A – MỞ ĐẦU
Trong quá trình học tập và nghiên cứu môn triết học, em cảm thấy sự vận
động và phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại nói chung và tư tưởng triết học
nói riêng, triết học Phương Đông và triết học Phương Tây có nhiều nội dung rất
phong phú và đa dạng, có thể nói là trung tâm tư tưởng và văn hóa lớn của thế
giới, đặc biệt những tư tưởng triết học và văn hóa của Phương Đông đã có ảnh
hưởng rất lớn đối với văn hóa Việt Nam nói riêng, hơn thế nữa triết học Phương
Đông, triết học Phương Tây những giá trị của nó đã để lại nhiều dấu ấn đậm nét
và có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người, không thể thoát ly về những vấn
đề chung của lịch sử triết học. Mặc dù vậy, giữa triết học Phương Đông và triết
học Phương Tây vẫn có những đặc điểm và đặc thù riêng của nó. Nghiên cứu về
hai nền triết học trên, đặc biệt là so sánh sự khác nhau của nó là một vấn đề rất
phức tạp, nhưng cũng rất lý thú, vì qua đó chúng ta có thể hiểu biết sâu sắc thêm
những giá trị về tư tưởng văn hoá của nhân loại. Mặt khác, bản sắc văn hoá Việt
Nam ảnh hưởng khá sâu sắc bởi nền triết học Phương Đông, do đó chúng ta
nghiên cứu những đặc điểm của triết học Phương Đông trong mối quan hệ với
đặc điểm của triết học Phương Tây, đặc biệt là những tư tưởng nhân văn trong
thời khai sáng sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn bản sắc văn hoá Việt Nam.
Vì vậy, nghiên cứu triết học Phương Đông và triết học Phương Tây rất cần thiết
để góp phần tìm hiểu lịch sử tư tương văn hóa của Phương Đông và Phương
Tây, do đó, em chọn vấn đề “So sánh để thấy được sự giống nhau và khác
nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây trong lịch sử triết
học” làm đề tài nghiên cứu trong bài tiểu luận môn học của mình.
1
B - NỘI DUNG
I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
1. Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Ấn Độ cổ, trung đại
Triết học Ấn Độ cổ đại bị chi phối trực tiếp và sâu sắc bởi xu hướng tín
ngưỡng và tôn giáo truyền thống mạnh hơn nhiều so với các nền triết học khác, ở
nơi đây khó phân biệt tôn giáo và triết học. Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ
nghi huyền bí. Hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết
những nguyên nhân của trạng thái trì trệ đó.
2
2. Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Trung Quốc Cổ, Trung Đại
Thứ nhất, triết học Trung Quốc thứ nhất, nhấn mạnh tinh thần nhân văn.
Chú trọng luận bàn đến những vấn đề liên quan đến con người như triết học
nhân sinh, triết học đạo đức, triết học chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn
triết học tự nhiên mờ nhạt.
Thứ hai, nhấn mạnh sự hài hòa thống nhất giữa tự nhiên, xã hội và nhân sinh.
Đa số các nhà triết học đều nhấn mạnh hài hòa thống nhất giữa các mặt đối lập, coi
trọng tính đồng nhất của các mối liên hệ tương hỗ của các sự vật, coi việc điều hòa
mâu thuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết vấn đề.
Các trường phái triết học đều phản đối “thái quá”, “bất cập”… coi trọng “thiên
nhân hợp nhất”, “tri thành hợp nhất”, “thể dụng như nhất”, “tâm vật dung hợp”…
Thứ ba, tư duy triết học mang tính trực giác, tức là có trong sự cảm nhận
hay thể nghiệm. Cảm nhận theo cách đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao
tiếp lý trí, ta và vật ăn khớp, khơi dậy linh cảm nhiều chiều trong chốc lát, từ đó
mà nắm bản thể trừu tượng. Hầu hết các nhà tư tưởng triết học Trung Quốc đều
quen tiến hành trực quan thể nghiệm lâu dài, rồi bỗng chốc giác ngộ, nêu nhận
xét, ý tưởng. Vì vậy, thiếu sự chứng minh rành rọt, thiếu suy luận logic. Cuối
cùng, triết học Trung Quốc cổ đại thiếu những phương pháp cần thiết để xây
dựng một hệ thống lý luận khoa học.
Trong suốt chiều dài hơn 2000 năm phong kiến Trung Quốc, các học thuyết
được các nhà tư tưởng phong kiến kế thừa, tự nhận thuộc về trường phái đã có
nào đó từ thời cổ đại mà không lập học thuyết mới
Nền triết học Trung Quốc cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm
hữu nô lệ xã hội phong kiến, do vậy mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư
tưởng Trung Quốc cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị -
đạo đức của xã hội. Mặc dù vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và
đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng tư tưởng của các
nhà triết học Trung Quốc đã có tác dụng rất lớn trong việc xác lập một trật tự xã
biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần là nét nổi bật của quá trình phát
sinh phát triển triết học Hy Lạp cổ đại (đây là sự khác biệt cơ bản so với tư
tưởng triết học Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại).
Các trường phái triết học đại diện cho tư tưởng của mỗi tập đoàn xã hội
nhất định. Tầng lớp chủ nô dân chủ đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật,
vô thần, đấu tranh thúc đẩy xã hội phát triển. Còn tầng lớp chủ nô quý tộc đứng
trên lập trường duy tâm và tôn giáo, lạc hậu, chống lại tầng lớp chủ nô dân chủ
nhằm duy trì trật tự xã hội và địa vị xã hội của mình.
Những đặc điểm này không chỉ là cái phân biệt giữa hai nền triết học Đông
– Tây cổ đại mà còn tác động tới các giai đoạn phát triển của triết học Tây Âu
sau này. Đồng thời những nét đặc trưng ấy còn nói lên vị trí, vai trò của nền triết
học Hy lạp cổ đại đối với lịch sử triết học thế giới, nó làm phong phú tư duy triết
học và chính nó đã đặt nền tảng cho sự phát triển triết học Tây Âu sau này.
2. Một số đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời Trung cổ
Từ thế kỷ thứ II, ở Tây Âu có sự tan rã của chế độ nô lệ, chế độ phong kiến
từng bước hình thành. Người ta thường coi thời trung cổ là xã hội Tây Âu trong
khoảng thế kỷ IV-XIV. Đây là thời kỳ xuất hiện và phát triển của phương thức
sản xuất phòng kiến phương Tây, nó có nhiều nét khác biệt với phong kiến
phương Đông. Song hành với phương thức sản xuất phong kiến là quá trình hình
thành những giai cấp cơ bản trong xã hội: chúa đất và nông nô.
Sự hình thành những điền trang, thái ấp phong kiến ở các quốc gia phòng
kiến Tây Âu đã tạo ra chế độ phong kiến cát cứ phân quyền (còn ở phương
4
Đông là tập quyền). Đây chính là nguy cơ phân tán lực lượng kinh tế và chính trị
của các nước này.
Lênin nhận định rằng nền kinh tế của thời kỳ này nằm trong tay những
người tiểu nông, những người khốn cùng phụ thuộc, nhục nhã về mặt cá nhân và
tối tăm về trí tuệ. Thời kỳ đầu trung cổ, toàn bộ đời sống xã hội suy đồi trầm
trọng. Những thế kỷ tiếp theo, chế độ phong kiến cũng tạo ra được một sự phát
triển xã hội cao hơn xã hội cổ đại: kỹ thuật và nghề thủ công dần dần được phát
phong kiến sang xã hội tư bản. Khi này, sự phát triển khoa học đã dần dần thoát
ly khỏi thần học và tôn giáo thời kỳ trung cổ, bước lên con đường phát triển độc
lập. Giai cấp tư sản mới hình thành, đang giữ vai trò tích cực thúc đẩy tiến bộ xã
hội, có nhu cầu phát triển khoa học tự nhiên để tạo cơ sở cho sự phát triển kỹ
5
thuật và sản xuất. Sự phát triển của khoa học tự nó đã trở thành vũ khí mạnh mẽ
chống thế giới quan duy tâm tôn giáo. Cuối cùng, sự phát triển khoa học tự
nhiên đã đòi hỏi có sự khái quát triết học, rút ra những kết luận có tính chất duy
vật từ các tri thức khoa học cụ thể.
Thời kỳ này nổi lên các nhà khoa học và triết học tiêu biểu như: Nicolai
Copecnich, Bruno, Galile, Nicolai Kuzan, Tomat Moro…
Tóm lại, vào thời kỳ này cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ
nghĩa duy tâm và tôn giáo diễn ra gay gắt. Song cũng cần thấy rằng, triết học
của hầu hết các nhà tư tưởng thời kỳ này còn lẫn lộn các yếu tố duy vật với duy
tâm và có tính chất phiếm thần luận (chẵng hạn, Bruno cho rằng Thượng đế và
tự nhiên chỉ là một)
4. Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại thế kỷ
XVII – XVIII
Từ cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, sự phát triển của lực lượng sản xuất
làm cho quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời, mâu thuẫn giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt. Điều đó làm cho những cuộc cách
mạng tư sản bắt đầu ở Hà Lan, sau đến Anh, Pháp, Ý, Áo,v.v Đòn giáng mạnh
nhất vào chế độ phong kiến Tây Âu là cuộc cách mạng tư sản Anh (giữa thế kỷ
XVII) và cách mạng tư sản Pháp (cuối thế kỷ XVIII). Mác nhận định đó là
những cuộc cách mạng có quy mô toàn châu Âu, đánh thắng lợi của trật tự tư
sản mới đối với trật tự phòng kiến cũ.
Thời kỳ này khoa học kỹ thuật cũng phát triển mạnh do nhu cầu của sự phát
triển sản xuất. Thế kỷ XVII – XVIII cơ học phát triển, sau đó thế kỷ XVIII-XIX
vật lý học, hóa học, sinh học, kinh tế học trỗi dậy. Tất cả cái đó làm tiền đề cho sự
phát triển rực rỡ của triết học Tây Âu, với khuynh hướng duy vật chiếm vai trò
Một mặt triết học cổ điển Đức tiếp thu những tư tưởng biện chứng trong
các di sản triết học truyền thống, mặt khác, thành tựu trong các khoa học tự
nhiên gợi ý về sự vận động, phát triển của thế giới, sự liên hệ giữa các sự vật,
hiện tượng v.v nên nó đã xây dựng được phương pháp biện chứng khá hoàn
chỉnh, mặc dù dưới hình thức duy tâm.
Triết học cổ điển Đức có tham vọng hệ thống hóa toàn bộ tri thức và thành
tựu của nhân loại để xây dựng một hệ thống triết học vạn năng, làm nền tảng
cho toàn bộ thế giới quan, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của
các khoa học
Dù còn nhiều hạn chế nhưng triết học cổ điển Đức vẫn là giai đoạn phát triển
rực rỡ, dường như tất cả lịch sử triết học trước đó chỉ là sự chuẩn bị cho sự ra đời
của triết học cổ điển Đức. Vì lẽ đó nó là tiền đề trực tiếp của triết học Mác.
Ra đời và phát triển trong điều kiện thực tiễn lạc hậu, nhưng với năng lực
tinh thần tuyệt vời các triết gia Đức thời kỳ cổ điển đã để lại cho hậu thế những
hệ thống triết học đồ sộ với những nội dung phong phú, sâu sắc.
Mặc dù không tránh khỏi những yếu tố không tưởng, cường điệu, phiến
diện về nhận thức và bảo thủ, cải lương về xã hội, nhưng rõ ràng triết học cổ
điển Đức là một giai đoạn phát triển đặc biệt quan trọng trong triết học trước
Mác với vai trò là một trong những tiền đề lý luận để Mác, Angghen xây dựng
học thuyết triết học của mình.
III. SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VA TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
1. Sự giống nhau
Theo C.Mác đã viết: Để hiểu rõ tư tưởng của một thời đại nào đó thì chúng
ta phải hiểu được điều kiện sinh hoạt vật chất của thời đại đó. Bởi vì, theo
C.Mác, tồn tại xã hội luôn quyết định ý thức xã hội, do đó nó phản ánh tồn tại xã
7
hội – những điều kiện sinh hoạt về vật chất của xã hội. Chính vì thế, các trào lưu
triết học Phương Đông và Phương Tây đều được nảy sinh trên những điều kiện
kinh tế - xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định. Xét trong mối quan hệ giữa cơ
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và
đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về cả
điều kiện tự nhiên, địa lý dân số mà hơn cả là phương thức của sản xuất của
phương Đông là phương thức sản xuất nhỏ còn phương Tây là phương thức sản
xuất của tư bản do vậy mà cái phản ánh ý thức cũng khác như văn hoá phương
Đông mang nặng tính chất cộng đồng còn phương Tây mang tính cá thể.
8
Sự khác biệt căn bản của triết học phương Tây và phương Đông còn được thể
hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất đó là triết học phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong mối
quan hệ giữa con người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc
“thiên nhân hợp nhất”. Cụ thể là: Triết học Trung quốc là nền triết học có truyền
thống lịch sử lâu đời nhất, hình thành cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I
trước công nguyên. Đó là những kho tàng tư tưởng phản ánh lịch sử phát triển
của những quan điểm của nhân dân Trung hoa về tự nhiên, xã hội và quan hệ
con người với thế giới xung quanh, họ coi con người là tiểu vũ trụ trong hệ
thống lớn trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một. Như vậy con người
cũng chứa đựng tất cả những tính chất, những điều huyền bí của vũ trụ bao la.
Từ điều này cho ta thấy hình thành ra các khuynh hướng như: khuynh hướng
duy tâm của Mạnh Tử thì cho rằng vũ trụ, vạn vật đều tồn tại trong ý thức chủ
quan và trong ý niệm đạo đức Trời phú cho con người. Ông đưa ra quan điểm
“vạn vật đều có đầy đủ trong ta”. Ta tự xét mình mà thành thực, thì có cái thú
vui nào lớn hơn nữa. Ông dạy mọi người phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới
khách quan mà chỉ cần suy xét ở trong tâm, “tận tâm” của mình mà thôi. Như
vậy theo ông chỉ cần tĩnh tâm quay lại với chính mình thì mọi sự vật đều yên ổn,
không có gì vui thú hơn. Còn theo Thiện Ung thì cho rằng: vũ trụ trong lòng ta,
lòng ta là vũ trụ. Đối với khuynh hướng duy vật thô sơ - kinh dịch thì biết đến
cùng cái tính của con người thì cũng có thể biết đến cái tính của vạn vật, trời
đất: trời có chín phương, con người có chín khiếu. Ở phương Đông khuynh
hướng duy vật chưa rõ ràng đôi khi còn đan xen với duy tâm, mặc dù nó là kết
tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con người chỉ
được nghiên cứu để giải thích thế giới mà thôi. Cho nên phương Tây bàn đậm
nét về bản thể luận của vũ trụ. Cái khác biệt nữa là ngay trong vấn đề con người
phương Đông cũng quan niệm khác phương Tây: Ở Phương Đông người ta đặt
trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ người với người và đời sống tâm linh, ít quan
tâm đến mặt sinh vật của con người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác
theo lập trường của giai cấp thống trị cho nên nghiên cưú con người không phải
là để giải phóng con người mà là để cai trị con người, không thấy quan hệ giữa
người với người trong lao động sản xuất. Ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến
mặt xã hội của con người, đề cao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người,
chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân
kinh tế – xã hội, cái gốc để giải phóng con người.
Thứ hai, ở phương Đông những tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới dạng
thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác. Cái nọ lấy cái
kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có những triết gia
với những tác phẩm triết học độc lập. Và có những thời kỳ người ta đã lầm
tưởng triết học là khoa học của khoa học như triết học Trung hoa đan xen với
chính trị lý luận, còn triết học Ấn độ lại đan xen tôn giáo với nghệ thuật. Nói
chung ở phương Đông thì triết học thường ẩn dấu đằng sau các khoa học.
Ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một khoa học học độc lập
với các môn khoa học khác mà các khoa học lại thường ẩn dấu đằng sau triết
học. Và thời kỳ Trung cổ là điển hình: khoa học muốn tồn tại phải khoác áo tôn
giáo, phải tự biến mình thành một bộ phận của giáo hội.
Thứ ba, lịch sử triết học phương Đông ít thấy có những bước nhảy vọt về
chất có tính vạch ra ở các thời điểm, mà chỉ là sự phát triển cục bộ, kế tiếp xen
kẽ. Ở Ấn độ, cũng như Trung quốc các trường phái có từ thời cổ đại vẫn giữ
nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIII – V trước công nguyên đến thế
kỷ 19). Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đi
sâu vào từng chi tiết như: Nho tiền tần, Hán nho, Tống nho vẫn trên cơ sở nhân
– lễ – chính danh, nhưng có cải biên về một phương diện nào đó ví như Lễ thời
dùng phạm trù khách thể – chủ thể; con người với tự nhiên, vật chất với ý thức,
tồn tại và tư duy. Còn phương Đông lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình
– thần. Trong đó hình thần là những phạm trù xuất hiện sớm và dùng nhiều nhất.
- Nói về tính chất, sự biến dổi của thế giới: phương Tây dùng thuật ngữ
“biện chứng” siêu hình, thuộc tính, vận động, đứng im nhưng lấy cái đấu tranh
cái động là chính. Đối với phương Đông dùng thuật ngữ động – tĩnh, biến dịch,
vô thường, thường còn, vô ngã và lấy cái thống nhất, lấy cái tĩnh làm gốc là vì
phương Đông triết học được xây dựng trên quan điểm vũ trụ là một, phải mang
tính nhịp điệu.
- Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thì
phương Tây dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ” “quy luật”. Còn phương Đông
dùng thuật ngữ “đạo” “lý” “mệnh” “thần”, cũng xuất phát từ thế giới quan thiên
nhân hợp nhất nên tất cả phải mang tính nhịp điệu, tính quy luật, tính soắn ốc
của vũ trụ như thái cực đến lưỡng nghi Có nhịp điệu là hài hoà âm dương, còn
vũ trụ là tập hợp khổng lồ các soắn ốc
11
Thứ sáu, tuy cả hai dòng triết học phương Đông và phương Tây đều nhằm
giải quyết vấn đề cơ bản của triết học nhưng phương Tây nghiêng nặng về giải
quyết mặt thứ nhất còn mặt thứ hai chỉ giải quyết những vấn đề có liên quan.
Ngược lại ở phương Đông nặng về giải quyết mặt thứ hai cho nên dẫn đến hai
phương pháp tư duy khác nhau.
Phương Tây đi từ cụ thể đến khái quát cho nênlà tư duy tất định – tư duy
vật lý chính xác nhưng lại không gói được cái ngẫu nhiên xuất hiện. Còn
phương Đông đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụ triết học với những cấu
cách ngôn, ngụ ngôn nên không chính xác nhưng lại hiểu cách nào cũng được,
nó gói được cả cái ngẫu nhiên mà ngày nay khoa học gọi là khoa học hỗn mang
– dự báo.
Trên đây là một vài điểm khác biệt căn bản giữa triết học phương Đông và
phương Tây mà chúng ta có thể nhận thấy, ngoài ra chúng còn có nhiều điểm
khác biệt với nhau nữa mà trong thời gian có hạn em có thể chưa tìm ra được.
tư tưởng đang tìm mọi cách để khai thác những yếu tố tích cực của triết học
Phương Đông, để góp phần tạo nên nguồn lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội. Các trào lưu của triết học Phương Tây hiện đại ngày nay phản ánh sâu sắc
những mâu thuẫn khách quan của xã hội tư bản hiện đại. Trong đó chủ nghĩa
duy lý là động lực tạo nên nền văn minh hiện đại, còn chủ nghĩa phi duy lý lấy
nhân tố con người để “tự cai trị” trong một xã hội ngày càng bị duy lí hoá đe doạ
cuộc sống của con người. Hai xu hướng triết học đó lại được tăng cường bởi
triết học tôn giáo. Chúng không hoàn toàn đối lập nhau một cách tuyệt đối mà
dựa vào nhau, bổ sung cho nhau để đáp ứng sự tồn tại và phát triển của con
người trong thế giới Phương Tây hiện đại. Nhưng trong thực tế, xã hội tư bản
hiện đại đã sản sinh ra những cá nhân vị kỷ, tình trạng bạo lực… đe doạ sự bất
ổn trong xã hội. Và hiện nay, các nhà tư tưởng Phương Tây đang quay về nghiên
cứu Phương Đông để học tập cái hay, cái đẹp của Phương Đông, đúng như dự
13
đoán của sử gia người Pháp Y.Michelet: “Người nào đã từng hành động hoặc
ham muốn quá nhiều, hãy uống cạn ly rượu đầy sức sống và tươi trẻ này. Ở
Phương Tây cái gì cũng chật hẹp. Hy Lạp nhỏ bé làm cho tôi ngột ngạt. Xứ Do
Thái khô khan làm cho tôi khó thở. Hãy để cho tôi hướng về Châu Á cao cả và
Phương Đông thâm trầm trong giây lát”.
Là những chủ nhân của đất nước, chúng ta phải có nhiệm vụ nghiên cứu
những giá trị của triết học Phương Đông và Phương Tây, đặc biệt là triết học
Phương Đông. Bởi lẽ chính lịch sử tư tưởng Việt Nam ảnh hưởng khá sâu sắc
những học thuyết triết học Phương Đông như Nho giáo, Phật giáo, Đạo gia.
Những học thuyết đó trong lịch sử đã bị “Việt Nam hoá” và là những thành tố
tạo nên bề dày của bản sắc văn hoá Việt Nam. Để từ đó phát huy nội lực, phát
huy những giá trị truyền thống trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá
đất nước.
Chính vì vậy được học tập, nghiên cứu môn triết học và so sánh sự giống
nhau và khác nhau của lịch sử triết học các nước là điều quan trọng trong mỗi
chúng ta./.