đai như việc lập quy hoạch các khu
công nghiệp, khu chế xuất, làng nghề vào các vùng dân cư tập trung, sử dụng
nhân người giao kết, nghĩa là mang trong nó yếu tố bất hợp pháp ở dạng ẩn,
nếu không được phát hiện nó vẫn tồn tại công khai, có giá trị bắt buộc thực
hiện và được pháp luật bảo vệ.
1.2.2. Nguyên nhân làm phát sinh các giao dịch tư lợi trong chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
Đất đai là một loại tài sản đặc biệt và có giá trị. Khi giá trị của đất đai
được tăng lên thì nhu cầu về chuyển nhượng, mua bán đất đai hình thành.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các dự án đầu tư, quy hoạch, đô
thị hóa khiến cho giá trị của đất đai liên tục có biến động, nhu cầu về khai
thác giá trị kinh tế từ đất của người dân tăng cao dẫn đến hoạt động chuyển
nhượng cũng liên tục biến động. Trong khi đó, công cụ quản lý nhà nước về
đất đai lại không theo kịp sự thay đổi phức tạp đó. Như việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, có đến 40% nhà đất đô thị chưa được cấp giấy hoặc
cấp rồi nhưng chưa đến tay người dân. Hệ quả dẫn đến các hoạt động “giao
dịch ngầm” bởi thiếu những giấy tờ cần thiết cho việc chuyển quyền sử dụng
đất, thực hiện giao dịch nhà đất qua Nhà nước. Trên thực tế, việc chuyển
nhượng một diện tích đất có thể diễn ra theo hình thức này rất nhiều lần trước
khi được chính thức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hoàn thiện
đầy đủ thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, các chủ thể tiến
hành giao dịch thường bỏ qua các lần chuyển nhượng trung gian để giảm số
chi phí phải nộp cho ngân sách nhà nước mà chỉ hoàn thiện thủ tục sang tên
thẳng cho người tiếp nhận cuối cùng. 18
Một nguyên nhân khác dẫn đến phát sinh các giao dịch tư lợi trong
chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự buông lỏng trong việc quản lý thực
hiện các quy định của pháp luật. Cho đến trước khi Luật Đất đai 2003 có hiệu
lực thi hành, các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa có cơ chế
buộc phải công bố công khai một cách thỏa đáng. Đây chính là cơ hội để
chức tín dụng. Theo quy định, các tổ chức tín dụng có quyền cho khách hàng
vay để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thông thường giá trị cho vay
sẽ bằng 70% đến 80% giá trị đất nhận chuyển nhượng. Vì vậy, để có thể vay
được một lượng tiền lớn hơn giá trị thực của mảnh đất, cán bộ tín dụng và
khách hàng có thể câu kết với nhau để hợp thức hóa hồ sơ vay vốn của Ngân
hàng. Trường hợp khách hàng không trả được nợ, ngân hàng phải chịu thiệt
hại vì số tiền thu về khi phát mại tài sản sẽ ít hơn khoản vay. Ngoài ra, giao
dịch tư lợi trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất tạo ra một môi trường đầu
tư không lành mạnh, mất cân bằng, gây tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư nước
ngoài ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia.
1.2.4. Ý nghĩa, mục đích của hạn chế giao dịch tư lợi trong chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật và các chính sách về đất đai đặc biệt là
các quy định liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Thứ hai, hạn chế việc trốn tránh hoặc giảm nghĩa vụ thuế mà người
chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng đất đai phải thực hiện đối với Nhà
nước, từ đó hưởng lợi bất chính.
Thứ ba, dây là điều kiện để tạo sự an tâm, mạnh dạn đầu tư cho các
doanh nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng, phong phú hàng hóa cho thị
trường bất động sản, từ đó hạn chế hành vi đầu cơ đất đai.