Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội luận văn ths luật - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐỖ ĐÌNH CHUYỀN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN Đỗ Đình Chuyền
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ


1.3. Những quy định về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở nước
ta hiện nay 22

1.3.1. Khung khổ pháp lý của công tác quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp ở nước ta 22

1.3.2. Bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành
lập 25
1.3.3. Một số đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở nước ta
hiện nay 30

Tiểu kết 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36

2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội 36

2.2. Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố
Hà Nội 37

2.2.1. Quy mô tăng trưởng 37

2.2.2. Cơ cấu ngành nghề và sự phân bố doanh nghiệp 40

2.2.3. Quy mô lao động 41

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 81
3.1. Quan điểm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Hà Nội 81

3.1.1. Định hướng phát triển doanh nghiệp thành phố Hà Nội đến năm
2020 81

3.1.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp 82

3.2. Một số giải pháp cụ thể 83

3.2.1. Nhóm giải pháp nâng cao trách nhiệm, hiệu quả, hiệu lực của bộ
máy quản lý nhà nước; tăng cường công tác phối hợp, trao đổi thông
tin trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh
doanh 83

3.2.2. Nhóm giải pháp tăng cường xây dựng và triển khai thực hiện các
nội dung hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; nâng cao ý thức, kiến thức
pháp luật và đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp 85

3.2.3. Nhóm giải pháp hỗ trợ và khuyến khích bên thứ ba tham gia vào
quá trình giám sát doanh nghiệp 85

3.3. Kiến nghị 86

Tiểu kết 87

Bảng 2.2: Phân bổ lao động theo loại hình doanh nghiệp của Hà Nội (2008 -
2012) 42 DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng kinh tế Hà Nội giai đoạn 2008 – 2013 36

Biểu đồ 2.2: Số doanh nghiệp giai đoạn 2008 - 2012 38

Biểu đồ 2.3: Phân bố doanh nghiệp theo cơ cấu ngành nghề năm 2012 40

Biểu đồ 2.4: Phân bố doanh nghiệp theo địa bàn quận, huyện năm 2012 41

Biểu đồ 2.5: Quy mô vốn các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội năm 2012 từ
năm 2008 - 2012 44

DANH MỤC HÌNH

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là vấn đề có nội dung rộng, liên
quan đến nhiều chủ thể. Ở nước ta hiện nay quản lý nhà nước đối với các
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh là vấn đề
có tính cấp thiết, đặc biệt là ở các thành phố lớn, có số lượng doanh nghiệp
nhiều và tăng nhanh hàng năm như thành phố Hà Nội. Trung bình mỗi năm,
trên địa bàn thành phố có khoảng gần 13.000 doanh nghiệp được thành lập
với tổng số vốn đăng ký hơn 1.300.000 tỷ đồng. Năm 2008, cùng với việc
điều chỉnh địa giới hành chính của Hà Nội và sự gia tăng nhanh chóng của số
lượng doanh nghiệp trên địa bàn, UBND thành phố đã thành lập 03 phòng
đăng ký kinh doanh để thực hiện công tác đăng ký kinh doanh và quản lý nhà

2
nước đối với doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp lớn cùng với tốc độ gia
tăng nhiều hàng năm, dẫn đến việc quản lý nhà nước đối với các doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là quản lý doanh nghiệp sau cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Trong khi đó, hầu hết các thành phố mới chỉ có quy định quản lý doanh
nghiệp khi đăng ký thành lập nhưng vẫn chưa ban hành được quy chế quản lý
doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh (còn gọi là quy chế “hậu kiểm”) (đến
thời điểm hiện tại chỉ có 10 địa phương ban hành quy chế quản lý doanh
nghiệp sau đăng ký kinh doanh). Ở thành phố Hà Nội, việc quản lý doanh
nghiệp khi đăng ký thành lập và sau thành lập được thực hiện theo quy định
của Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, quy định
quản lý doanh nghiệp sau đăng ký của UBND thành phố. Trên thực tế ở Hà
Nội hiện nay, việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng như việc
quản lý doanh nghiệp sau thành lập được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác
nhau như UBND thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư và các Sở chuyên ngành,
Ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất, Cục thuế, UBND cấp
huyện, cấp phường. Do đó, việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
không được thực hiện thống nhất, còn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm

được đặt ra. Năm 2008, Vũ Mạnh Anh xuất bản cuốn sách “Thực trạng quản
lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng kí kinh doanh tại thành phố Hồ
Chí Minh” [37]. Công trình nghiên cứu này tuy chỉ ra được thực trạng và các
giải pháp để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
nhưng mới chỉ đề cập đến việc quản lý các doanh nghiệp sau khi thành lập.
Trong khi đó việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp từ khâu đăng ký
thành lập lại chưa được đề cập.
Nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh, tăng cường việc tuân thủ pháp luật,
ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, Bộ Kế

4
hoạch và Đầu tư đã xây dựng đề án 8925/ĐA-BKHĐT ngày 26/12/2011 về
“Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập” [1].
Đề án đã cung cấp những dữ liệu quan trọng về những đổi mới của nước ta
trong công tác quản lý doanh nghiệp, về mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh
nghiệp, về khung khổ pháp lý của công tác Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Đặc biệt, những giải pháp trong đề án mang tính khả thi, hiện nay đã áp dụng
tại các tỉnh thành phố tạo chuyển biến tích cực trong việc quản lý doanh
nghiệp sau đăng ký kinh doanh.
Trong công trình “Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Phạm Thị Ngọc Ánh cũng đã có những đánh giá
khái quát về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân dưới
góc độ kinh tế học về ba nội dung: hoạch định chiến lược và môi trường pháp
lý; chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp và công tác thanh tra, kiểm tra, hậu
kiểm của thành phố Đà Nẵng [18].
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích của Luận văn
Mục đích của Luận văn là thông qua việc phân tích thực trạng quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm đề xuất

Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong
luận văn là: phương pháp biện chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp
phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và phương pháp mô
hình hóa.
6. Kết quả và ý nghĩa nghiên cứu của Luận văn
Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh việc quản lý doanh nghiệp, đặc
biệt là quản lý doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh trên địa bàn thành phố
Hà Nội đang được đẩy mạnh. Luận văn hệ thống hóa các cơ sở lý luận,

6
nghiên cứu các nội dung cụ thể của việc quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp cũng như ý nghĩa của nó. Trên cơ sở phân tích thực trạng của việc
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, đề tài
đề xuất các giải pháp về mặt lý luận cũng như thực tiễn để nâng cao hiệu quả
của việc quản lý doanh nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đối với
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về doanh nghiệp

được [3, tr17].
Theo quan điểm lý thuyết hệ thống: doanh nghiệp được các tác giả nói
trên xem rằng “doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức,
có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp
trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức,
nhân sự” [37, tr21].
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét
doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về
doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một
tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu
hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức
năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh
nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây:
* Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực
hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ
phận hành chính.
* Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin.
* Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào,
bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra.
* Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ
Nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp
bằng khoản lợi nhuận thu được.
Từ cách nhìn nhận như trên, trong luận văn này, doanh nghiệp được hiểu
là: đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật

9
chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ
sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng,
thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp
lý các mục tiêu xã hội.

+ Doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước
+ Doanh nghiệp thuộc kinh tế hợp tác (hợp tác xã)
+ Doanh nghiệp thuộc kinh tế tư bản tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, các
loại hình công ty)
+ Doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
(doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài)
+ Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế hỗn hợp.
- Thứ ba, phân loại doanh nghiệp theo quy mô kinh doanh:
+ Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (vốn dưới 10 tỷ, người lao động
dưới 300 người).
+ Doanh nghiệp có quy mô lớn (vốn trên 10 tỷ, có trên 300 người lao
động)
- Thứ tư, phân loại doanh nghiệp theo trách nhiệm pháp lý về nghĩa vụ
tài sản của doanh nghiệp.
+ Doanh nghiệp có chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm vô hạn (doanh
nghiệp tư nhân, công ty hợp danh).
+ Doanh nghiệp có chủ sở hữu chịu trách nhiệm hữu hạn (các công ty
TNHH, công ty cổ phần).
- Thứ năm, phân loại doanh nghiệp theo mức độ đầu tư vốn của một
doanh nghiệp vào doanh nghiệp khác:
+ Công ty mẹ (doanh nghiệp đầu tư).
+ Công ty con (doanh nghiệp nhận đầu tư) và công ty liên kết.
- Thứ sáu, phân loại doanh nghiệp theo địa vị pháp lý, cơ cấu quản lý,
tổ chức doanh nghiệp:

11
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn (1 thành viên và 2 thành viên trở lên).
+ Công ty cổ phần (tối thiểu là 3 cổ đông trở lên và có quyền phát hành
cổ phiếu).
+ Công ty hợp danh (có ít nhất 2 thành viên là sở hữu chung của công ty

chính và các công cụ quản lý để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với
nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, ổn định tình hình chính trị
- xã hội của đất nước. Điều đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là sự tác
động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước và thông qua
một hệ thống các chính sách kinh tế với các công cụ kinh tế lên hệ thống các
doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các
nguồn lực phát triển kinh tế, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước [11, tr36].
1.2.2. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp
Trong nền kinh tế nói chung, nhu cầu bản thân các doanh nghiệp đòi hỏi
phải có sự quản lý của Nhà nước. Quá trình sản xuất kinh doanh làm nảy sinh
mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau. Các doanh nghiệp đều có lợi ích
riêng của mình và họ luôn tìm mọi cách để tối đa hoá lợi ích đó. Họ có thể
thấy rõ hoặc không thấy rõ để đạt được mục đích của mình thì họ đã vi phạm
đến lợi ích của người khác. Từ đó tất yếu nảy sinh ra hiện tượng: lợi ích của cá
nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác xét trên
phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân. Biểu hiện về mặt xã hội của xu hướng
này là các hoạt động kinh tế chồng chéo cản trở nhau, sự phân bố nguồn lực
không hợp lý, các vấn đề chính trị xã hội phát sinh [15, tr18]. Bởi vậy phải có

13
một người đứng ra làm trung gian giải quyết, cân bằng mối quan hệ giữa các
doanh nghiệp với nhau.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định
nền kinh tế, góp phần tạo ra tích luỹ, sự phát triển của doanh nghiệp thể hiện
sự phát triển của quan hệ sản xuất, doanh nghiệp đầu tư nguồn vốn, lao động,
áp dụng khoa học công nghệ để tạo ra năng suất chất lượng sản phẩm ngày

sách kiểm soát đối với doanh nghiệp, các quy chế quản lý doanh nghiệp.
- Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng kết cấu hạ
tầng; hướng dẫn kinh doanh; hỗ trợ vốn; hỗ trợ về công tác đào tạo, quảng bá
sản phẩm; xử lý các mối quan hệ trong và ngoài nước có liên quan đến sự tồn
tại và phát triển doanh nghiệp (trốn lậu thuế, lừa đảo, đối ngoại. v. v…).
- Xây dựng bộ máy (các cơ quan) quản lý doanh nghiệp.
1.2.4. Phương hướng can thiệp của Nhà nước vào quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
1.2.4.1. Xét theo mục đích can thiệp
Có 3 hướng lớn sau đây:
- Can thiệp để ngăn chặn, hạn chế các tác hại xuất phát từ hoạt động của
các doanh nhân và doanh nghiệp.
- Can thiệp để giúp đỡ các doanh nhân và doanh nghiệp sao cho họ có
thể thành đạt trong sản xuất kinh doanh, nhờ đó mà quốc gia cũng hùng mạnh
theo, theo tinh thần “dân giàu, nước mạnh”.
- Can thiệp để bảo vệ lợi ích của công dân, của cộng đồng.
1.2.4.2. Xét theo nội dung hoạt động của doanh nghiệp
- Quyết định hình thức sở hữu của doanh nghiệp, mà nội dung cụ thể là
cho phép hay không cho phép có hình thức sở hữu này hoặc hình thức sở hữu
kia, cho phép một hình thức sở hữu nào đó được, hoặc không được kinh

15
doanh trên lĩnh vực này hoặc lĩnh vực khác vì lý do chính trị, kinh tế, xã hội
và an ninh quốc gia.
Sự can thiệp này là cần thiết, vì nó liên quan đến hiệu quả của nền kinh
tế đó đạt được sự phù hợp hay không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất. Sự can thiệp này là quan trọng vì vấn đề để sở hữu chính là
vấn đề chính trị của kinh tế, liên quan đến cơ sở chính trị của Nhà nước.
- Định hướng tổ chức quản lý của nội bộ doanh nghiệp, định hướng
điều lệ doanh nghiệp, ban hành điều lệ mẫu, quy định các tiêu chuẩn đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status